Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu xây dựng hệ thống kiểm kê khí nhà kính trong chăn nuôi gia súc

Luận văn thạc sĩ HUS nghiên cứu xây dựng hệ thống kiểm kê khí nhà kính trong chăn nuôi gia súc và đề xuất giải pháp quản lý hiệu quả.

Chuyên ngành

Khoa Học Môi Trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2015

89
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về hệ thống kiểm kê khí nhà kính trong chăn nuôi gia súc

Hệ thống kiểm kê khí nhà kính (KNK) trong chăn nuôi gia súc là một phần quan trọng trong việc quản lý phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính. Việc xây dựng hệ thống này không chỉ giúp theo dõi lượng phát thải mà còn hỗ trợ các chính sách bảo vệ môi trường. Hệ thống kiểm kê KNK cần được thiết lập một cách đồng bộ và hiệu quả để đáp ứng yêu cầu của các tổ chức quốc tế và chính phủ.

1.1. Khái niệm về khí nhà kính và chăn nuôi gia súc

Khí nhà kính là những khí có khả năng giữ nhiệt trong khí quyển, gây ra hiện tượng nóng lên toàn cầu. Trong chăn nuôi gia súc, các khí như CO2, CH4 và N2O được phát thải chủ yếu từ quá trình tiêu hóa và quản lý chất thải. Việc hiểu rõ về các loại khí này là cần thiết để xây dựng hệ thống kiểm kê hiệu quả.

1.2. Tầm quan trọng của hệ thống kiểm kê khí nhà kính

Hệ thống kiểm kê khí nhà kính giúp xác định nguồn phát thải, từ đó đưa ra các biện pháp giảm thiểu hiệu quả. Nó cũng hỗ trợ trong việc thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính, góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

II. Vấn đề và thách thức trong kiểm kê khí nhà kính

Việc kiểm kê khí nhà kính trong chăn nuôi gia súc gặp nhiều thách thức, bao gồm thiếu dữ liệu chính xác, khó khăn trong việc tính toán phát thải và sự thiếu đồng bộ trong các quy định pháp lý. Những vấn đề này cần được giải quyết để nâng cao hiệu quả của hệ thống kiểm kê.

2.1. Thiếu dữ liệu và thông tin

Một trong những thách thức lớn nhất trong việc kiểm kê khí nhà kính là thiếu dữ liệu chính xác về số lượng gia súc và quy trình chăn nuôi. Điều này dẫn đến việc ước lượng phát thải không chính xác, ảnh hưởng đến các chính sách quản lý.

2.2. Khó khăn trong tính toán phát thải

Tính toán phát thải khí nhà kính từ chăn nuôi gia súc là một quá trình phức tạp, đòi hỏi nhiều phương pháp và công thức khác nhau. Việc áp dụng các phương pháp này cần phải được chuẩn hóa để đảm bảo tính chính xác và nhất quán.

III. Phương pháp xây dựng hệ thống kiểm kê khí nhà kính hiệu quả

Để xây dựng hệ thống kiểm kê khí nhà kính hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp khoa học và công nghệ hiện đại. Việc kết hợp giữa các phương pháp truyền thống và công nghệ mới sẽ giúp nâng cao độ chính xác và hiệu quả của hệ thống.

3.1. Phương pháp điều tra xã hội học

Phương pháp điều tra xã hội học giúp thu thập thông tin từ các hộ chăn nuôi về quy trình sản xuất và quản lý chất thải. Dữ liệu thu thập được sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình phát thải khí nhà kính trong chăn nuôi.

3.2. Sử dụng công nghệ thông tin trong kiểm kê

Công nghệ thông tin có thể được áp dụng để thu thập, lưu trữ và phân tích dữ liệu về phát thải khí nhà kính. Việc sử dụng phần mềm chuyên dụng sẽ giúp nâng cao hiệu quả và độ chính xác trong quá trình kiểm kê.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu về hệ thống kiểm kê khí nhà kính trong chăn nuôi gia súc đã chỉ ra rằng việc áp dụng các phương pháp khoa học có thể giúp giảm thiểu phát thải khí nhà kính. Các ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu này sẽ hỗ trợ các chính sách quản lý hiệu quả hơn.

4.1. Kết quả kiểm kê khí nhà kính tại Việt Nam

Kết quả kiểm kê khí nhà kính trong chăn nuôi gia súc tại Việt Nam cho thấy lượng phát thải khí nhà kính đang gia tăng. Việc áp dụng các biện pháp giảm thiểu là cần thiết để đạt được các mục tiêu phát triển bền vững.

