Điều Tra Tình Hình Bệnh Gỉ Sắt (Hemileia vastratrix) Và Hiệu Lực Phòng Trừ Trên Cà Phê Vối

Nghiên cứu tình hình bệnh hại trên cây cà phê vối và hiệu quả phòng trừ bệnh gỉ sắt hemilela vartratrix bằng thuốc sinh học tại Đắk Nông.

Chuyên ngành

Bảo vệ thực vật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2023

86
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC HÌNH ẢNH VÀ BIỂU ĐỒ

DANH MỤC BẢNG

LỜI MỞ ĐẦU

0.1. Mục tiêu đề tài

0.2. Mục tiêu tổng quát

0.3. Mục tiêu cụ thể

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan về cây cà phê vối

1.1.1. Sơ lước về cây và phê

1.1.2. Nguồn gốc của cây cà phê vối ở Việt Nam

1.1.3. Đặc điểm sinh vật học của cây

1.2. Tổng quan về thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông

1.3. Tổng quan về thuốc bảo vệ thực vật

1.4. Tổng quan về bệnh gỉ sắt hại cà phê vối

1.4.1. Sơ lược về bệnh gỉ sắt hại cà phê

1.4.2. Triệu chứng của cây bị bệnh gỉ sắt

1.4.3. Tác nhân gây bệnh gỉ sắt cà phê

1.4.4. Cách thức gây bệnh gỉ sắt

1.4.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xâm nhiễm và phát triển của bệnh gỉ sắt cà phê

1.4.6. Thiệt hại do bệnh gỉ sắt

1.4.7. Một số biện pháp phòng trừ bệnh gỉ sắt

1.5. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới

1.5.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

1.5.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu

2.1.2. Phạm vi nghiên cứu

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp kế thừa

2.3.2. Phương pháp điều tra thành phần bệnh hại trên cây cà phê

2.3.3. Phương pháp khảo nghiệm hiệu lực sinh học của thuốc phòng trừ bệnh gỉ sắt (Hemileia vastratrix) trên cây cà phê vối

2.3.4. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Thành phần bệnh hại trên cây cà phê vối tại thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông

3.2. Diễn biến bệnh gây hại chính trên cây cà phê vối tại thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông

3.3. Diễn biến gây hại bệnh gỉ sắt trên cây cà phê vối tại thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông

3.4. Diễn biến gây hại bệnh chết cành cây cà phê vối tại thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông

3.5. Hiệu lực của một số loại thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học phòng trừ bệnh gỉ sắt (Hemileia vastratrix) tại thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông

3.6. Hiệu lực của một số thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học phòng trừ bệnh gỉ sắt (Hemileia vastratrix) tại thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông tỷ lệ bệnh

3.7. Hiệu lực của một số thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học phòng trừ bệnh gỉ sắt hại cà phê tại thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông theo chỉ số bệnh

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUY CHUẨN KỸ THUẬT QUỐC GIA

VỀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA PHÁT HIỆN

DỊCH HẠI CÂY TRỒNG

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Hiệu Lực Phòng Trừ Bệnh Gỉ Sắt Trên Cà Phê Vối Tại Đắk Nông

Nghiên cứu về bệnh gỉ sắt trên cây cà phê vối tại Đắk Nông là một vấn đề cấp thiết. Cà phê vối là cây trồng chủ lực, đóng góp lớn vào nền kinh tế địa phương. Tuy nhiên, bệnh gỉ sắt (Hemileia vastatrix) đang gây ra thiệt hại nghiêm trọng. Việc tìm hiểu hiệu lực của các biện pháp phòng trừ là cần thiết để bảo vệ cây trồng và nâng cao năng suất.

1.1. Tình Hình Bệnh Gỉ Sắt Trên Cà Phê Vối Tại Đắk Nông

Bệnh gỉ sắt là một trong những bệnh hại chính trên cây cà phê vối tại Đắk Nông. Theo báo cáo, tỷ lệ thiệt hại do bệnh này có thể lên đến 30%. Việc phát hiện sớm và áp dụng biện pháp phòng trừ kịp thời là rất quan trọng.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Hiệu Lực Phòng Trừ

Nghiên cứu hiệu lực của các loại thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học giúp xác định phương pháp phòng trừ hiệu quả nhất. Điều này không chỉ bảo vệ cây trồng mà còn đảm bảo an toàn cho môi trường và sức khỏe con người.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Phòng Trừ Bệnh Gỉ Sắt Trên Cà Phê Vối

Bệnh gỉ sắt trên cà phê vối đang gia tăng và gây ra nhiều thách thức cho nông dân. Các yếu tố như khí hậu, độ ẩm và sự phát triển của nấm bệnh đều ảnh hưởng đến sự lây lan của bệnh. Việc tìm ra giải pháp hiệu quả để phòng trừ là rất cần thiết.

