mở đầu cho thời kỳ nghiêncứu hệ thực vật.I cho rằng “Chỉ cần điều tra trên một diện tích đủlớn để có thể bao trùm được sự phong phú của nơi sống nhưng không có sự phân hóa về mặt địa lý”. Ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể.I đã đưa ra một nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường xanh là 1500-2000 loài. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Engler (1882) đưa ra con số thống kê cho thấy số loài thực vật Thế giới là 275.000 loài, trong đó thực vật có hoa có 155.000 loài, thực vật không có hoa có 30. Riêng thực vật có hoa trên Thế giới, Van lop(1940) đưa ra con số 200.000 loài, Grosgayem (1949) là 300.
Hai vùng giàu có nhất thế giới là Brazil 40.000 loài và quần đảo Malaixia 45.000 loài, 800 chi, 120 họ trong khi đó ở Trung Trung Hoa có 2.900 loài, 936 chi, 155 họ (Dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2008). Takhtajan Viện sỹ thực vật, Acmenia đã có những đóng góp lớn cho khoa học phân loại thực vật. Trong cuốn “Diversity and Classifcation of Flowering Plant” (1977), đã thống kê và phân chia toàn bộ thực vật Hạt kín trên thế giới khoảng 260.000 loài, vào khoảng 13.500 chi, 591 họ, 232 bộ thuộc 16 phân lớp và 2 lớp. Trong đó Lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae) gồm 11 phân lớp, 175 bộ, 45) 8 họ, 10.500 chi; không dưới 195.000 loài vào Lớp Một lá mầm (Monocotyledoneae) gồm 6 phân lớp, 57 bộ, 133 họ, trên 3000 chi và khoảng 65.
Brummit (1992) chuyên gia của Phòng Bảo Tàng Thực Vật Hoàng Gia Anh, trong cuốn “Vascular plant families and genera” đã thống kê tiêu bản thực vật cao có mạch trên thế giới vào 511 họ, 13.884 chi, 6 ngành là, Khuyết lá thông (Plilotophyta), Thông đá (Lycopodiophyta), Cỏ tháp bút (Equisetophyta), Dương xỉ (Polypodiophyta), Hạt trần (Gymnospermae) và Hạt kín (Angiospermae). Trong đó ngành Hạt kín (Angiospermae) có 13.477 họ, 454 chi và được chia ra hai lớp là, Lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae) bao gồm 10.715 chi, 357 họ và Lớp Một lá mầm (Monocotyledoneae) bao gồm 2. Theo Phạm Hoàng Hộ (1992 - 2003), hệ thực vật trên Thế giới như sau, Pháp có khoảng 4.800 loài, châu Âu 11.000 loài, Ấn Độ có khoảng 12.000 loài, Malaysia và Indonesia có khoảng 25. Lê Trần Chấn và cộng sự (1999), đưa ra con số về số lượng loài thực vật ở các vùng như sau, vùng hàn đới (đất mới,208 loài), vùng ôn đới (Litva,1.439 loài), cận nhiệt đới (Palextin,2.334 loài), vùng nhiệt đới ẩm và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 nhiệt đới gió mùa (Philippin 8.099 loài, Bắc Việt Nam 5.
Trong phạm vi bắc bán cầu, tỷ lệ 10 họ giàu loài nhất của hệ thực vật giảm dần từ vùng bắc cực đến vùng xích đạo(từ gần 75% đến khoảng 40%). Trong khi đó số họ chiếm vị trí nổi bật trong 10 họ giàu loài nhất tăng dần từ vùng nhiệt đới (10%) đến vùng ôn đới, nhất là hàn đới. Sau khi học thuyết tiến hóa của S. Darwin ra đời các cơ sở lý luận của địa lýthực vật cũng được hình thành và phát triển.