4.2. Các mô hình quản lý hiệu quả

Nghiên cứu đã đề xuất một số mô hình quản lý hiệu quả trong kiểm kê khí nhà kính, bao gồm việc áp dụng công nghệ mới và cải tiến quy trình chăn nuôi. Những mô hình này có thể được áp dụng rộng rãi để giảm phát thải khí nhà kính.

V. Kết luận và tương lai của hệ thống kiểm kê khí nhà kính

Hệ thống kiểm kê khí nhà kính trong chăn nuôi gia súc cần được hoàn thiện và phát triển hơn nữa để đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường. Tương lai của hệ thống này phụ thuộc vào sự hợp tác giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức và cộng đồng.

5.1. Định hướng phát triển hệ thống kiểm kê

Định hướng phát triển hệ thống kiểm kê khí nhà kính trong chăn nuôi gia súc cần tập trung vào việc nâng cao năng lực cho các đơn vị liên quan và cải thiện quy trình thu thập dữ liệu.

5.2. Tầm quan trọng của hợp tác quốc tế

Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực kiểm kê khí nhà kính sẽ giúp Việt Nam học hỏi kinh nghiệm từ các nước khác, từ đó cải thiện hệ thống kiểm kê và đạt được các mục tiêu phát triển bền vững.

18/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Cho đến năm 2015, việc xây dựng Hệ thống Quốc gia về kiểm kê khí nhà kính (KNK) tại Việt Nam vẫn chƣa đƣợc nghiên cứu hoàn chỉnh và công bố để áp dụng cho các hoạt động liên quan đến kiểm kê KNK của các Bộ, Nghành và lĩnh vực liên quan. Trong đó, hoạt động chăn nuôi gia súc trong lĩnh vực Nông nghiệp cũng cần có một cơ chế thực hiện để tiến hành kiểm kê phát thải KNK hàng năm. Thực tế, nội dung kỹ thuật tính toán kiểm kê KNK của Việt Nam đã thực hiện theo các hƣớng dẫn về kiểm kê KNK của Ban liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC). Tuy nhiên, kiểm kê KNK cho các lĩnh vực liên quan mới chỉ đƣợc thực hiện một vài năm thí điểm (năm 1994, 2000 và 2010) thông qua các dự án quốc tế với sự hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật.

Kết quả lƣợng phát thải KNK đã đƣợc chính thức công bố qua hai thông báo quốc gia của Việt Nam cho Công ƣớc khu của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC) và báo cáo cập nhật hai năm một lần của Việt Nam cho UNFCCC. Đây là các tài liệu chính thống về kết quả phát thải KNK của Việt Nam. Do đó, việc hoàn thiện một cơ chế phù hợp để ngành chăn nuôi gia súc có thể kiểm kê KNK hàng năm là một trong những nhiệm vụ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NNPTNT) và Bộ Tài nguyên Môi trƣờng (TNMT) trong giai đoạn hiện nay. Với mục tiêu nghiên cứu đánh giá hiện trạng năng lực, nhu cầu hỗ trợ cho hoạt động tính toán phát thải KNK của ngành chăn nuôi gia súc tại Việt Nam và đề xuất một sắp xếp thể chế hợp lý cho Bộ NNPTNT, luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu xây dựng hệ thống kiểm kê khí nhà kính trong chăn nuôi gia súc và đề xuất giải pháp quản lý” sẽ góp phần đề xuất một hoạt động quản lý cho các đơn vị quản lý nhà nƣớc.

Luận văn đƣợc thực hiện trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ mang tên: “Nghiên cứu xây dựng hệ thống kiểm kê KNK tại Việt Nam” (QĐ 1579/BTNMT, 2013). Là một trong 17 hợp phần của Hệ thống Quốc gia, phạm vi của luận văn hƣớng đến các hoạt động quản lý và sắp xếp thể chế cho hoạt động chăn nuôi gia súc trong phạm vi rộng lớn của một hệ thống vĩ mô cấp quốc gia. Tuy nhiên, 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiên cứu sau cũng cố gắng góp phần để đáp ứng kịp thời yêu cầu của đơn vị quản lý nhà nƣớc đang đƣợc đặt ra. Luận văn thạc sĩ sẽ góp phần đƣa căn cứ khoa học gắn liền với điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam trong công tác quản lý nhà nƣớc, nhằm sử dụng và quản lý hợp lý hoạt động chăn nuôi gia súc, đi liền với bảo vệ môi trƣờng và vẫn đạt đƣợc mục tiêu phát triển kinh tế của đất nƣớc.

