Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình dịch HIV hiện nay 1. Tình hình dịch HIV trên thế giới Tình hình chung về nhiễm HIV trên thế giới Kể từ ca nhiễm HIV được phát hiện đầu tiên tại Mỹ từ năm 1981, cho đến nay loài người đã trải qua 30 năm đối phó với một đại dịch quy mô lớn, phức tạp. Tính đến cuối năm 2010, có 34 triệu người đang bị nhiễm HIV, tỷ lệ người nhiễm HIV trong nhóm tuổi 15-49 là 0,8%.
Riêng năm 2010 ước tính có 2,7 triệu người nhiễm mới HIV và 1,8 triệu người tử vong do AIDS. So sánh với năm 1999, sổ người nhiễm mới HIV đã giảm 21%. Báo cáo của UNAIDS cũng ghi nhận tính cuối năm 2010 đã có 33 nước có số ca nhiễm mới giảm, trong đó 22 nước khu vực cận Saharan, Châu Phi. Khu vực cận Sahara vẫn là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, chiếm 66% số trường hợp nhiễm HIV trên toàn thế giới và 72% số trường hợp từ vong do AIDS trong năm 2010 [34].
Nhiễm HIV chủ yếu tập trung trong nhóm tuổi trẻ. Có nhiều yếu tố làm tăng nguy cơ nhiễm HIV ở người trẻ tuổi như việc quan hệ tình dục sớm, QHTD với bạn tình có nguy cơ cao, có nhiều bạn tình, ít khi sử dụng BCS, thiếu kiến thức và kỹ năng cần thiết, sử dụng ma túy. Một nghiên cứu ở Dublin, Ireland cho thấy 70% những người trẻ tuổi có dùng chung BKT [37]. Tại châu Á, với số dân chiếm 60% dân số thế giới, là khu vực có số người nhiễm HIV đứng thứ hai thế giới với 4,0 triệu người, sau khu vực cận Sahara [35].
Hầu hết dịch tại các quốc gia đã có dấu hiệu chững lại. Không có quốc gia nào trong khu vực có dịch toàn thể. Thái Lan là nước duy nhất trong khu vực có tỷ lệ hiện nhiễm gần 1% và xét một cách tổng thể, dịch ở nước này cũng có dấu hiệu chững lại. Tỷ lệ hiện nhiễm HIV năm 2009 trong số người trưởng thành ở châu Á là 1,3%.
Tại Cam-pu-chia, tỷ lệ hiện nhiễm ở người trưởng thành giảm từ 1,2% năm 2001 xuống còn 0,5% năm 2009. 5 Tuy nhiên, tỷ lệ hiện nhiễm HIV lại đang gia tăng ở những quốc gia vốn có tỷ lệ hiện nhiễm thấp như Bangladesh, Pakistan, Philippin (nơi tiêm chích ma túy là hình thái lây truyền HIV chính) [4]. Tỷ lệ nhiễm mới HIV ở châu Á cũng có xu hướng giảm ở nhiều quốc gia nhưng lại gia tăng ở một số nước có tỷ lệ nhiễm thấp, số nhiễm mới HIV giảm từ 450.000 người năm 2001 xuống còn 270.000 người năm 2010, giảm 40%. Tỷ lệ nhiễm mới giảm hơn 25% tại các nước Ấn Độ, Nepal và Thái Lan trong khoảng thời gian từ 2001 đến 2010.
Dịch cũng chững lại tại Malaysia và Sri Lanka trong khoảng thời gian này. Tuy nhiên, tỷ lệ nhiễm mới tăng 25% ở Bangladesh và Philippin từ năm 2001 đến 2010. Khoảng 90% số người nhiễm mới HIV tại Án Độ được cho là đã lây nhiễm từ việc QHTD không an toàn, song việc thường xuyên có 2 hoặc hơn 2 người sử dụng chung BKT mới là hình thái lây truyền HIV chính tại các bang đông bắc của quốc gia này [4], [33], [35]. Hình thái lây truyền HIV tại châu Á hiện nay vẫn chủ yếu tập trung ở nhóm người TCMT, phụ nữ bán dâm, khách làng chơi, và nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM).
