Mở đầu bộ sách Tuệ Tĩnh đã phân loại cây thuốc theo hình thái phân loại thành 23 loại thuốc: Loại cỏ hang, loại cỏ dây, loại cỏ nƣớc, loại ngũ cốc, loại chim. Những phần sau Tuệ Tĩnh phân loại theo bệnh tật. Bộ sách gồm 11 quyển, nói tới công dụng của 496 vị thuốc nam. Ở thế kỷ thứ XVII Nguyễn Đạo An trồng và sử dụng cây thuốc nam chữa bệnh cứu ngƣời đƣợc nhân dân gọi là “Đức sƣ”.
Đến thế kỷ XVIII, Đại danh y Lê Hữu Trác đã dày công sƣu tầm và bổ sung 305 vị thuốc nam, thu thập tới 2.854 phƣơng thuốc hay mà các bậc tiền bối đã lƣu truyền trong dân gian. Thời kỳ Pháp thuộc (1884 – 1945), nền y học cổ truyền của Việt Nam chịu nhiều ảnh hƣởng của dƣợc học phƣơng Tây. Các phƣơng thức chữa bệnh mới đƣợc mang đến qua quá trình khai thác thuộc địa, họ đã gián tiếp thúc đẩy quá trình nghiên cứu thực vật của Việt Nam nói chung và nghiên cứu cây thuốc nói riêng. Đặc biệt bộ sách “Thực vật chí đại cƣơng Đông Dƣơng” của Lecomte xuất bản cuối thế kỷ XVIII đầu thể kỷ XIX đã mô tả và phân loại hơn 7.000 loài thực vật.
Đến năm 1952 tác giả tái bản lại cuốn sách, bổ sung và đặt tên mới là “Những cây thuốc của Campuchia, Lào và Việt Nam” gồm 4 tập, 1.050 trang và thống kê khoảng 1.480 loài thực vật. Tuy nhiên, cuốn sách này chƣa hoàn thiện về mô tả, phân bố, thành phần hóa học và dƣợc lý của các loại thảo mộc. 8 Ngay sau khi đất nƣớc đƣợc thống nhất các công trình điều tra nghiên cứu cây thuốc đƣợc thực hiện. Phạm Hoàng Hộ và Nguyễn Văn Dƣơng đã xuất bản bộ sách “Cây cỏ Việt Nam” vào 1980 đã giới thiệu công dụng làm thuốc của nhiều loài thực vật [14].
Năm 1980, Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chƣơng đã giới thiệu 519 loài cây thuốc, trong đó có 150 loài mới phát hiện “Sổ tay cây thuốc Việt Nam” [5]. Năm 1990-1995 trong hội thảo quốc tế lần thứ 2 về Dân tộc sinh học tại Côn Minh - Trung Quốc, Nguyễn Nghĩa Thìn đã giới thiệu lịch sử nghiên cứu về vấn đề dân tộc dƣợc học, giới thiệu 2.136 chi, 234 họ thuộc 6 ngành thực vật có mạch bậc cao Việt Nam đƣợc sử dụng làm thuốc và giới thiệu hơn 1.000 bài thuốc đƣợc thu thập ở Việt Nam. Trần Văn Ơn, trong luận án tiến sĩ của mình đã xác định ở Vƣờn quốc gia Ba Vì có 503 loài cây thuốc đƣợc ngƣời Dao sử dụng để chữa 131 loại bệnh. Cao Thị Hải Xuân nghiên cứu về cây thuốc VQG Cát Bà thì có 443 loài thuộc 335 chi, 118 họ chữa 15 nhóm bệnh khác nhau.
Nhiều cuốn sách có giá trị về tài nguyên cây thuốc đƣợc các nhà khoa học của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam biên soạn. Trong đó, đáng chú ý nhất là những cuốn sách “Tài nguyên thực vật có tinh dầu ở Việt Nam”của tác giả Lã Đình Mỡi và cộng sự (2001-2002) của tác giả trình bày giá trị sử dụng làm thuốc của nhiều loại thự vật có tinh dầu của Việt Nam. Năm 2005, Lã Đình Mỡi và cộng sự giới thiệu tiếp công trình “Những cây chứa các hợp chất có hoạt tính sinh học” đây đƣợc coi là những ghi chép đầu tiên, có hệ thống tƣơng đối hoàn chỉnh về nguồn tài 9 nguyên thực vật có chứa các chất có hoạt tính sinh học đƣợc sử dụng làm thuốc ở nƣớc ta. Trong cuốn Sách Đỏ Việt Nam viết về thực vật: “Sách Đỏ Việt Nam – Phần II - Thực vật” nói lên sự đa dạng của thực vật Việt Nam trong đó có cây thuốc và phản ánh đƣợc mức độ quý hiếm và đe dọa của mỗi loài trong tự nhiên.
