ĐẶT VẤN ĐỀ Từ bao đời nay, con ngƣời đã biết sử dụng các loài thực vật cho rất nhiều những mục đích khác nhau phục vụ cho chính cuộc sống nhƣ làm nhà, làm lƣơng thực thực phẩm…và không thể không kể đến giá trị làm thuốc. Cây thuốc là nguồn tài nguyên thực vật đƣợc loài ngƣời sử dụng từ rất sớm. Hơn 60000 năm trƣớc đây, ngƣời Neanderthal cổ tại Iraq đã sử dụng các loài cây cổ nhƣ Cỏ thi, Cúc bạc để chữa bệnh. Từ thời cổ La Mã dùng dịch cây Lô hội để rửa vết thƣơng, chữa liền sẹo,…Có thể thấy đƣợc cây thuốc đã gắn liền với cuộc sống loài ngƣời từ thuở sơ khai cho vấn đề sức khỏe.
Những năm trƣớc khi nền khoa học chƣa phát triển con ngƣời dựa hoàn toàn vào vị thuốc từ tự nhiên. Việc sử dụng cây trị bệnh đã trở thành xu thế cả trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Trải qua các thế hệ, con ngƣời biết tổng hợp, đúc rút ra những phƣơng thức, những bài thuốc, phƣơng pháp khai thác, chế biến, bảo quản, sử dụng sao cho thật hợp lý. Tuy nhiên, do phong tục tập quán của mỗi vùng, mỗi dân tộc khác nhau nên việc chữa bệnh bằng thảo dƣợc đƣợc lƣu truyền ở quy mô nhỏ.
Nếu chúng ta không có giải pháp gìn giữ những bài thuốc thì những kiến thức, kinh nghiệm đó sẽ dần mai một. Việc sƣu tầm cây thuốc, các loài thuốc quý để xác định đƣợc hiện trạng tài nguyên cây thuốc là rất cần thiết. Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, nền kinh tế thị trƣờng, nhu cầu nâng cao đời sống, khai thác cây thuốc đã trở thành hoạt động kinh tế ở một số khu vực. Nhiều loài cây thuốc đã bị khai thác rất nhiều trong những năm qua, khai thác với số lƣợng lớn, một số loài bị khai thác triệt để đã trở nên quý hiếm hoặc có nguy cơ tuyệt chủng ngoài tự nhiên nhƣ Valeriana jatamansi, Berberis wallichiana, Coptis spp, Ardisia sylvestris,…Bên cạnh đó không gian, môi trƣờng sống cũng bị ảnh hƣởng bởi đô thi hóa, ô nhiễm, mất rừng.
Khu vực xã Lục Dạ thuộc vùng đệm vƣờn quốc gia Pù Mát tỉnh Nghệ An đƣợc đánh giá là nơi có nhiều điều kiện thuận lợi cho sự sinh trƣởng và phát triển của các loài thực vật; nguồn tài nguyên cây thuốc phong phú và đa dạng. 1 Và ở đây chủ yếu là ngƣời dân tộc Thái, họ sống lâu năm cùng với những kinh nghiệm sử dụng cây thuốc trong chữa bệnh vẫn đƣợc lƣu truyền và phát triển cho đến nay. Nhận thấy việc nghiên cứu, điều tra về tình hình cây thuốc tại Lục Dạ là việc làm cần thiết, góp phần đánh giá rõ hiện trạng, tiềm năng của địa phƣơng nhằm nâng cao công tác bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững tài nguyên cây thuốc. Do vậy, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng tài nguyên cây thuốc tại xã Lục Dạ - vùng đệm Vƣờn quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An”.
2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu cây thuốc trên thế giới: Từ khi con ngƣời ra đời, loài ngƣời đã biết sống dựa vào rừng để sống. Không chỉ lấy ra từ rừng lƣơng thực, thực phẩm mà còn biết sử dụng cây rừng làm rau, nấu nƣớc uống và lấy cây thuốc chữa bệnh. Cây thuốc là một trong những thực vật có vai trò đặc biệt quan trọng đối với đời sống; vì vậy con ngƣời ở trên thế giới đã khai thác và sử dụng những cây có ích từ rất sớm.
