CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về cây cà phê 1. Nguồn gốc và phân loại của cây cà phê Loài cà phê hoang dại (Coffea arabica) khởi nguyên từ Ethipia, được phát hiện lần đầu tiên vào thế kỷ thứ 9. robusta được tìm ra ở Châu Phi, loài này sinh trưởng mạnh, kháng bệnh rỉ sắt và được trồng nhiều vào những năm 1940.
Vào thế kỉ thứ 14 những người buôn nô lệ đã mang cà phê đến Ai Cập và Yemen, và tới thế kỉ thứ 15 thì cây cà phê có mặt tại Amenia, Persia, Thổ Nhĩ Kỳ và phía bắc Châu Phi. Từ thế giới Hồi giáo, cà phê đến Ý sau đó đến Châu Âu, Indonesia và Mĩ. Cuối thế kỷ thứ XVII cây cà phê đã được xác định vị trí, đã có chỗ đứng vững chắc trên thế giới. Cuối thế kỉ 18 cây cà phê đã được trồng ở khắp các xứ sở nhiệt đới, chủ yếu do sự bành trướng thuộc địa của các đế quốc Âu châu.
Ngày nay, cà phê là một trong những thức uống thông dụng toàn cầu (Lê Quang Hưng, 1999). Hiện nay, cây cà phê được trồng tại hơn 80 quốc gia trên thế giới, với tổng diện tích khoảng trên 10 triệu ha. Hạt cà phê được lấy từ hạt của các loài cây thuộc họ cà phê (Rubiaceae). Ba dòng cây cà phê chính là Coffea arabica (Arabica), Coffea canephora (Robusta), Coffea excelsa – với nhiều loại khác nhau.
Ở Việt Nam, cây cà phê do các cha đạo người Pháp mang đến để trồng làm cảnh từ những năm 1857 và được trồng thử năm 1888. Từ năm 1930, cây cà phê bắt đầu được trồng thành những đồn điền để khai thác nhân (Lê Quang Hưng, 1999) 3 Hình 1.1: Cà phê vối Coffea canephora (Robusta) 1. Đặc điểm thực vật học của cây cà phê Cà phê được mô tả đầu tiên dưới tên khoa học là Jasminum arabicanum (A. de Jussie, 1713), trong quá trình nghiên cứu cây cà phê duy nhất ở vườn thực vật Amsterdam.
Đến năm 1737, Linnaeus xếp cà phê vào chi Coffea, mà đầu tiên là loài C. Họ: Rubiaceae Theo Leroy (1980) chi Coffea L. gồm các chi phụ: - Coffea - Psilanthopis (Chev.) Leroy - Baracoffea (Leroy) Leroy. Chi Psilanthopis gồm các chi phụ: - Paracoffea (Miquel) Leroy - Psilanthus.
- Rễ: Cây cà phê có 3 loại rễ: + Rễ cọc: Rễ có độ dài từ 0,3 m – 0,5 m, mọc ra từ thân chính + Rễ nhánh: Là những rễ nhánh mọc ra từ rễ cọc, ăn sâu vào đất để hút nước. Rễ nhánh có thể ăn sâu xuống đất tới 1,2 m – 1,5 m. Các rễ bên mọc từ rễ nhánh phát triển ra xung quanh thành hệ thống rễ con. 4 + Rễ con: Sự phát triển của rễ con phụ thuộc vào độ dày của tầng đất canh tác, giống cà phê, chế độ bón phân, tưới nước, canh tác.
Hệ thống rễ này hầu hết tập trung ở tầng đất mặt (từ 0 cm - 30 cm). - Thân cành: Cây cà phê thân gỗ, phát triển theo một trục chính tạo thành nhiều đốt liên tục, mỗi đốt của thân chính mang một cặp lá. Tùy theo điều kiện sinh trưởng mỗi năm cây cà phê có thể ra 8 - 14 cặp cành mang trái, các cặp cành này là bộ khung cơ bản mang trái và quy định năng suất hàng năm. - Hoa: Hoa cà phê mọc ra ở các chồi nách lá của cành sơ cấp và cành thứ cấp.
Hoa cà phê thường nở về đêm và nở hết khoảng 4 - 5 giờ sáng. Hoa mọc dạng chùm, hoa có màu trắng có từ 5 - 6 cánh, hoa lưỡng tính. Cà phê vối không ra hoa lại ở những đoạn cành hoặc nách lá đã ra hoa năm trước. - Trái: Sau khi thụ phấn, trái phát triển nhanh, thường trái cà phê có 1 - 2 nhân tùy theo giống, lượng nước tưới và chế độ dinh dưỡng.