[1] Trong những năm qua, nhà nƣớc Việt Nam đã có nhiều chính sách đầu tƣ cho công tác điều tra, nghiên cứu về cây thuốc và kế thừa nền y học cổ truyền, phục vụ cho nhu cầu chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của nhân dân. Các ngành Y tế, Lâm nghiệp và Sinh học đã tiến hành nhiều đợt điều tra cơ bản, đặc biệt là chƣơng trình điều tra nghiên cứu cây thuốc của Viện Dƣợc liệu – Bộ Y tế đã tiến hành trên phạm vi toàn quốc. Đến nay ở nƣớc ta có khoảng 3.948 loài cây thuốc đƣợc ghi nhận, thuộc 307 họ của 9 ngành thực vật bậc cao và bậc thấp, bao gồm cả nấm. Các công trình nghiên cứu về cây thuốc tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sốp Cộp Vấn đề nghiên cứu về tài nguyên thực vật nói chung và tài nguyên cây thuốc nói riêng vẫn chƣa đƣợc chú trọng tại đây.
Theo thống kê sơ bộ ban đầu Khu bảo tồn thiên nhiên Sốp Cộp có khoảng 640 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 429 chi và 138 họ. Trong đó ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp theo là ngành Dƣơng xỉ (Polypodiophyta), và hai ngành còn lại là ngành Thông đất và ngành Thông. Tuy nhiên, chƣa có công trình nào nghiên cứu về hiện trạng tài nguyên cây thuốc tại xã Mƣờng Cai cũng nhƣ tại khu bảo tồn thiên nhiên Sốp Cộp - Sơn La. 10 CHƢƠNG 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.
Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu chung Xác định đƣợc hiện trạng tài nguyên cây thuốc tại khu vực nghiên cứu từ đó đề xuất đƣợc các giải pháp sử dụng bền vững tài nguyên cây thuốc tại đây. Mục tiêu cụ thể - Xác định đƣợc thành phần loài và tình hình sử dụng cây thuốc tại khu vực nghiên cứu. - Đề xuất giải pháp sử dụng bền vững tài nguyên cây thuốc tại khu vực nghiên cứu.
Nội dung nghiên cứu - Đánh giá thành phần loài cây thuốc tại khu vực nghiên cứu. - Đánh giá tình hình sử dụng cây thuốc tại khu vực nghiên cứu. - Đề xuất giải pháp sử dụng bền vững tài nguyên cây thuốc tại khu vực nghiên cứu. Phƣơng pháp nghiên cứu 2.
Phƣơng pháp kế thừa số liệu Kế thừa thu thập các thông tin, tài liệu có liên quan nhƣ điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế xã hội, bản đồ địa hình, các báo cáo nghiên cứu khoa học có liên quan về cây thuốc tại khu vực nghiên cứu, các thông tin từ các cơ quan nhà nƣớc, các nhà khoa học và từ nguồn internet. Công tác chuẩn bị và điều tra sơ thám Trƣớc khi tiến hành điều tra chi tiết cần phải: - Chuẩn bị đầy đủ các giấy tờ (giấy giới thiệu, giấy quyết định khóa luận tốt nghiệp). - Liên hệ trực tiếp với cán bộ quản lý báo cáo xin phép đƣợc đến khu vực để thực địa và xin số liệu tại khu vực nghiên. 11 - Lên kế hoạch điều tra, khảo sát địa hình, chuẩn bị phƣơng tiện, dụng cụ cần thiết, tiến hành thu thập tài liệu liên quan đến công tác nghiên cứu nhƣ: bảng biểu ghi chép, tài liệu nghiên cứu trƣớc đó, các thông tin liên quan đến văn hóa sinh hoạt của ngƣời dân,… - Nắm đƣợc tình hình phân bố chung của thực vật có thể làm thuốc tại khu vực nghiên cứu để từ đó định ra các hƣớng đi đại diện nhất cho các tuyến điều tra.
- Nắm đƣợc tình hình sinh trƣởng, phát triển, phân bố cây thuốc trong khu vực để ƣớc tính khối lƣợng công việc ngoại nghiệp từ đó xây dựng kế hoạch điều tra đồng thời xác định số hộ gia đình cần phỏng vấn. Phƣơng pháp điều tra thành phần loài cây thuốc tại khu vực nghiên cứu 2. Phƣơng pháp điều tra thực địa a. Điều tra phỏng vấn Phỏng vấn ngƣời dân sinh sống xung quanh khu vực nghiên cứu.