2.1. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Sự Phát Triển Của Bệnh

Độ ẩm cao và nhiệt độ thích hợp là điều kiện lý tưởng cho sự phát triển của nấm gỉ sắt. Nông dân cần nắm rõ các yếu tố này để có biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

2.2. Thiệt Hại Do Bệnh Gỉ Sắt Gây Ra

Bệnh gỉ sắt không chỉ làm giảm năng suất mà còn ảnh hưởng đến chất lượng cà phê. Việc rụng lá do bệnh gây ra làm giảm khả năng quang hợp của cây, dẫn đến thiệt hại kinh tế lớn cho nông dân.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Hiệu Lực Phòng Trừ Bệnh Gỉ Sắt Trên Cà Phê Vối

Nghiên cứu sử dụng các phương pháp thử nghiệm hiệu lực của thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học. Các loại thuốc này được áp dụng để đánh giá khả năng phòng trừ bệnh gỉ sắt trên cây cà phê vối tại Đắk Nông.

3.1. Các Loại Thuốc Bảo Vệ Thực Vật Được Sử Dụng

Các loại thuốc như BIOBUS, BIOSUN và NEEM NANO TB đã được thử nghiệm. Những thuốc này có khả năng tiêu diệt nấm bệnh và tăng cường sức đề kháng cho cây.

3.2. Quy Trình Thử Nghiệm Hiệu Lực

Quy trình thử nghiệm bao gồm việc phun thuốc lên cây cà phê vối và theo dõi diễn biến bệnh. Kết quả sẽ được phân tích để đánh giá hiệu quả của từng loại thuốc.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Hiệu Lực Phòng Trừ Bệnh Gỉ Sắt Trên Cà Phê Vối

Kết quả nghiên cứu cho thấy một số loại thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học có hiệu lực cao trong việc phòng trừ bệnh gỉ sắt. Những thuốc này không chỉ giúp giảm tỷ lệ bệnh mà còn bảo vệ cây trồng một cách an toàn.

4.1. Hiệu Quả Của Các Loại Thuốc Được Thử Nghiệm

Kết quả cho thấy thuốc BIOSUN có hiệu quả cao nhất trong việc giảm tỷ lệ bệnh gỉ sắt. Điều này cho thấy tiềm năng của thuốc sinh học trong việc bảo vệ cây cà phê.

4.2. Ứng Dụng Thực Tiễn Từ Nghiên Cứu

Nghiên cứu cung cấp cơ sở để nông dân áp dụng các biện pháp phòng trừ hiệu quả. Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học không chỉ bảo vệ cây trồng mà còn đảm bảo an toàn cho môi trường.

V. Kết Luận Và Tương Lai Của Nghiên Cứu Về Bệnh Gỉ Sắt Trên Cà Phê Vối

Nghiên cứu về bệnh gỉ sắt trên cà phê vối tại Đắk Nông đã chỉ ra rằng việc áp dụng các biện pháp phòng trừ hiệu quả là rất cần thiết. Tương lai của nghiên cứu này sẽ tiếp tục tập trung vào việc phát triển các giải pháp bền vững hơn.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Liên Tục

Nghiên cứu liên tục về bệnh gỉ sắt và các biện pháp phòng trừ sẽ giúp nâng cao năng suất và chất lượng cà phê. Điều này rất quan trọng cho sự phát triển bền vững của ngành cà phê.

5.2. Định Hướng Tương Lai Trong Phòng Trừ Bệnh

Tương lai sẽ tập trung vào việc phát triển các loại thuốc sinh học mới và cải tiến quy trình canh tác. Điều này sẽ giúp nông dân đối phó hiệu quả hơn với bệnh gỉ sắt.