Từ 120 - 150 ngày sau thụ phấn là giai đoạn hạt đã được hình thành, chủ yếu là nội nhũ. Thời gian sinh trưởng đối với trái cà phê vối thường từ 9 - 11 tháng tuỳ theo điều kiện chăm sóc, trong điều kiện chăm sóc tốt sau nở hoa 30 - 35 tuần trái bắt đầu chín. Đặc điểm phân loại, nguồn gốc và lịch sử phát triển của cây cà phê vối 1. Đặc điểm, phân loại và nguồn gốc Cà phê thuộc chi Coffea họ thiên thảo (Rubiaceae), họ này gồm khoảng 500 chi khác nhau với trên 6.000 loài cây nhiệt đới, chi Coffea có khoảng 100 loài khác nhau.
Các giống cà phê hiện đang trồng đều thuộc chi Coffea, họ Rubiaceae, bộ Rubiales chi Coffea được chia thành 4 nhóm chính là: Paracoffea, Mascarreocoffea, Agrocoffea Pierre và Eucoffea, trong đó chỉ có nhóm Eucoffea mới có thành phần caffein và có ý nghĩa kinh tế, phần lớn các loài cà phê được trồng trọt là thuộc nhóm này. Nhóm Eucoffea được chia thành 5 nhóm phụ: Erythrocoffea, pachycoffea, nanocoffea, melanocoffea và mozambicoffea trong đó chỉ có nhóm phụ đầu là có 2 loài cà phê quan trọng nhất Coffea arabica Liné (cà phê chè) và Coffea canephora Pierre (cà phê vối) đang được trồng phổ biến hiện nay. Dựa theo đặc điểm hình thái học và nông học trong trồng trọt, loài Coffea 5 canephora có 2 nhóm: Coffea canephora var. Robusta: là nhóm cà phê vối được trồng nhiều ở các nước Châu Phi, Indonesia, Ấn Độ, Việt Nam, chiếm tỷ lệ trên 90% tổng diện tích trồng cà phê vối của thế giới.
Đặc trưng của chủng này là cây to khỏe, tán thưa, cành cơ bản khỏe, ít phân cành thứ cấp, tư thế cành xiên lên, lá to, đốt dài, quả hạt to, chín muộn và cho năng suất cao, có khả năng chống chịu tốt với các loại sâu bệnh như tuyến trùng, bệnh gỉ sắt, nhưng khả năng chịu hạn kém. Giống này chủ yếu có nguồn gốc từ Zaire, ngoài ra còn có một vài quần thể ở Bờ Biển Ngà (Robusta Ebobo) và ở Guinea (Robusta Gamé). Coffea canephora var. Kouillou: Thân mọc dạng bụi, cành cơ bản phân nhiều cành thứ cấp và có xu hướng rũ xuống, lá dài và nhỏ, sớm ra hoa, quả hạt nhỏ, chịu hạn khá được tìm thấy ở Bờ Biển Ngà và Congo.
Giống này ít có giá trị kinh tế vì năng suất thấp, dễ nhiễm bệnh. Lịch sử phát triển của cà phê vối * Trên thế giới Cà phê vối (Coffea canephora Pierre) có nguồn gốc ở vùng Trung Phi, phân bố rải rác dưới các tán rừng thưa, thấp thuộc vùng châu thổ sông Congo khoảng giữa 100 vĩ Bắc và 100 vĩ Nam. Mặc dầu cà phê vối mọc hoang dại trong rừng từ Bờ Biển Ngà tới Angola nhưng mãi tới thế kỷ thứ 20 cà phê vối mới được con người trồng ở Tây Phi, sau đó được đưa sang Nam Mỹ và Amsterdam vào năm 1899. Đầu những năm 1900, một số giống Coffea Canephora đã được lan truyền đến đảo Java - Indonesia, sau đó nơi đây đã trở thành trung tâm chọn lọc và nhân giống chính cho đến năm 1930.