Trải qua nhiều thế kỷ, cộng đồng ngƣời trên khắp thế giới đã phát triển những phƣơng thuốc cổ truyền của họ, phát huy những tác dụng của các loài cây thuốc. Các kinh nghiệm sử dụng cây thuốc ở mỗi quốc gia khác nhau tùy vào sự phát triển của mỗi nƣớc. Và từ đó, mỗi châu lục, mỗi vùng, mỗi khu vực đều hình thành nên nền Y học cổ truyền đặc trƣng. Nghiên cứu lịch sử dùng các cây thuốc của các dân tộc và vùng lãnh thổ đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đƣa ra nhiều bằng chứng các thực.
Trong cuốn Lịch sử niên đại cây cỏ ấn hành năm 1878, Charles Pickering đã chỉ rõ: ngay từ năm 4271 trƣớc Công nguyên ngƣời dân khu vực Trung Cận Đông đã sử dụng nhiều loài cây (sung, vả, cau, dừa…) để làm lƣơng thực và chữa bệnh [21]. Dựa trên các bằng chứng khảo cổ, Borisova B. (1960) chỉ ra rằng, vào khoảng 5000 trƣớc CN cây thuốc đã đƣợc sử dụng rộng rãi và vì vậy là mục tiêu chiếm đoạt (cùng với phụ nữ, các cây lƣơng thực, cây có hoa đẹp) trong các cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc. Nhƣ vậy, tầm quan trọng của các loài cây làm thuốc đƣợc loài ngƣời nhận thức rất sớm; việc thu thập, nhập nội các giống cây thuốc quý đƣợc thực hiện ngay từ thời Cổ đại và đƣợc thực hiện bởi các chiến binh [4].
Ban đầu những hiểu biết về cây thuốc rất đơn giản, họ truyền miệng cho con cháu, ghi chép và dần dần đƣợc truyền đạt và phát triển mãi về sau. Cho đến nay nhiều tài liệu quý ghi chép kinh nghiệm sử dụng của ngƣời xƣa vẫn còn lƣu truyền tại Trung Quốc, quốc gia có truyền thống lâu đời trong việc sử dụng cây cỏ để chữa trị bệnh. Trong tập Thần nông bản thảo chỉ rõ khoảng 5000 năm trƣớc đây ngƣời Trung Hoa Cổ đại đã sử dụng 365 vị thuốc 3 và cây thuốc đề phòng và chữa bệnh. Vào đời nhà Hán (năm 168 trƣớc CN) trong cuốn sách Thủ hậu cấp phương, tác giả đã thống kê 52 đơn thuốc trị bệnh từ các loài cây cỏ.
Tới giữa thế kỷ XVI, Lý Thời Trân thống kê 1200 vị thuốc trong tập Bản thảo cương mục [11]. Dƣợc thảo của Châu Âu rất đa dạng và phần lớn dựa trên nền tảng của y học truyền thống cổ điển. Ngƣời đầu tiên phải kể đến là Galen (131-200 SCN), một thầy thuốc của Hoàng đế La Mã Marcus Aurelius, có ảnh hƣởng sâu sắc đến sự phát triển của các vị thuốc bào chế từ thảo mộc. Ông đã viết hàng trăm cuốn sách và áp dụng trong ngành Y châu Âu hơn 1500 năm.
Các nhà thực vật ngƣời Pháp đƣợc coi là những ngƣời đầu tiên của Châu Âu nghiên cứu về thực vật Đông Nam Á, với họ sau những cánh rừng nhiệt đới còn tiềm ẩn rất nhiều giá trị. Vào những năm đầu thế kỷ XX, trong chƣơng trình nghiên cứu về thực vật Đông Dƣơng Perry công bố 100 loài cây và dƣợc liệu tại Đông Nam Á đã đƣợc kiểm chứng và năm 1985 tổng hợp thành cuốn sách Medicinal Plants of East and Southeast Asia [24, 25]. Theo những tài liệu ghi chép của ngƣời Ai Cập cổ đại cách đây khoảng 3600 năm trƣớc với 800 cây thuốc và trên 700 bài thuốc. Cách đây 2000 năm, ngƣời Ấn Độ cổ đại để lại tài liệu về công dụng của cây cỏ làm thuốc của ngƣời Hindu [4].
Hiện nay ƣớc tính trên thế giới có từ 30000 đến 40000 loài cây đƣợc dùng làm dƣợc liệu theo phƣơng pháp truyền thống và hiện đại (TRAFFIC Bulletin 3, 2006). Điều tra, đánh giá nguồn tài nguyên cây thuốc đƣợc coi là nhiệm vụ trọng tâm của tất cả các quốc gia. Hầu hết các quốc gia đã biên soạn các chuyên khảo về cây thuốc trên quy mô toàn quốc hoặc vùng lãnh thổ. Nhiều công trình nghiên cứu cây thuốc của các nƣớc đƣợc sử dụng rộng rãi và có giá trị khoa học thực tiễn lớn (Trung quốc dƣợc dụng thực vật, Medicinal Plants of Brunei Darusalam, American medicinal plants…).
