Phần mở đầu Trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và đóng góp của nghiên cứu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Chương 2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Trình bày các cơ sở lý thuyết có liên quan đến các khái niệm nghiên cứu bao gồm: Khái niệm sự tham gia, môi trường, rác thải, chất thải rắn, phế liệu, lưu giữ chất thải rắn, xử lý chất thải rắn. Cùng với đó, chương này trình bày cơ sở lý thuyết về hành vi con người, hành động xã hội, lối sống, kiểm soát xã hội, thuyết hành vi dự định và các yếu tố liên quan, tổng quan các nghiên cứu trước đây của các tác giả trong nước và nước ngoài có liên quan đến các nội dung nghiên cứu của đề tài, sau đó tổng hợp, đánh giá các yếu tố có ảnh hưởng đến hành vi và đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất của bài nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu Trong chương này, tác giả tập trung giới thiệu quy trình nghiên cứu và phương pháp thực hiện các bước nghiên cứu; các thành phần và biến quan sát được sử dụng nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định và hành vi phân loại chất thải rắn của người dân. Các yếu tố bao gồm: Thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi của người dân trong phân loại chất thải rắn. Kết quả nghiên cứu Chương này trình bày kết quả kiểm định mô hình thang đo và mô hình nghiên cứu. Qua các bước kiểm định mô hình thang đo và mô hình nghiên cứu đã khẳng định: 3 yếu tố cơ bản có mối quan hệ tác động tích cực đến ý định phân loại chất thải rắn của người dân tại huyện Bàu Bàng, bao gồm các yếu tố: thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi đồng thời yếu tố ý định có tác động tích cực đến hành vi phân loại chất thải rắn.
Kết luận và hàm ý chính sách Tóm tắt kết quả của nghiên cứu; các đóng góp của nghiên cứu về thực tế; trình bày các nhóm giải pháp nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đế hành vi dự định của người dân trong hoạt động phân loại chất thải rắn sinh hoạt và các hạn chế cũng như hướng nghiên cứu mới của đề tài. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Lý thuyết hành vi 2. Các lý thuyết liên quan 2.
Lý thuyết hành vi của con người “ Các nhà tâm lý học hành vi tin rằng phản ứng của con người đối với kích thích từ môi trường tạo nên hành vi. Hành vi có thể được học tập một cách có hệ thống và được quan sát một cách rõ ràng từ bên ngoài, không đi sâu vào diễn biến tâm lý nội tâm. Về cơ bản, người ta chỉ xét đến những hành vi quan sát được – những thứ như nhận thức, cảm xúc và tâm trạng khó được xem xét. Các nhà tâm lý học hành vi tin rằng bất kỳ ai cũng có khả năng được đào tạo để thực hiện một công việc nào đó dù nền tảng di truyền, tính cách và suy nghĩ nội tâm có thể khác nhau.
Thuyết hành vi ra đời năm 1913 với xuất bản của John B. Watson Psychology as the Behaviorist Views It. Những nhà tâm lý học hành vi tin rằng tất cả các hành vi đều là kết quả của trải nghiệm. Bất kỳ ai, dù nền tảng xuất thân học vấn có khác nhau, vẫn có thể được đào tạo theo một cách thức nào đó với các điều kiện phù hợp.
Từ khoảng năm 1920 đến giữa những năm 1950, thuyết hành vi bắt đầu trở thành trường phái tư tưởng thống trị trong tâm lý học. Một số người cho rằng sự phổ biến của tâm lý học hành vi đã vượt ra khỏi khuôn khổ mong muốn đơn thuần là xây dựng tâm lý học như một ngành học khách quan và có thể đo lường được. Các nhà nghiên cứu chú trọng vào việc tạo ra các học thuyết có thể mô tả được một cách rõ ràng và đo lường được dựa trên thực nghiệm nhưng vẫn phải tạo được nhiều đóng góp mang sức ảnh hưởng lên cuộc sống thường ngày của con người. Có 2 loại điều kiện hóa: (i) Điều kiện hóa cổ điển là kỹ thuật thường được sử dụng trong huấn luyện hành vi.
Tại đây, một kích thích trung tính được thực hiện kết hợp với kích thích tự nhiên xuất hiện trước đó. Kết quả là kích thích trung tính sẽ đưa đến phản ứng tương tự như kích thích tự nhiên trước đó, thậm chí nó đưa đến phản ứng ngay cả khi không có mặt kích thích tự nhiên từ trước. Kích thích kết hợp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 này được gọi là kích thích có điều kiện và hành vi được biết đến với tên gọi phản ứng có điều kiện; (ii) Điều kiện hóa từ kết quả (còn được gọi là điệu kiện hóa phương tiện) là một phương thức học tập thông qua các tác nhân củng cố và trừng phạt. Với điều kiện hóa từ kết quả, một liên kết được hình thành giữa một hành vi và kết quả của hành vi đó.
Khi một kết quả tích cực có được sau khi thực hiện một hành động, hành động đó có khả năng xuất hiện trở lại trong tương lai. Ngược lại, các phản ứng theo sau bởi kết quả tiêu cực sẽ ít có khả năng lặp lại trong tương lai 2. Lý thuyết hành động xã hội Hành động xã hội mà chủ thể gắn cho ý nghĩa chủ quan nhất định. Trong hành động xã hội bao giờ cũng phải có sự tham gia của ý thức, mà theo M.Werber đó là ý nghĩa chủ quan và sự định hướng mục đích.
