CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI Trong thời gian qua, nghiên cứu về vùng đất Nam Kỳ (trước và trong thời thuộc Pháp), về quá trình hình thành và phát triển hệ thống giao thông ở Nam Kỳ (1862-1945) gắn với hai chương trình khai thác thuộc địa (1897 – 1918 và 1919 - 1939) của thực dân Pháp thực hiện ở Nam Kỳ và Đông Dương đã được nhiều học giả trong và ngoài nước thực hiện. Với nhiều góc độ nghiên cứu, kết quả và nhận xét khác nhau, các công trình nghiên cứu đó đã phần nào cung cấp những thông tin, hiểu biết về vùng đất này cũng như những hoạt động cai trị, bóc lột và khai thác của thực dân Pháp ở vùng đất phương Nam giàu tài nguyên và nguồn lực. Liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận án, đã có khá nhiều công trình khoa học và nghiên cứu về hệ thống giao thông thời thuộc Pháp ở Nam Kỳ.
Đặc biệt các vấn đề về hạ tầng kinh tế - kỹ thuật, về giao thông đường sắt, giao thông đường thủy, giao thông đường bộ và đường hàng không; về kinh tế, văn hóa, xã hội của thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn và các tỉnh Nam Kỳ. Các công trình này ít nhiều đã góp phần quan trọng để nhận thức quá khứ, cung cấp những hiểu biết một cách khoa học cho việc xây dựng và phát triển về hệ thống giao thông trong việc xác định đường lối phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi địa phương và khu vực. Tuy nhiên đến nay vẫn còn thiếu đề tài nghiên cứu riêng biệt, chuyên sâu về quá trình hình thành và phát triển hệ thống giao thông ở Nam Kỳ. Để khắc phục tình trạng đó, thực hiện mục đích nghiên cứu của luận án, cơ sở nghiên cứu chính của luận án là các khối tài liệu lưu trữ của chính quyền thuộc địa của Pháp ở Nam Kỳ và Đông Dương hiện đang lưu giữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I (Hà Nội) và Trung tâm Lưu trữ quốc gia II (Tp.
Đó là nguồn sử liệu đáng tin cậy nhất về những hoạt động quản lý, điều hành của chính quyền cai trị trong đó có hoạt động công chính về hoạt động xây dựng, quản lý và phát triển hệ thống giao thông ở Nam Kỳ, Việt Nam và Đông Dương thời thuộc Pháp. Bên cạnh việc khai thác thông tin từ tài liệu lưu trữ, việc tham khảo, tiếp thu kết quả từ các công trình nghiên cứu về lịch sử, kinh tế, phát triển hệ thống giao thông ở 18 Việt Nam, nhất là ở Nam Kỳ trong thời Pháp thuộc của các tác giả Việt Nam và nước ngoài sẽ góp phần đảm bảo tính kế thừa và cũng là một cách để bổ sung những vấn đề cần điều chỉnh thông tin về hệ thống giao thông ở Nam Kỳ từ tài liệu lưu trữ mà các công trình nghiên cứu hiện chưa đầy đủ. Có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu chung về vùng đất Nam Kỳ, về sự hình thành và phát triển của hệ thống giao thông nơi đây và nhất là vai trò và tác dụng của cơ sở hạ tầng kỹ thuật quan trọng này trong hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Nam Kỳ, Việt Nam và Đông Dương như sau. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CHUNG VỀ VÙNG ĐẤT NAM KỲ Nghiên cứu về vùng đất Nam Kỳ không thể không nắm bắt những thông tin về các mặt địa lý – thổ nhưỡng, điều kiện tự nhiên, phong tục, dân cư, kinh tế – xã hội… của vùng đất này.