Theo một hƣớng khác, nghiên cứu cây thuốc trên thế giới đƣợc tập trung theo các mục đích ứng dụng cụ thể. Nhiều công trình theo hƣớng này đã đƣợc 4 công bố những năm gần đây: các cây chữa bệnh ung thƣ, các cây chữa bệnh tiểu đƣờng. [4, 12] Nhận thức rõ giá trị chữa bệnh của các cây thuốc chính là các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học chứa trong nguyên liệu, vì vậy nghiên cứu cây thuốc theo các nhóm hợp chất đƣợc tiến hành và đã thu đƣợc nhiều kết quả tốt. Tuy nhiên hƣớng nghiên cứu này đòi hỏi kinh phí lớn phải trang thiết bị hiện đại và đội ngũ chuyên gia có trình độ cao.
Do đó đây là các nghiên cứu đƣợc triển khai ở các nƣớc phát triển và một số nƣớc đang phát triển. Các cây thuốc chứa các nhóm hoạt chất ancadiot, flavonoit, cumarin hiện đang đƣợc quan tâm nhiều [13, 14] Nghiên cứu tác dụng chữa bệnh của từng loại cây thuốc và bản chất hóa học của dƣợc liệu đƣợc quan tâm trên quy mô rộng lớn. Nhiều nghiên cứu đã khẳng định hầu hết các cây cỏ đều có tính kháng sinh là một trong những yếu tố miễn dịch tự nhiên. Tác dụng kháng khuẩn là do các hợp chất tự nhiên hay gặp: Sulfua, saponin (Allium odorum); becberin (Coptis chinensis Franch); tanin (Zizyphus jujuba Miller).
Mỗi loài cây mới từng công năng tác dụng phải ở mỗi địa phƣơng lại đƣợc sử dụng riêng theo một bản sắc dân tộc [13, 14, 24, 25]. Chúng ta vẫn coi Hoa hồng (Rosa spp.) là loài hoa biểu tƣợng cho sắc đẹp và tình yêu; quê hƣơng của chúng tại đất nƣớc Bulgary lại coi đây là một loại cây thuốc. Ngƣời Bulgary dùng cả hoa, lá, rễ để làm thuốc tan ứ huyết ở và bệnh phù thũng. Ngày nay phải nhiều nghiên cứu cho thấy trong cánh hoa hồng có chứa một lƣợng tanin, glycoosid, tinh dầu.
Lƣợng tinh dầu này ngoài việc dùng làm hƣơng liệu còn có khả năng chữa nhiều bệnh [4]. Ngƣời Ấn Độ dùng lá cây Ba chẽ (Desmdium triangulare (Retz.) sao vàng sắp đặt để chữa kiết lỵ, tiêu chảy. Bồ cu vẽ muốn là loài mọc hoang dại khá phổ biến ở Việt Nam; ít ai biết rằng nó có nhiều công dụng trong chữa bệnh. Ngƣời Philippine dùng vỏ cây này sắc uống cầm máu rất hiệu quả, tán bột rắc lên mụn nhọt lở loét.
Ngƣời dân Malaysia lấy cây húng chanh (Coleus amboinicus Lour.) sắc lấy nƣớc cho sản phụ uống; chống trị các chứng ho gà, đau cổ họng, sổ mũi ở trẻ em. Chữa bệnh bằng cây cỏ đang dần trở thành xu 5 hƣớng của thế giới trong khoảng 30 năm gần đây viện ung thƣ Hoa Kỳ(NCI) đã điều tra nghiên cứu sàng lọc hơn 40.000 mẫu cây thuốc, phát hiện hàng trăm loài cây thuốc có khả năng trị ung thƣ. 25% đơn thuốc ở Mỹ có sử dụng những chế phẩm có dƣợc tính mạng đƣợc điều chế từ một loài hồng hoa (Catharanthus roseus) đặc biệt của Madagasca, dùng rất tốt cho việc chữa bệnh máu trắng và các bệnh ung thƣ khác. Các nhà khoa học cho biết sử dụng chế phẩm này để điều trị bệnh máu trắng cho trẻ em đã làm tăng tỷ lệ sống của trẻ từ 10 đến 90%.