Khởi điểm của hành động xã hội là nhu cầu và lợi ích cá nhân, đó là những động cơ thúc đẩy hành động hay nói cách khác mọi người hành động đều có mục đích. Sự tác động của môi trường, hoàn cảnh tới hành động tùy theo hoàn cảnh hoạt động mà các chủ thể hành động sẽ lựa chọn phương án tối ưu nhất đối với mình. ” Hoàn cảnh Nhu Phương Động Mục Chủ thể tiện cầu cơ đích công cụ Hình 2. Tổng quan lý thuyết hành động xã hội Nguồn: Trần Hữu Quang, 2019 “ Lý thuyết này cho rằng ở xã hội phát triển, hành động của con người sẽ tuân theo hành động hợp lý về giá trị và hợp lý về mục đích, thay vì hành động theo truyền thống hay theo cảm xúc.
Lý thuyết hành động xã hội thể hiện, một người dân bỏ rác ra khỏi nhà mình mà không quan tâm bỏ có đúng nơi quy định hay không với những suy nghĩ chỉ cần TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 trong nhà sạch sẽ và không có rác là được nhưng gia đình họ vẫn có thể bị ô nhiễm bởi mùi hôi thối từ rác thải họ bỏ không đúng nơi quy định bay vào nhà và làm cho gia đình họ cũng phải chịu ô nhiễm. Hay đó là một hành động tuân theo khi thấy mọi người xung quanh ai cũng vứt rác bừa bãi, không đúng nơi quy định hay không bao giờ phân loại rác thì họ không bao giờ tự mình thực hiện mà làm theo đám đông. Qua lý thuyết hành động xã hội cho ta biết được để giảm bớt những hậu quả không chủ định thì cần tăng cường hiểu biết về bản thân đồng thời cần phải biết chú ý hơn về hoàn cảnh, điều kiện, môi trường hành động, chỉ có như vậy chúng ta mối giảm bớt được tính duy ý chí trong hành động người dân nhờ đó sẽ tăng cường sự phù hợp giữa chủ thể hoàn cảnh và hoàn cảnh trên thực tế. Từ lý thuyết và thực tế, huyện Bàu Bàng là một đô thị đang phát triển về nhiều mặt kinh tế, văn hóa và xã hội… nhóm đưa ra giả thuyết người dân trong phạm vi nghiên cứu sẽ thực hiện giữ gìn vệ sinh môi trường để đảm bảo mục đích của họ (một đời sống khỏe mạnh, sạch sẽ) và hợp với giá trị của họ, tức hợp với địa vị xã hội mà họ đang có 2.
Lý thuyết lối sống Lối sống là một khái niệm có tính đồng bộ và tổng hợp. Nó gồm quan hệ kinh tế, xã hội, tư tưởng, tâm lý, đạo đức, văn hóa và quan hệ khác, đặc trưng sinh học của họ trong những điều kiện của một hình thái kinh tế xã hội nhất định ( Lê Như Hoa). Lối sống được qui định bởi các điều kiện khách quan và chủ quan. Điều kiện khách quan: Điều kiện kinh tế xã hội, chính trị xã hội, tư tưởng và văn hóa, điều kiện về nhân khẩu, điều kiện về sinh thái.
Lối sống là phương thức hoạt động của con người bao gồm: Nếp sống, thói quen, phong tục, tập quán, cách sống, cách làm, cách ăn, cách mặc, cách ở, cách sinh hoạt. Điều kiện chủ quan: Điều kiện tâm lý xã hội, tình trạng chung của ý thức con người, thái độ của họ đối với môi trường xung quanh trực tiếp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Hoạt động sống của con người là tổng thể các khối cơ bản: Lao động, sinh hoạt, văn hóa xã hội, chính trị xã hội. Khi xem xét một mảng trong tổng thể các khối cơ bản thì không thể bỏ qua các khối khác.
Bởi vì, giữa các khối có một mối liên hệ chặt chẽ với nhau, chúng chịu sự tác động qua lại lẫn nhau, bổ sung và hoàn thiện cho nhau. Khi tìm hiểu các hoạt động về vệ sinh môi trường trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, thì cần xem xét các hoạt động sống khác có liên quan. Đồng thời, phân tích các điều kiện khách quan, chủ quan để thấy được vì sao người dân có nhận thức, thái độ và hành vi như vậy trong việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt đảm bảo vệ sinh môi trường 2. Lý thuyết kiểm soát xã hội Kiểm soát xã hội có thể là sự bố trí chuẩn mực, các giá trị cùng những chế tài ép buộc việc thực hiện chúng.
Sự kiểm soát sẽ quy định hành vi của cá nhân, các nhóm vào các chuẩn mực đã được xã hội thừa nhận là đúng, cần phải làm theo để đảm bảo xã hội luôn phát triển và bền vững. Áp dụng lý thuyết này thể hiện việc áp dụng các hệ thống chính sách của nhà nước cho người dân về vấn đề phân loại, thu gom và xử lý rác thải nhằm đảm bảo vệ sinh môi trường.