Sau đó, trong nửa sau thế kỷ XIX có nhiều công trình nghiên cứu địa lý thực vật xuất hiện và phát triển theo các xu hướng chính, đánh giá số lượng thực vật, phân vùng địa lý thực vật. Về xác định yếu tố địa lý của từng loài có các tác giả như: Aliochin (1961), Schmidthusen (1976), Pócs Tamás (1965), Takhtajan (1978), K. Xác định các loài đặc hữu là vấn đề cũng rất quan trọng khi phân tích đặc trưng phân bố địa lý của hệ thực vật. đặc hữu là những loài chỉ phân bố ở một vùng (miền, địa phương.) duy nhất trên trái đất, không thể phát hiện ở bất kỳ nơi nào khác.
Rõ ràng là với cách hiểu này khi xác định tính đặc hữu chỉ cần quan tâm đến không gian phân bố hiện tại của loài này hoặc loài kia, chứ không cần biết nguồn gốc phát sinh của chúng. Nó khác với việc phân tích hệ thực vật về mặt di truyền là để xác định nguồn gốc phát sinh, từ đó khẳng định đây là loài bản địa hoặc di cư. Nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam Nghiên cứu về hệ thực vật rừng là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong công tác nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học. Việt Nam là một trong những trung tâm đa dạng sinh học lớn nhất của thế giới và đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước tiến hành nghiên cứu.
Việc nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam đã có từ lâu. Tuệ Tĩnh (1417) trong cuốn “Nam dược thần hiệu” đã mô tả tới 579 loài cây làm thuốc.Tới thế kỷ 18, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã xuất bản bộ sách LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 lớn thứ hai “Y tông Tâm tĩnh”. Bộ sách gồm 28 tập, 66 quyển đã mô tả khá chi tiết về thực vật, các đặc tính chữa bệnh. Song việc điều tra nghiên cứu thực vật có tính quy mô lớn ở Việt Nam mới chỉ bắt đầu vào thời Pháp thuộc.
Trước hết phải kể đến các công trình,“Thực vật chí Nam bộ” của Leureir, “Thực vật chí rừng Nam bộ” của các tác giả Piere L. Một trong các công trình lớn nhất về quy mô cũng như giá trị là công trình nghiên cứu hệ thực vật Đông Dương của các tác giả pháp Lecomte et al., kết quả của nghiên cứu này là bộ “Thực vật chí đại cương Đông Dương”, theo Lecomte thì Đông Dương có hơn 7000 loài. Đây là bộ sách có giá trị và ý nghĩa lớn với các nhà Thực vật học, những người nghiên cứu thực vật Đông Dương nói chung và hệ thực vật Việt Nam nói riêng. Năm 1969, Phan Kế Lộc đã thống kê và bổ sung số loài ở miền Bắc Việt Nam lên 5.069 loài thực vật Hạt kín và 540 loài thuộc các ngành còn lại.
Trên cơ sở bộ Thực vật chí Đông Dương, Thái Văn Trừng (1978) trong công trình “Thảm thực vật rừng Việt Nam” đã thống kê ở khu hệ thực vật Việt Nam có 7004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1850 chi và 289 họ. Thái Văn Trừng đã khẳng định ưu thế của ngành Hạt kín trong hệ thực vật Việt Nam với 6336 loài (chiếm 90,9%), 1727 chi (chiếm 93,4%) và 239 họ (chiếm 82,7%). Đáng chú ý nhất là bộ “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1991- 1993) xuất bản tại Canada, bao gồm 3 tập (6 quyển), đã thống kê mô tả được 10419 loài thực vật bậc cao có mạch ở Việt Nam. Trong hai năm 1999-2000, ông đã chỉnh lý, bổ sung và tái bản lại tại Việt Nam.
Bộ sách gồm 3 quyển, đã thống kêmô tả kèm hình vẽ của 11611 loài thuộc 3179 chi, 295 họ và 6 ngành. Năm 1997, Nguyễn Nghĩa Thìn cho xuất bản cuốn “Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật” đưa ra các thông tin về tình hình đa dạng sinh học trên thế giới và Việt Nam. Ngoài ra tác giả đã thống kê được ở Việt Nam có 10.580 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 2.342 chi, 334 họ, 6 ngành. Trong đó ngành Hạt kín có 9.175 chi và 296 họ.