Ghi đầy đủ các thông tin vào theo mẫu biểu 01, ghi đầy đủ tất cả các cây thuốc mà ngƣời dân đƣợc phỏng vấn liệt kê, đặc điểm của loài, dạng sống, bộ phận dùng làm thuốc, và nhờ ngƣời dân dẫn đi khu vực có cây thuốc mà ngƣời dân liệt kê (tại vƣờn hoặc khu vực xung quanh nhà), tiến hành nhận mặt cây và xác định tên loài thì ghi tên địa phƣơng, tiến hành thu mẫu và chụp ảnh về giám định lại. Dự kiến phỏng vấn khoảng 30 hộ gia đình đại diện tại xã Mƣờng Cai. Tham khảo ý kiến chuyên gia đối với các mẫu chƣa biết tên Mẫu biểu 01: Biểu điều tra phỏng vấn Ngƣời điều tra:…………………….Ngày điều tra:…………………………………. Họ tên chủ hộ:………………………Tuổi:…………Giới tính:…………………… Dân tộc:………………………………Trình độ văn hóa:………………………….
12 NỘI DUNG PHỎNG VẤN 1. Ông (bà) cho biết đã sử dụng loài cây cỏ nào làm thuốc tại địa phƣơng ………………………………………………………………………………………. Nơi phân bố của loài cây này. Theo ông (bà) lấy bộ phận nào để làm thuốc.
Đối tƣợng sử dụng cây thuốc là ai? Kết quả của ngƣời sử dụng thế nào? ………………………………………………………………………………………. Hiện nay ông (bà) đã gây trồng loài thuốc nào và trông nhƣ thế nào, sự phát triển của loài đó. Tình hình khai thác và chế biến ra sao. Địa phƣơng đã trao đổi, mua bán và sử dụng cây thuốc nhƣ thế nào? ……………………………………………………………………………………….
Cách thức lƣu truyền kinh nghiệm sử dụng cây thuốc. Tên loài địa phƣơng:……………………………………………………. Số hiệu mẫu:……………………………….Số hiệu ảnh…………………………. Điều tra theo tuyến Để thu đƣợc những kết quả đầy đủ, chính xác với mục đích và nội dung chuyên đề trong thời gian quy định, tôi đã chọn phƣơng pháp điều tra theo tuyến, mở các tuyến điều tra qua các dạng sinh cảnh chủ yếu và đặc trƣng của khu vực.
Tùy theo điều kiện tự nhiên, các dạng địa hình khác nhau mà lập các tuyến có chiều dài khác nhau. Tất cả các loài bắt gặp trên tuyến đều thu mẫu và chụp ảnh. Nghiên cứu điều tra trên 4 tuyến chính: Tuyến điều tra số 01: Từ bản Huổi Mƣơi, nƣơng rẫy, khe suối, rừng thứ sinh, nƣơng rẫy, quả đồi trồng Sắn, rừng tái sinh, quay lại bản Huổi Mƣơi. 13 Tuyến điều tra số 02: Từ bản Huổi Mƣơi, nƣơng rẫy, rừng thuần loài Tre, bản Nà Kham, nƣơng rẫy, trảng cây bụi, đồi cỏ, ven suối, đồi cỏ, rừng thứ sinh, trảng cây bụi, đồi trồng Nhãn, bản Mới, rừng thứ sinh, trảng cây bụi, nƣơng rẫy, ven suối, ven nƣơng rẫy.
Tuyến điều tra số 03: Từ bản Huổi Mƣơi, nƣơng rẫy, đồi Sắn,rừng thứ sinh nghèo, bản Co Bay,trảng cây bụi, nƣơng rẫy, rừng có cây gỗ tái sinh, bản Huổi Hƣa. Tuyến điều tra số 04: Điều tra phỏng vấn ngƣời dân ở bản Huổi Mƣơi, bản Nà Kham, bản Huổi Hƣa, bản Mới, bản Co Bay. Kết quả điều tra đƣợc ghi vào mẫu biểu 02. Mẫu biểu 02: Biểu điều tra theo tuyến Số hiệu tuyến:………….
Ngày điều tra:……………… Ngƣời điều tra:…………. Tọa độ đầu tuyến:………………………………….Tọa độ cuối tuyến:…………. Chiều dài tuyến:…………………………………….Chiều rộng tuyến:…………. Tên Dạng Sinh Bộ phận sử dụng Công Tên địa TT loài sống cảnh Thân Lá Rễ Hoa Quả Củ dụng phƣơng 2.