Ước tính đến năm 2020 ở châu Á sẽ có khoảng 8 triệu người nhiễm mới, số trường hợp tử vong do AIDS sẽ tăng lên 500. Tình hình nhiễm HIV ở người NCMT trên thế giới Tổng quan y văn về dịch tễ học người NCMT trên toàn cầu và tỷ lệ nhiễm HIV trong những người NCMT dựa trên hệ thống hóa 11.022 tài liệu từ các tạp chí, cơ sở dữ liệu (Medline, EMBASE, và PubMed/BioMed Central), internet có liên quan đến người NCMT và HIV/AIDS của tổ chức Liên Hợp Quốc và các chuyên gia quốc tế cho biết: NCMT đã được phát hiện ở 148 quốc gia trên thế giới, số trường hợp nhiễm HIV do NCMT đã được báo cáo ở 120 quốc gia. Ước tính có khoảng 15,9 triệu người NCMT và khoảng 3 triệu người NCMT nhiễm HIV trên toàn thế giới. Tỷ lệ nhiễm HIV trong số người NCMT tại Mỹ, Nga lần lượt là: 16% và 37% [25], 6 Tại châu Á, ước tính có khoảng 4,5 triệu người NCMT, một nửa trong số này sống ở Trung Quốc.
Tính trung bình ở châu Á có khoảng 16% người NCMT đang bị nhiễm HIV, mặc dù tỉ lệ này còn cao hơn đáng kể ở một số nước. Ẩn Độ, Pakistan và Việt Nam cũng là những nước có số lượng người NCMT cao trong khu vực. Ở Myanmar, tỷ lệ người NCMT nhiễm HIV lên tới 38%, tại Thái Lan tỷ lệ này dao động từ 30% đến 50%. Tại Trung Quốc, ước tính có 7% đến 13% người NCMT nhiễm HIV [33], 1.
Tình hình dịch HIV/AIDS ở Việt Nam Tình hình chung về dịch HIV/AIDS ở Việt Nam Dịch HIV có thể xảy ra ở Việt Nam cuối những năm 1980, lây qua những người nước ngoài đến TP.HCM hoặc đến những tỉnh biên giới khu vực Tây Nam, sau đó dịch xảy ra rất nhanh ở các tỉnh khu vực Đông Nam Bộ, tiếp đến các tỉnh khu vực Đông Bắc [4], Tính đến ngày 31/12/2011, cả nước có 197.335 người nhiễm HIV hiện đang còn sống được báo cáo, chiếm khoảng 0,22% dân số, trong đó có 48.720 bệnh nhân AIDS và tổng số người tử vong do AIDS là 52.325 trường hợp [9], Trong thập kỷ qua, dịch phát triển nhanh nhất ở các tỉnh miền núi phía bắc như các tỉnh Thái Nguyên, Điện Biên, Sơn La và Yên Bái. Trước năm 2000 dịch chủ yếu tập trung ở các khu vực thành thị, nhưng hiện nay dịch đã xảy ra ở tất cả các tỉnh thành trên cả nước, kể cả ở cả các địa bàn thuộc khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng núi, vùng dân tộc thiểu số. Đến năm 2011, đã có 97,8% số quận/huyện và trên 74% số xã phường báo cáo có người nhiễm HIV/AIDS. Các tỉnh có số trường họp xét nghiệm phát hiện dương tính lớn nhất trong năm 2011 bao gồm: TP.
HCM 1942 trường hợp (chiếm 13,75%), Hà Nội 915 trường hợp (chiếm 6,46%), Điện Biên 890 (chiếm 6,3%), Thái Nguyên 678 trường họp (chiếm 4,8%), Sơn La 601 trường hợp (chiếm 4,25%), Thanh Hóa 502 (chiếm 3,5%), Nghệ An 485 (chiếm 3,4%).Phần lớn những tỉnh có số người xét nghiệm HIV dương tính cao là các tỉnh thành phố lớn và các tỉnh khu vực miền núi Tây Bắc có đường biên giới giáp Lào [9]. Dịch HIV/AIDS vẫn chủ yếu tập trung trong nhóm NCMT, PNBD và nhóm người tình dục đồng giới nam (MSM). Trong tổng số người được xét nghiệm phát ■ 7 hiện HIV dương tính, người NCMT chiếm khoảng 70%, PNBD chiếm khoảng 5%, còn lại là đối tượng khác. Đường lây truyền HIV/AIDS ở Việt Nam chủ yếu lây truyền qua TCMT, hình thái nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS ở mỗi vùng khu vực cũng có sự khác biệt nhau, trong khi phần lớn các khu vực trong cả nước dịch chủ yếu lây truyền do tiêm chích chung ma túy thì các tỉnh khu vực đồng bằng Sông Cửu Long sự lây truyền HIV chủ yếu do truyền qua QHTD [4], Kết quả GSTĐ qua các năm cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT tại cộng đồng đã giảm mạnh từ sau năm 2004, từ 28,6% năm 2004 xuống còn 17,2% năm 2010, và xuống còn 13,4% trong năm 2011.