2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH VÀ HỆ THỐNG KIỂM KÊ KNK TRONG CHĂN NUÔI GIA SÚC 1. Biến đổi khí hậu và phát thải khí nhà kính 1. Biến đổi khí hậu a. Khái niệm về BĐKH Biến đổi khí hậu (BĐKH) trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tƣơng lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định tính bằng thập kỷ hay hàng triệu năm (Trần Thục và cs.

Sự biến đổi có thể là thay đổi thời tiết bình quân hay thay đổi sự phân bố các sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình. Sự biến đổi khí hậu có thể giới hạn trong một vùng nhất định hay có thể xuất hiện trên toàn cầu. Trong những năm gần đây, đặc biệt là trong bối cảnh chính sách môi trƣờng BĐKH thƣờng đề cập tới sự thay đổi khí hậu hiện nay và đƣợc gọi chung bằng hiện tƣợng nóng lên toàn cầu. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về BĐKH.

Theo báo cáo lần thứ 5 của Ban Liên chính phủ về BĐKH (IPCC), BĐKH đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “BĐKH là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, đƣợc nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và/hoặc sự biến động của các thuộc tính của nó; duy trì trong một khoảng thời gian dài, điển hình là vài thập kỷ hoặc dài hơn”. “BĐKH trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tƣơng lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo”. Theo Công ƣớc khung của Liên hợp quốc về BĐKH (UNFCCC): “BĐKH là “những ảnh hƣởng có hại của khí hậu” là những biến đổi trong môi trƣờng vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hƣởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và hoạt động quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con ngƣời”. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Tác động của BĐKH BĐKH có thể gây ảnh hƣởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến tất cả các loài sinh vật trên trái đất và ảnh hƣởng đến mọi hoạt động của con ngƣời. BĐKH làm cho khí hậu thay đổi thất thƣờng, khi nhiệt độ tăng cao làm ảnh hƣởng đến mức chịu đựng của một số loài, môi trƣờng sinh thái xấu đi (Hoffmann, 2008). Trái đất nóng lên cũng làm tăng sốc nhiệt (stress nhiệt) ở gia súc (Hoffmann, 2008). Sốc nhiệt trong chăn nuôi ngày một gia tăng do ảnh hƣởng của BĐKH và gây thiệt hại cho ngành chăn nuôi ở nhiều nƣớc nhƣ làm giảm năng suất sinh trƣởng - sinh sản ở vật nuôi và làm tăng chi phí chăn nuôi do phải đầu tƣ thêm thiết bị chuồng trại (hệ thống thông gió và làm mát…) để giảm nhẹ tác động của sốc nhiệt.

Tác động của BĐKH đối với nền kinh tế xã hội Việt Nam là rất nghiêm trọng và là một thách thức cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo, các mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của đất nƣớc trong đó sản xuất nông nghiệp đƣợc coi là một trong những lĩnh vực đƣợc đánh giá dễ bị tổn thƣơng nhất do biến đổi khí hậu và nƣớc biển dâng (Trần Thục và cộng sự, 2015). Ở nƣớc ta, trong những năm vừa qua dịch bệnh trên gia súc (tai xanh, lở mồm long móng…) không ngừng bùng phát với diễn biến và cƣờng độ ngày càng phức tạp, hậu quả là hàng trăm nghìn gia súc bị chết hoặc bị tiêu hủy gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngƣời chăn nuôi. Tình hình này cho thấy BĐKH đang ảnh hƣởng đến mọi mặt của sản xuất nông nghiệp và gây hại nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi (Bộ TNMT, 2014b). Biện pháp ứng phó với BĐKH Ứng phó với BĐKH là các hoạt động của con ngƣời nhằm thích ứng và giảm nhẹ các tác nhân gây ra BĐKH tức là giảm phát thải khí nhà kính (KNK).

