CHƯƠNG 1: TÓNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ HÀNH VI TÌM KIEM THONG TIN TIÊU CỰC (DOOMSCROLLING) CUA SINH VIEN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về hành vi tìm kiếm thông tin tiêu cực (doomscrolling) của sinh viên 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về hành vi tìm kiếm thông tin tiêu cực (doomscrolling) trên thé giới Năm 1950, những nghiên cứu vẻ tìm kiếm thông tin bắt đầu xuất hiện. Một số nhà nghiên cứu đưa ra các quan điểm về hành vi tìm kiếm thông tin xuất phát khi chủ thé có nhu cầu tìm kiểm thông tin.
Nhu cau thông tin xuất hiện khi chủ thé nhận biết có khoảng cách giữa kiến thức hiện tại của bản thân và nhiệm vụ can giải quyết. Những nghiên cứu liên quan như; Việc nghiên cứu các mô hình tìm kiếm thông tin luôn được quan tâm ở nhiều thời điểm. Các mô hình tìm kiếm thông tin liên quan về sức khỏe bỗ sung bao gồm Czaja và cộng sự (2003) "Mô hình khái niệm về tìm kiếm thông tin bệnh nhân”, Longo (2005) “Mô hình khái niệm mở rộng về hành vi tìm kiếm thông tin". Griffen và Gutteling (2009) mô hình "Tim kiểm và xử lý thông tin rủi ro" và Veinot (2010) "Mô hình đa cấp về phát trién mạng lưới trợ giúp/thông tin về HIV/AIDS." Mô hình thứ hai nôi bật ở chỗ nó coi thông tin hoặc lời khuyên chỉ là một trong số nhiều "tài nguyên” (hoặc "trợ giúp” theo thuật ngữ của Brenda Dervin) mà bệnh nhân có thê tìm kiếm; các loại nguồn lực khác được tìm kiếm sẽ bao gồm điều trị thể chất và hỗ trợ tỉnh thần (Veinot, 2010).
Nghiên cứu Sự bùng nô thông tin: một cái nhìn mới về tìm kiếm thông tin (The information flaneur: A fresh look at information seeking) của Marian Dork và cộng su đã giới thiệu sự bùng nô thông tin như một quan điểm mới lẫy con người làm trung tâm trong việc tìm kiếm thông tin dựa trên nghiên cứu liên ngành. Và những quan diém trong nghiên cứu này muốn hướng đến việc làm cho hành vi tìm kiếm thông tin được nhìn theo hướng lạc quan hơn: sự bùng nô thông tin đại diện cho việc tìm kiếm thông tin vì tò mò, sáng tạo và sự quan trọng của việc tìm kiếm thông tin. Kết quả mô hình tìm kiếm thông tin khái niệm hóa bản chất liên quan giữa các hoạt động và trải nghiệm thông tin như một sự liên tục giữa khám phá theo chiều ngang và sự dim chìm theo chiều dọc. (Marian Dörk et al.
Trong những năm gần đây, sự quan tâm đến nghiên cứu vẻ thông tin và hành vi con người da trở nên phô biến và được chú trọng. Đặc biệt là các nghiên cứu về hành vi thông tin của sinh viên. Nam 2021, Khai thác dữ liệu sách điện từ: hành vi thông tin thực tế của cộng đồng học thuật dai học (E-book data mining: real information behavior of university academic community) của Azra Rafique và cộng sự nghiên cứu với mục đích là kiém tra các mô hình sử dụng dựa trên bằng chứng của cơ sở dữ liệu sách điện tử do Ủy ban Giáo dục Đại học (HEC) đăng ký bởi cộng đồng học thuật tại các tổ chức giáo dục đại học ở Pakistan. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng sách điện tử đang trong giai đoạn phát triển ở trường đại học.