Năm 1998, Nguyễn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Nghĩa Thìn và Nguyễn Thị Thời cho xuất bản cuốn “Đa dạng thực vật vùng núi cao Sa Pa - Phan Si Păng”, đã thống kê được 2.024 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 771 chi, 200 họ và 6 ngành. Năm 1999, trong cuốn “Một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Việt Nam”, Lê Trần Chấn đã thống kê được ở Việt Nam có 10.298 chi và 285 họ thuộc 7 ngành thực vật bậc cao có mạch. Trong đó, ngành Khuyết lá thông (Psilotophyta) có 1 loài, 1 chi, 1 họ, ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta) có 2 loài, 1 chi, 1 họ, ngành Dương xỉ (Potypodiophyta) có 632 loài, 138 chi, 28 họ, ngành Hạt trần (Gymnospermae) có 52 loài, 22 chi, 8 họ, ngành Hạt kín có 9. Giai đoạn 2001- 2005, Nguyễn Tiến Bân và tập thể các tác giảthuộc Trung tâm Nghiên cứu tài nguyên và Môi trường- Đại học Quốc gia Hà Nội và Viện hàn lâm khoa học công nghệ quốc gia (2001, 2003, 2005, tập 1-3) trên cơ sở tập hợp các mẫu tiêu bản thực vật cùng với các mẫu tiêu bản đã có, đã xuất bản bộ “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” gồm 3 tập.
Bộ sách đã thống kê được đầy đủ nhất các loài thực vật có ở Việt Nam với tên khoa học cập nhật nhất. Trong tài liệu này, đã công bố 11.238 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 2. Trong đó ngành Khuyết lá thông (Psilotophyta) có 1 loài, 1 chi, 1 họ; ngành Thông đất (Lycopodiophyta) có 35 loài, 5 chi, 3 họ; ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta) có 2 loài, 1 chi, 1 họ; ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) có 696 loài, 136 chi, 29 họ; ngành Hạt trần (Gymnospermae) có 69 loài, 22 chi, 9 họ; ngành Hạt kín (Angiospermae) có 10. Gần đây, Theo báo cáo quốc gia về đa dạng sinh học (2011) Việt Nam là một trong những quốc gia có đa dạng sinh học cao về các loài thực vật.
Tính đến năm 2011 đã ghi nhận được 13.766 loài thực vật (2.393 loài thực vật bậc thấp và 11.373 loài thực vật bậc cao có mạch). Đối với các vườn quốc gia có nhiều công trình nghiên cứuvề tính đa dạng hệ thực vật,Danh lục thực vật VQG Cát tiên đã được Trần Văn Mùi (2004) thống kê được 1.610 loài thực vật bậc cao có mạch của 78 bộ, 162 họ, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ngô Tiến Dũng và cộng sự (2005), đã thống kê được 565 loài có ích trong tổng số 854 loài thực vật của VQG Yok Đôn. Trong đó nhóm tài nguyên cây lấy gỗ có 158 loài chiếm 18,5% tổng số loài trong toàn hệ.
Nguyễn Quốc Trị (2006), xây dựng bảng danh lục thực vật của VQG Hoàng Liên gồm 2.432 loài thuộc 898 chi, 209 họ, 6 ngành. Trần Minh Tuấn, 2014, khi nghiên cứu về hệ thực vật VQG Ba Vì đã xác định VQG có 2181 loài thực vật thuộc 6 ngành thực vật; Đinh Thị Hoa, 2016, trong nghiên cứu “Đa dạng thực vật khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha” đã thống kê khu vực nghiên cứu có 1068 loài thuộc 5 ngành thực vật. Nghiên cứu về yếu tố địa lý thực vật Pocs Tamas (1965) đã phân tích và sắp xếp các loài thực vật ở Bắc Việt Nam có 5.