09/07/2025
Điều tra tình hình bệnh hại trên cây cà phê vối và thử nghiệm hiệu lực phòng trừ bệnh gỉ sắt hemilela vartratrix của một số thuốc bvtv có nguồn gốc sinh học tại tp gia nghĩa tỉnh đắk nông

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về cây cà phê vối 1. Sơ lước về cây và phê Tên khoa học: Coffea canephora hay Coffea robusta. Cây cà phê thuộc họ thiên thảo (Rubiaceae) Cà phê là một loại cây lưu niên, thân gỗ nhỏ, cao từ 4 – 20 m tùy theo từng loài và điều kiện sinh sống.

Cây có đặc tính sinh trưởng lưỡng tính hình theo 2 chiều là chiều 4 thẳng đứng và chiều nằm ngang. Những chồi sinh trưởng theo chiều thẳng đứng được gọi là chồi vượt gồm thân chính và các chồi vượt mọc từ thân chính. Những chồi chỉ phát triển theo chiều nằm ngang được gọi là những cành ngang bao gồm những cành ngang cơ bản mọc trên thân chính và các cành ngang thứ cấp mọc từ cành ngang cơ bản trên thân chính, các cành thứ cấp mọc từ cành ngang cơ bản và từ những cành ngang thứ cấp khác (Lương Thành Trung, 1991). Nguồn gốc của cây cà phê vối ở Việt Nam Sau cà phê chè, đến năm 1908 người Pháp tiếp tục mang hai loại cà phê đến Việt Nam là Robusta (Coffea canephora) và Exelsa (Coffea exelsa).

Xuyên suốt đến năm 1986, nhiều khu vực sản xuất cà phê đã phát triển nhưng rất chậm và sản lượng thấp. Tuy nhiên, đây chính là tiền đề cho sự phát triển vững mạnh của ngành sản xuất cà phê Việt Nam về sau. Đến năm 1930, tổng diện tích cà phê Việt Nam đạt 5.900 ha, riêng cà phê Robusta chỉ có 300 ha, sản xuất cà phê giai đoạn này không thể phát triển nguyên nhân chính do sâu bệnh hại tấn công gây thiệt hại nghiêm trọng trên cà phê chè đặc biệt sâu đục thân (Xylotrechus quadripes) và nấm gỉ sắt (Hemileia vastatrix), còn cà phê vối thì không thể phát triển trong điều kiện giá rét 3 ở miền Bắc. Đến năm 1975, cả nước trên hai miền Nam Bắc mới chỉ có khoảng 13.000 hecta với sản lượng khoảng 6.

Và cũng từ sau 1975 ngành cà phê Việt Nam mới đi vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ. Từ năm 1986, Chính phủ Việt Nam đã tập trung nguồn lực đầu tư vào lĩnh vực cà phê, nhằm mục đích chuyển đổi cà phê thành một ngành nông nghiệp quan trọng. Ngoài các trang trại nhà nước, Chính phủ cũng khuyến khích các hộ gia đình cá nhân trồng cà phê. Do đó, sản xuất cà phê tại Việt Nam đã bùng nổ về diện tích, sản lượng và giá trị xuất khẩu.

Vào cuối những năm 1990, Việt Nam trở thành nhà sản xuất cà phê hàng đầu ở Đông Nam Á và sau Brazil, nhà sản xuất và xuất khẩu cà phê xanh thứ hai trên thế giới. Tuy nhiên, sản xuất chủ yếu tập trung vào hạt Robusta. Trong khi Robusta chiếm 92,9% tổng diện tích trồng cà phê thì các giống Arabica chỉ chiếm không quá 5% tổng sản lượng của Việt Nam. Trong 30 năm (từ 1986 đến năm 2016), sản lượng cà phê tại Việt Nam đã tăng gần 100 lần, từ 18.000 tấn năm 2000 và đạt 1,76 triệu tấn trong năm 2016; trong đó có từ 90% đến 95% sản lượng được xuất khẩu 10 hàng năm.

Đến hết tháng 9 năm 2019, cả nước ta có 20 tỉnh trồng cà phê, trong đó nhiều nhất là tỉnh Đắk Lắk với gần 210.000 ha, tỉnh Lâm Đồng đạt khoảng 170.000 ha và tỉnh Đắk Nông khoảng 130. Tây Nguyên là vùng sản xuất cà phê tập trung chính của cả nước. Việt Nam trở thành quốc gia sản xuất, xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới nhiều năm liền về mặt hàng cà phê vối. Đặc điểm sinh vật học của cây Thân: Cây cà phê thuộc loại thân gỗ, phân thành nhiều đốt, mỗi đốt có một cặp lá đối xứng.