Đây chính là những sử liệu không thể thiếu khi nghiên cứu về cơ sở hạ tầng kỹ thuật mà cụ thể là hệ thống giao thông Nam Kỳ trước và trong thời kỳ Pháp thuộc. Những công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước Tài liệu thành văn có sớm nhất đề cập đến lịch sử, địa lý, xã hội vùng đất Nam Kỳ là các cuốn sách địa chí gồm: “Hoàng Việt nhất thống dư địa Chí” và “Gia Định thành thông chí” dưới thời nhà Nguyễn. Được nhắc đến đầu tiên là cuốn sách “Hoàng Việt nhất thống dư địa Chí” (1806), do Lê Quang Định, Thượng thư Bộ Binh khởi sự biên soạn, được Phan Đăng dịch và xuất bản vào năm 2003. Đây là bộ địa chí đầu tiên của nhà Nguyễn.
Nét nổi bật nhất của bộ sách chính là việc ghi chép một cách tường tận về hệ thống giao thông đường bộ lẫn đường thủy của nước ta vào đầu thế kỷ XIX. Bộ sách gồm 10 quyển, ghi chép đầy đủ một cách chính xác về đường đi, các dịch trạm, các địa danh, sông núi, khe suối, ngòi rạch, cửa biển, kèm theo lời chú giải mặt mạnh mặt yếu, chỗ hiểm, chỗ thuận lợi của từng địa phương rất cụ thể với các mục: “Đường trạm trên sông dinh Phiên trấn”, “Đường trạm trên sông dinh trấn Định”, “Đường trạm trên sông dinh Vĩnh trấn” và các mục “Ghi chép về dinh Phiên trấn”, “Ghi chép về dinh 19 trấn Định”, “Ghi chép về dinh Vĩnh trấn” của nước ta vào đầu thế kỷ XIX. Sự ra đời của “Hoàng Việt nhất thống dư địa Chí” không những giúp cho người đọc hình dung khá toàn diện về hình thể đất nước Việt Nam lúc bấy giờ mà còn giúp cho người đi đường biết đến những vùng đất xa xôi tưởng như không bao giờ biết đến. Chính vì vậy bộ sách đã trở thành công cụ tra cứu cứu chủ yếu cho các công trình địa chí sau này.
Cuốn sách thứ hai được kể đến là là bộ địa chí “Gia Định thành thông chí” hay “Gia Định thông chí” của Trịnh Hoài Đức (1765-1825) viết về miền đất Gia Định. Sách viết dưới thời Gia Long, hoàn thành vào năm 1820. “Gia Định thành thông chí” là một sử liệu quan trọng được xem như một trong những công trình nghiên cứu đặc sắc nhất dưới góc độ địa lý và lịch sử thời nhà Nguyễn. Đây là cuốn sách đầu tiên mô tả kỹ lưỡng sông núi miền Nam đất nước, cũng như mô tả kỹ càng các khu vực hành chính Gia Định từ trấn, phủ tới thôn, lân cùng những phong tục tập quán, tính cách và sinh hoạt của dân cư tại vùng đất Gia Định từ thời Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược đất này năm 1698 cho đến những năm đầu thế kỷ XIX.
Sau này, khi thực dân Pháp chiếm xong 03 tỉnh miền Đông Nam Kỳ, cuốn sách đã được chính quyền thực dân dịch sang tiếng Pháp để họ nắm tình hình thổ nhưỡng và nhân cư vùng đất này nhằm phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa của họ. Bản dịch được Imprimerie Impériale xuất bản năm 1863 tại Paris với tựa đề Histoire et description de la Basse Cochinchine. Bản dịch này không theo đúng kết cấu của nguyên tác, mục đích phục vụ cho độc giả người Pháp và thực dân Pháp trong việc cai trị xứ thuộc địa này. Có thể nói các bộ sách nêu trên là những tư liệu gốc, phản ảnh về lịch sử, địa lý, xã hội, con người vùng đất Nam Kỳ thời nhà Nguyễn, đáp ứng cơ bản nội dung nghiên cứu của đề tài.