Trái lại, trong 5 năm qua, tỷ lệ người nhiễm HIV do lây truyền qua đường tình dục có xu hướng gia tăng từ 12% năm 2004 lên 39% năm 2010. Nhiều bằng chứng cho thấy tỷ lệ PNBD có nghiện chích và tỷ lệ nam QHTD đồng giới nghiện chích gia tăng làm tăng nguy cơ lây truyền qua đường tình dục từ nhóm này sang các loại bạn tình của họ, do đó số người nhiễm HIV do lây truyền qua đường tình dục ngày càng chiếm tỷ trọng cao hơn so với các năm trước đây [9], [4], Lây truyền qua QHTD gia tăng và sự cộng hưởng, đan xen giữa hành vi QHTD và TCMT làm cho nguy cơ lây nhiễm HIV ra cộng đồng ngày một cao hơn [9]. Phân bố người nhiễm HIV theo giới tính và nhóm tuổi ở Việt Nam đang có chiều hướng thay đổi. Trong vài năm trở lại đây, nhiễm HIV trong nhóm tuổi 30-39 tuổi có xu hướng tăng hơn so với các năm trước (từ 30% năm 2008 lên đến 43% trong năm 2011), tỷ trọng người nhiễm HIV là nữ giới ngày càng nhiều (31%).
Đối tượng người nhiễm HIV hiện nay rất đa dạng về ngành và nghề như lao động tự do, công nhân, nông dân, ngư dân, bộ đội, công an, học sinh, sinh viên, nhân viên hành chính, phạm nhân, trẻ em. Đánh giá chung về tình hình dịch HIV/AIDS ở Việt Nam cho thấy dịch HIV/AIDS không tăng nhanh so với thời điểm năm 2005 về trước, về cơ bản đã khống chế được tình hình dịch ở nhiều địa phương và trong các nhóm dễ bị cảm nhiễm HIV/AIDS. Tuy nhiên dịch HIV/AIDS vẫn còn diễn biến phức tạp, HVNC lây nhiễm HIV trong nhóm dễ bị cảm nhiễm HIV vẫn có thể tạo ra mức độ lây nhiễm HIV cao. Theo kết quả của chương trình GSHV, hai hành vi nguy cơ lây 8 nhiễm HIV chủ yếu là dùng chung BKT khi TCMT và QHTD không sử dụng BCS.
Đây là những HVNC cao góp phần làm tăng nguy cơ bùng phát dịch, do đó các biện pháp can thiệp giảm tác hại (CTGTH) cần phải thực hiện một cách hiệu quả mới có khả năng hạn chế các HVNC và khống chế dịch trong thời gian tới [8], [4]. Tình hình nhiễm HIV trong nhóm NCMT Qua số liệu quốc gia và nhiều nghiên cứu cho thấy nhóm NCMT là nhóm có tỷ lệ nhiễm HIV cao, đóng góp một vai trò quan trọng trong việc phát triển dịch HIV/AIDS lan ra cộng đồng. Điều tra IBBS năm 2009 cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT rất cao tại nhiều tỉnh thành phố: Điện Biên (56%), Quảng Ninh (55,7%), Hải Phòng (48%), TP. HCM (46,1%), Hà Nội (20,7%), Lào Cai (21.7%), Đồng Nai và Nghệ An (24%).
Tỷ lệ hiện nhiễm HIV thấp hơn tại An Giang (15,7%) và thấp nhất tại Đà Nang (1%) [8]. Theo kết quả GSTĐ tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT tại cộng đồng có xu huớng giảm, năm 2011 là 13,4%, năm 2010 là 17,24% [9], Biểu đồ 1: Xu hướng nhiễm HIV trong nhóm người NCMT 1. Tình hình nghiên cứu về HVNC trong nhóm NCMT 1. Các nghiên cứu trên thế giói Hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV Tại nhiều nước trên thế giới, hành vi sử dụng ma túy không an toàn khá phổ biến trong nhóm người NCMT là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến lây nhiễm HIV.