Nghiên cứu này kiểm tra các mô hình sử dụng dựa trên băng chứng của người dùng cơ sở dit liệu sách điện tử và đề xuất tăng cường việc sử dụng các cơ sở dữ liệu điện tử. Nghiên cứu Vai trò của kiến thức truyền thông trong chiến lược tìm kiếm thông tin trực tuyên (The role of media literacy in online information searching strategies) năm 2022 đã nêu lên luận điểm: Các quy trình kiến thức truyền thông và chiến lược tìm kiếm thông tin trực tuyến có các đặc điểm liên quan đến nhau. Và tình trang 6 nhiém thông tin gặp phải khi cô gắng truy cập thông tin trên internet có mỗi quan hệ tuyến tính tích cực với chiến lược tim kiểm thông tin trực tuyến, nghĩa là mức độ mat phương hướng thấp với mức độ ô nhiễm thông tin thấp (Tatar, Sahin & Dogan, 2022). Năm 2023, nghiên cứu Ảnh hưởng của kỹ năng kiến thức thông tin đến hành vi tìm kiếm thông tin và học tập suốt đời của sinh viên đại học (Effect of information literacy skills on university students’ information seeking behaviour and lifelong learning) của Tachie-Donkor và Ezema.
Kết quả nghiên cứu cho thay người trả lời đã phát triển các kỹ năng đáng ké vẻ hiểu biết thông tin và kỹ năng học tập suốt đời và do đó có thái độ tích cực trong việc tìm kiếm thông tin. Bài viết còn kết luận rang phan lớn sinh viên là những người sử dụng thông tin một cách tự tin. Những nghiên cứu về hành vi tìm kiếm thông tin hiện nay chủ yếu liên quan đến hành vi tìm kiểm thông tin trực tuyến. Nghiên cứu Ban dang tìm kiếm bang cách nào (và ở đâu)? Phân tích so sánh hành vi tìm kiếm trên web bằng dt liệu theo dõi web (You are how (and where) you search? Comparative analysis of web search behavior using web tracking data) thay rằng có sự khác biệt trong mô hình tạm thời sử dụng tìm kiểm trên web giữa phụ nữ và nam giới, đánh dau sự cần thiết của việc phân chia dữ liệu theo giới tính trong các nghiên cứu quan sát về hành vi tìm kiếm thông tin trực tuyến.
Những phát hiện của nghiên cứu còn nêu bật những khác biệt về ngữ cảnh trong hành vi tìm kiểm trên web giữa các quốc gia và nhóm nhân khâu học (Urman & Makhortykh, 2023). Song với việc nghiên cứu riêng lẻ về hành vi tìm kiếm thông tin thì vấn đề hành vi tìm kiểm thông tin được chú trọng nhiêu trong giai đoạn khủng hoảng thông tin, phô biến nhất là giai đoạn COVID-19 bùng phát. Nghiên cứu Tìm kiếm thông tin tập the trong cuộc khủng hoảng sức khỏe: những dự báo về xu hướng của google trong thời kỳ dich bệnh COVID-19 (Collective information seeking during a health crisis: predictors of google trends during COVID-19) của Xu va Margolin (2023) kết luận: Cộng đồng quan tâm nhất đến thông tin về “rủi ro trong khu vực” cũng như thông tin có thê định lượng được. Nghiên cứu Phương tiện truyền thông xã hội có quan trọng không? Tác động của việc tìm kiếm thông tin đến quá trình tâm lý và hành vi của COVID-19 (Do social media matter? The effects of information seeking on COVID-19 Psychological and Behavioral Processes) điều tra việc sử dụng thông tin qua mạng xã hội của các cá nhân giúp họ đạt được những tiễn bộ về tâm lý và hành vi như thé nào trong bối cảnh đại dịch COVID-19.