Cây cà phê vối tới 10 m. Tuy nhiên ở các trang trại cà phê người ta thường phải cắt tỉa để giữ được độ cao từ 2-4 m, thuận lợi cho việc thu hoạch. Cành: Cây cà phê có cành thon dài. 4 Lá: Lá cà phê hình oval thuôn dài, đuôi lá nhọn, có màu xanh đậm, bóng loáng.

Cuống lá ngắn, mặt trên đậm màu hơn mặt dưới. Thường dài từ 10- 15 cm và rộng 4- 6cm. Rễ: Bộ rễ cây cà phê gồm 1 rễ cọc to khỏe dài từ 30 cm – 100 cm, mọc thẳng sâu xuống mặt đất giúp cây đứng vững và hút nước. Các rễ phụ mọc song song với mặt đất có nhiệm vụ hút dinh dưỡng nuôi cây (Hoàng Thanh Tiệm, 1999) Hình 1.

Cây cà phê (nguồn internet) Hoa cà phê. Hoa cà phê có màu trắng, năm cánh. Hoa thường nở thành chùm đôi hoặc chùm ba. Mùi thơm nhẹ, hoa cà phê thường nở trong vòng 3-4 ngày nhưng thời gian thụ phấn chỉ khoảng 3 tiếng.

Một cây cà phê thường có từ 30. Hoa cà phê (nguồn điều tra) Cây cà phê vối là cây thụ phấn chéo bắt buộc, chính vì vậy việc kích thích hoa nở đồng loạt là một trong những nhiệm vụ cần thiết để giúp cây thụ phấn và thụ tinh tốt. Quả và hạt cà phê. Quả cà phê có hình bầy dục, quả mọc thành chùm, cuống quả ngắn.

Quả có màu xanh khi chín chuyển sang mà đỏ. Nếu chín lâu quả sẽ chuyển dần sang màu đỏ thâm đen. Từ khi thụ phấn đến khi quả già mất từ 7- 9 tháng (cà phê chè) và 9- 10 tháng so với cà phê vối. Quả cà phê khi chín (nguồn internet) Thông thường một quả cà phê thường có hai hạt.

Chúng được bao bọc bởi lớp thịt quả bọc ở bên ngoài. Hai hạt nằm sát vào nhau. Hai mặt nằm sát nhau theo hình phẳng. Còn lớp thịt bên ngoài mọc theo đường vòng cung.

Cấu tạo quả được chia thành nhiều lớp. Từ trong ra ngoài gồm có nhân, vỏ lụa, vỏ hạt, vỏ thịt, vỏ quả và cuống quá. Hạt cà phê Robusta thường có hình bàn cầu tròn, hạt cà phê Arabica có hình dài. Hạt cà phê thường được gọi là nhân, có màu xanh xám, xám xanh hoặc xanh lục… Hạt là một nội nhũ cứng mặt trong phẳng, có rãnh hẹp ở giữa, mặt ngoài cong, chứa một phôi nhũ nằm ở dưới đáy (Đoàn Triệu Nhạn, 1999).

Tổng quan về thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông Vị trí địa lý Thành phố Gia Nghĩa nằm về phía tây nam của khu vực Tây Nguyên và phía nam tỉnh Đắk Nông, nằm trên cao nguyên Mơ Nông và có độ cao trung bình là 600m so với mực nước biển, cách Thành phố Hồ Chí Minh 225 km, cách thành phố Buôn Ma Thuột 120 km, cách thành phố Đà Nẵng 667 km và cách thủ đô Hà Nội 1.400 km, có vị trí địa lý: Phía đông giáp huyện Đắk Glong Phía tây giáp huyện Đắk R'lấp 7 Phía nam giáp huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng Phía bắc giáp huyện Đắk Song. Bản đồ thành phố Gia Nghĩa Thành phố Gia Nghĩa có diện tích 284,11 km², dân số năm 2019 là 63.046 người, mật độ dân số đạt 222 người/km². Thành phố Gia Nghĩa có địa hình phức tạp, bao gồm nhiều dãy đồi núi mấp mô xen kẽ nhiều khe suối tự nhiên lớn, nhỏ tạo thành dạng địa hình bị chia cắt mạnh. Địa hình và thổ nhưỡng Địa hình cao nguyên Nằm ở phía Nam tổ quốc, qua đèo Hải Vân là vùng đất khí hậu nhiệt đới nóng ẩm rất thích hợp cho cây cà phê sinh trưởng và phát triển.