Là cơ sở để so sánh những thay đổi hệ thống giao thông thời Nguyễn và thời thuộc Pháp. Tiếp đó là một số sách xuất bản ở giai đoạn sau, có nội dung tương tự của tác giả Nam Sơn cũng góp thêm tư liệu để nghiên cứu luận án như cuốn “Lịch sử khẩn hoang miền Nam”. Tác giả đi sâu vào khảo cứu công cuộc mở rộng, phát triển xứ Đàng Trong; xác định vùng biên giới Việt – Miên; thông tin địa lý, phong tục, dân cư 20 ở các vùng đất Rạch Giá, Bạc Liêu, Cà Mau, Cần Thơ. Đặc biệt, tác giả đã mô tả khá kỹ về việc đào các kênh: Bảo Định, Ruột Ngựa, Vĩnh Tế, Thoại Hà và Long An Hà.
Đây là những thông tin rất bổ ích khi nghiên cứu về hệ thống giao thông thủy ở miền sông nước Tây Nam Kỳ. Điểm mới trong cuốn sách khảo cứu này là tác giả đã nêu được số liệu thống kê số làng mạc được thành lập dọc theo kênh Vĩnh Tế, việc huy động tổ chức quản lý dân phu, dụng cụ lao động khi đào kênh Long An Hà. Ông cũng cho rằng, việc đào kênh Vĩnh Tế, Thoại Hà xuất phát từ mục đích quân sự của nhà Nguyễn. Điều này là một cứ liệu quan trọng về việc phát triển các khu dân cư gắn với hệ thống thủy nông cũng là hệ thống giao thông thủy nội vùng.
Ngoài ra, Sơn Nam còn có hai cuốn sách khác: Đất Gia Định xưa (1984), Đồng bằng sông Cửu Long – nét sinh hoạt xưa (1985). Hai tập sách này ghi chép về tiến trình đào vét kênh rạch từ thời Nguyễn sang đến thời Pháp thuộc và những tác động tích cực của hệ thống kênh rạch này về mọi mặt trong đó chủ yếu là giao thông, vận chuyển lúa gạo, hàng hóa. Tác phẩm Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam – những chứng tích lịch sử của GS. Văn Tạo và GS.
Furuta Moto, Nxb Tri thức thực hiện năm 2011. Sách đã khái quát một phần quan trọng những ảnh hưởng của chính sách cai trị Việt Nam dưới hình thức “cộng trị” từ năm 1940 – 1945. Thực dân Pháp và phát xít Nhật câu kết để bóc lột nhân dân Việt Nam một cách triệt để nhất mà không đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trong giai đoạn này. Sách cũng nêu rõ nguyên nhân của nạn đói năm 1945 mà nhân dân ta phải gánh chịu qua hoạt động xuất khẩu lúa gạo Nam Kỳ về Nhật qua Cảng Sài Gòn – một đầu mối giao thương của Nam Kỳ và Đông Dương.
Sách Sài Gòn năm xưa của tác giả Vương Hồng Sển (1991) do Nxb Tp. Hồ Chí Minh thực hiện. Tác phẩm đã dựng lại hình ảnh Sài Gòn thời Pháp thuộc với khác biệt so với giai đoạn trước. Một trong những thay đổi đó là hệ thống giao thông như: sự có mặt của đường sắt, các con đường bộ, các cây cầu bê tông, các hãng tàu, xe lửa… Tuy nhiên sách chỉ mô tả Sài Gòn xưa qua thể loại truyện kể.
Cuốn “ Việt Nam những sự kiện lịch sử (1858-1918)” (1999), tác giả Dương Kinh Quốc của Nxb Giáo dục đã ghi chép một cách có hệ thống những sự kiện từ đầu tháng 9/1858 đến cuối tháng 12/1918. Những ghi chép đó thuộc các lĩnh vực: 21 chính trị, quân sự, văn hóa, kinh tế, khoa học kỹ thuật,… Một số nội dung cơ bản các nghị định của chính quyền thực dân cũng được dẫn giải để minh chứng. Một trong những ví dụ khi tác giả ghi lại nhận xét của Nguyễn Tri Phương về âm mưu của Pháp đánh chiếm Nam Kỳ: “Nam Kỳ là nơi thóc gạo, sản vật nhiều, tàu bè buôn bán rất có lợi giặc Pháp biết từ lâu và cũng có ý đồ đánh chiếm đã lâu…”.