Giảm phát thải KNK tức là làm giảm khả năng phát sinh các khí gây hiệu ứng nhà kính vào môi trƣờng. Các nguồn phát thải KNK chủ yếu hiện nay đến từ các ngành công nghiệp, nông nghiệp, các hoạt động sinh hoạt của con ngƣời (sử dụng nhiên liệu hóa thạch, giao thông. KNK cũng phát sinh từ một số nguồn thiên nhiên (hoạt động của núi lửa phát sinh CH4, các sinh vật sống thải ra CO2 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong quá trình hô hấp…) Tuy nhiên, lƣợng đóng góp của các nguồn này vào lƣợng phát thải KNK toàn cầu ít hơn rất nhiều so với hoạt động của con ngƣời. Phát thải KNK trong chăn nuôi gia súc Theo phân loại của Ban liên chính phủ về BĐKH (IPCC) phát thải KNK trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp đƣợc thải ra từ nhiều nguồn khác nhau.

KNK phát thải từ ngành nông nghiệp chủ yếu là các khí CO2, CH4 và N2O (IPCC, 2006). Ở Nhật Bản, lƣợng KNK phát thải của ngành nông nghiệp năm 2010 là 25 nghìn tấn CO2 tƣơng đƣơng chiếm 2% tổng lƣợng phát thải. Lƣu ý là hoạt động này không bao gồm phát thải từ lĩnh vực Sử dụng đất, quản lý sử dụng đất và rừng (LULUCF) (Japan Report, 2012). Trong chăn nuôi gia súc KNK phát thải từ quá trình lên men đƣờng ruột và quá trình quản lý phân bao gồm khí CH4 và N2O.

Theo báo cáo kiểm kê Nhật Bản 2010, lƣợng CH4 phát thải từ quá trình lên men đƣờng ruột năm 2010 là 6,67 nghìn tấn CO2 tƣơng đƣơng chiếm 0,5% tổng lƣợng phát thải (Không bao gồm LULUCF), giảm 13,1% so với năm 1990. Lƣợng CH4 và N2O phát thải từ quá trình quản lý phân trong năm 2010 là 2,205 nghìn tấn CO2 tƣơng đƣơng và 5,475 nghìn tấn CO2 tƣơng đƣơng chiếm 0,2% và 0,4% tổng lƣợng phát thải (không bao gồm LULUCF), giảm 28,7% và 1% so với năm 1990. Do Việt Nam là một nƣớc nông nghiệp, phát thải KNK trong khu vực nông nghiệp chiếm một tỷ lệ khá lớn (Bộ TNMT, 2011b). Lƣợng phát thải KNK từ hoạt động nông nghiệp mỗi năm tƣơng đƣơng 65 nghìn tấn CO2, chiếm trên 43% tổng lƣợng KNK phát thải của cả nƣớc.

Nguồn phát thải chủ yếu là từ canh tác lúa, đốt phụ phẩm nông nghiệp và chất thải chăn nuôi. Dự báo lƣợng khí thải đến năm 2030 sẽ tăng lên gần 30%. Theo Báo cáo cập nhật lần thứ nhất hai năm một lần của Việt Nam cho UNFCCC (BUR1), tổng phát thải KNK năm 2010 trong lĩnh vực nông nghiệp là 88,4 triệu tấn CO2 tƣơng đƣơng, trong đó 50% phát thải từ canh tác lúa nƣớc, 27% từ đất nông nghiệp, 11% từ quá trình tiêu hóa thức ăn, 10% từ quản lý phân bón, 2% từ đốt phụ phẩm nông nghiệp. Kết quả chi tiết phát thải trong lĩnh vực nông nghiệp đƣợc thể hiện trong hình 1.

5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phát thải KNK năm 2010 trong lĩnh vực nông nghiệp (Bộ TNMT, 2014a) Phát thải KNK trong chăn nuôi gia súc bao gồm khí CH4 và khí N2O phát thải từ quá trình lên men tiêu hóa và quá trình quản lý phân của gia súc. Theo tính toán trong Thông báo quốc gia lần thứ hai (2010) lƣợng phát thải KNK của chăn nuôi năm 2000 là 11,2 nghìn tấn CO2 tƣơng đƣơng chiếm tỷ trọng 17% lƣợng phát thải trong lĩnh vực nông nghiệp năm 2000. Cũng theo thông báo này, kết quả phát thải theo loại KNK năm 2000 bao gồm (i) CO2 là 0,068 triệu tấn, chiếm 44,9%, (ii) CH4 là 0,066 triệu tấn CO2 tƣơng đƣơng chiếm 44% và (iii) N2O là 0,017 triệu tấn CO2 tƣơng đƣơng chiếm 11,1% (Bảng 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