Khí hậu này đặc biệt phù hợp với cây cà phê vối đậm đà vị đắng đặc trưng. Điểm đặc biệt và quan trọng nhất đối với cây cà phê vối đó là độ cao. Cà phê vối phải được trồng ở độ cao 600m – 1500m trên mực nước biển và các vùng cao nguyên tại các tỉnh Tây Nguyên hoàn toàn đáp ứng đủ điều kiện đó. 8 Là loại địa hình chính tại Đăk Nông.

Với độ cao trung bình trên 600 m và độ dốc trên 1500m và loại đất bazan là chủ yếu. Đất đỏ chủ yếu là đất đỏ bazan trên nền đá bazan phong hóa. Là nhóm đất chiếm diện tích lớn thứ hai, khoảng 35% tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh. Tầng dày bình quân 120 cm, phân bổ chủ yếu ở huyện Đăk Mil và huyện Đăk Song.

Đất đỏ bazan là loại đất rất tốt, giàu dinh dưỡng với tính chất cơ lý tốt, kết cấu viên cục độ xốp bình quân 62 – 65%, khả năng giữ nước và hấp thu dinh dưỡng cao… Thích hợp với phát triển cây công nghiệp lâu năm, lâm nghiệp và chăn nuôi đại gia súc. Điều kiện tự nhiên Thành phố Gia Nghĩa có khí hậu nhiệt đới gió mùa với mùa mưa và mùa khô phân biệt rõ rệt. Mùa mưa kéo dài 7 tháng từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Trong đó mùa mưa tổng lượng mưa chiếm 80% lượng mưa cả năm, lượng mưa trình bình năm: 2.513 mm, lượng mưa tháng khô nhất 12,2mm.

Độ ẩm không khí trung bình năm 85%. Độ cao so với mực nước biển trên 600m. Nhiệt độ trung bình năm 22,4°C, nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất 20,1°C, nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất 23,9°C (Giới thiệu về TP Gia Nghĩa 2019). Thủy văn Đắk Nông có mạng lưới sông suối, hồ, đập phân bố tương đối đều khắp.

Đây là điều kiện thuận lợi để khai thác nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng các công trình thủy điện và phục vụ nhu cầu dân sinh. Các sông chính chảy qua địa phận tỉnh gồm: Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình năm 2.513 mm, lượng mưa cao nhất 3. Tháng mưa nhiều nhất vào tháng 8, 9; mưa ít nhất vào tháng 1, 2. Độ bốc hơi mùa khô 14,6-15,7 mm/ngày, mùa mưa 1,5-1,7 mm/ngày.

Chế độ ẩm: Độ ẩm không khí trung bình 85%. Chế độ gió: Hướng gió thịnh hành mùa mưa là Tây Nam, hướng gió thịnh hành mùa khô là Đông Bắc, tốc độ gió bình quân 2,4 -5,4 m/s , hầu như không có bão nên không gây ảnh hưởng đến kinh tế-xã hội. 9 Canh tác và sản xuất cà phê - Thuận lợi + Có điều kiện tự nhiên phù hợp trong việc canh tác cà phê + Có chính quyền địa phương đã dưa ra nhiều chinh sách hỗ trợ canh tác cho bà con nông dân, như hỗ về vốn, hỗ trỡ về giống, kỹ thuật canh tác. - Khó khăn + vì mùa mưa chiếm tổng 80% nên nấm bệnh có điều kiện phát triển 1.

Tổng quan về thuốc bảo vệ thực vật 1. Tổng quan về thuốc bảo vệ thực vật: Thuốc BVTV là những hợp chất độc có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp hóa học dùng để phòng trừ sâu bệnh, cỏ dại, loài gặm nhấm. gây hại cho cây trồng ngoài đồng ruộng, nông sản trong kho bảo quản và được gọi chung là vi sinh vật gây hại trồng và nông sản.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