Nghiên cứu có bằng chứng về tác động tích cực của việc tìm kiếm thông tin trên mạng xã hội đối với nhận thức kiểm soát hành vi và những yếu t6 tâm lý đến hành vi chủ đích. Hơn nữa, trong lĩnh vực nghiên cửu này, còn tồn tại các nghiên cứu liên quan đến sự tương tác giữa hành vi tìm kiếm thông tin và các yếu tố có liên quan khác. Nghiên cứu Tiếp xúc ngắn gọn với mạng xã hội trong đại dịch COVID-19; Cuộn trang diệt vong gây ra những hậu quả tiêu cực về mặt cảm xúc, nhưng cuộn trang tử tế thì không (Brief exposure to social media during the COVID-19 pandemic: Doom-scrolling has negative emotional consequences, but kindness-scrolling does not) của Buchanan và các cộng sự đã cho một kết quả khác biệt. Nghiên cứu xem xét cảm xúc của người dùng khi tiếp xúc với các đoạn tin tức ngắn gọn liên quan đến COVID thông qua nguồn cấp dữ liệu Twitter (Nghiên cứu 1) hoặc video trên YouTube (Nghiên cứu 2).
So với nhóm tiếp xúc không có thông tin, chi xem 2-4 phút tin tức liên quan đến COVID đã dẫn đến giảm ngay lập tức va đáng kê ảnh hưởng tích cực (Nghiên cứu 1 và 2) và sự lạc quan (Nghiên cứu 2). Việc tiếp xúc với các hành vi tử tế liên quan đến COVID không gây ra hậu quả tiêu cực giéng nhau, cho thay rằng không phải tat cả việc tiếp xúc trên mang xã hội déu có hại cho sức khỏe. Chúng tôi tháo luận về các chiến lược dé chong lai những hậu quả tiêu cực về mặt cảm xúc khi tiếp xúc với tin tức tiêu cực trên mạng xã hội (Buchanan et al. Guo và Bai (2023) đã nghiên cứu đề tài Đại dịch và truyền thông: Việc tìm kiếm thông tin rủi ro ảnh hưởng như thế nào đến niềm tin và cảm xúc của truyền thông (Pandemic and the media: How risk information seeking influences media trust and emotions).
Kết qua nghiên cứu chứng minh: việc tìm kiểm thông tin liên quan đến COVID-19 từ các phương tiện truyền thông đã làm giảm niềm tin rằng phương tiện truyền thông bóp méo hiện thực, từ đó làm giảm nỗi sợ hãi; và gia tăng niềm tin rằng các phương tiện truyền thông cung cấp những tín hiệu có giá trị, điều này càng làm tăng thêm sự bình tĩnh. Xinhong Zhu và cộng sự (2023) thực hiện nghiên cứu Khám pha mối liên hệ giữa kiến thức về sức khỏe điện tử, cyberchondria, tìm kiếm thông tin sức khỏe trực tuyến và chất lượng giấc ngủ của sinh viên đại học: Một nghiên cửu cắt ngang (Exploring associations between ehealth literacy, cyberchondria, online health information seeking and sleep quality among university students: A cross-section 10 study) đã dua ra kết luận vẻ hành vi tìm kiếm thông tin vẻ sức khỏc như sau: Chất lượng giấc ngủ, tìm kiếm thông tin sức khỏe trực tuyến và hiệu biết về sức khỏe điện tử có ảnh hướng tích cực đến cyberchondria. Với những người có thời gian ngủ 7-§ giờ. tìm kiếm thông tin sức khỏe trực tuyến có liên quan đáng kê với thời gian ngủ (Zhu et al.
Từ những dự đoán vẻ tác động tiêu cực của hành vi tim kiếm thông tin liên tục trong các giai đoạn khủng hoảng thông tin, thuật ngữ doomscrolling xuất hiện từ đó các nhà nghiên cứu đã bat dau tìm hiéu về các đẻ tài liên quan đến hành vi tìm kiếm thông tin tiều cực. Nghiên cứu được quan tâm và mở ra một bước ngoặt mới trong nghiên cứu về doomscrolling là nghiên cứu Dau hiệu tiêu cực: Hành vi tìm kiếm thông tin tiêu cực trên mang xã hội (The dark at the end of the tunnel: Doomscrolling on social media newsfeeds) cua Sharma va cộng sự (2022). Nghiên cứu khái nệm hóa doomscrolling là “mét hành vi tìm thông tin tiêu cực theo thói quen trên các nguồn cấp tin tức” và xây dựng thang do mức độ hành vi doomscrolling.