Trong thời kỳ này, Java là nơi cung cấp chính các giống Robusta cho Uganda, Congo, Bờ biển Ngà và Brazil Hầu hết các giống Robusta hiện tại được trồng ở Việt Nam được mang về từ Java. Trong những thập kỷ tiếp theo, trung tâm nhân giống đã chuyển sang Congo và Uganda vào những năm 1930 - 1960, Trung Phi và Bờ biển Ngà trong những năm 1960 - 1970. * Tại Việt Nam Sau cà phê chè, đến năm 1908 người Pháp tiếp tục mang hai loại cà phê đến 6 Việt Nam là Robusta (Coffea canephora) và Exelsa (Coffea exelsa). Xuyên suốt đến năm 1986, nhiều khu vực sản xuất cà phê đã phát triển nhưng rất chậm và sản lượng thấp.
Tuy nhiên, đây chính là tiền đề cho sự phát triển vững mạnh của ngành sản xuất cà phê Việt Nam về sau. Đến năm 1930, tổng diện tích cà phê Việt Nam đạt 5.900 ha, riêng cà phê Robusta chỉ có 300 ha, sản xuất cà phê giai đoạn này không thể phát triển nguyên nhân chính do sâu bệnh hại tấn công gây thiệt hại nghiêm trọng trên cà phê chè đặc biệt sâu đục thân (Xylotrechus quadripes) và nấm gỉ sắt (Hemileia vastatrix), còn cà phê vối thì không thể phát triển trong điều kiện giá rét ở miền Bắc. Đến năm 1975, cả nước trên hai miền Nam Bắc mới chỉ có khoảng 13.000 hecta với sản lượng khoảng 6. Và cũng từ sau 1975 ngành cà phê Việt Nam mới đi vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ.
Từ năm 1986, Chính phủ Việt Nam đã tập trung nguồn lực đầu tư vào lĩnh vực cà phê, nhằm mục đích chuyển đổi cà phê thành một ngành nông nghiệp quan trọng. Ngoài các trang trại nhà nước, Chính phủ cũng khuyến khích các hộ gia đình cá nhân trồng cà phê. Do đó, sản xuất cà phê tại Việt Nam đã bùng nổ về diện tích, sản lượng và giá trị xuất khẩu. Vào cuối những năm 1990, Việt Nam trở thành nhà sản xuất cà phê hàng đầu ở Đông Nam Á và sau Brazil, nhà sản xuất và xuất khẩu cà phê xanh thứ hai trên thế giới.
Tuy nhiên, sản xuất chủ yếu tập trung vào hạt Robusta. Trong khi Robusta chiếm 92,9% tổng diện tích trồng cà phê thì các giống Arabica chỉ chịu chiếm không quá 5% tổng sản lượng của Việt Nam. Trong 30 năm (từ 1986 đến năm 2016), sản lượng cà phê tại Việt Nam đã tăng gần 100 lần, từ 18.000 tấn năm 2000 và đạt 1,76 triệu tấn trong năm 2016; trong đó có từ 90% đến 95% sản lượng được xuất khẩu hàng năm. Đến hết tháng 9 năm 2019, cả nước ta có 20 tỉnh trồng cà phê, trong đó nhiều nhất là tỉnh Đắk Lắk với gần 210.000 ha, tỉnh Lâm Đồng đạt > 170.000 ha và tỉnh Đắk Nông khoảng 130.
Tây Nguyên là vùng sản xuất cà phê tập trung chính của cả nước. Việt Nam trở thành quốc gia sản xuất, xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới nhiều năm liền về mặt hàng cà phê vối.1: Diện tích, năng suất và sản lượng cà phê Việt Nam năm 2019 Stt Tỉnh Diện tích (ha) Năng Sản Tổng Trồng mới Kinh doanh suất lượng + KTCB (tạ) (tấn) 1 Kon Tum 20.489 7 Bà Rịa - Vũng 5.777 Tàu 8 Bình Phước 15.936 Nguồn: Cục Trồng Trọt, 2019 [4] 1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cà phê trên thế giới và ở Việt Nam 1. Trên thế giới Trên thế giới có trên 75 quốc gia trồng cà phê, trong đó có 56 quốc gia xuất khẩu cà phê, tập trung chủ yếu ở khu vực Nam Mỹ, châu Phi và châu Á.
Các sản phẩm cà phê được xuất khẩu sang 80 quốc gia, chiếm 14,0% thị phần và 10,4% giá trị cà phê nhân xuất khẩu toàn thế giới. Khoảng 95% lượng cà phê xuất khẩu thế giới dưới dạng cà phê nhân sống. Xuất khẩu các dạng cà phê đã chế biến từ các nước sản xuất cà phê chiếm không quá 5% mà phần lớn là cà phê hòa tan.