Hành Vi Tìm Kiếm Thông Tin Tiêu Cực (Doomscrolling) Của Sinh Viên

Khóa luận phân tích hành vi tìm kiếm thông tin tiêu cực doomscrolling của sinh viên tại một số trường đại học, ảnh hưởng và giải pháp.

Chuyên ngành

Tâm lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2024

114
35
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI TÌM KIẾM THÔNG TIN TIÊU CỰC (DOOMSCROLLING) CỦA SINH VIÊN

1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về hành vi tìm kiếm thông tin tiêu cực (doomscrolling) của sinh viên

1.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu về hành vi tìm kiếm thông tin tiêu cực (doomscrolling) trên thế giới

1.3. Tổng quan các công trình nghiên cứu về hành vi tìm kiếm thông tin tiêu cực (doomscrolling) ở Việt Nam

1.4. Lý luận về hành vi tìm kiếm thông tin tiêu cực (doomscrolling) của sinh viên

1.4.1. Lý luận về hành vi tìm kiếm thông tin tiêu cực

1.4.2. Đặc điểm tâm lý lứa tuổi sinh viên

1.4.3. Một số yếu tố liên quan đến hành vi tìm kiếm thông tin tiêu cực (doomscrolling) của sinh viên

2. TỔ CHỨC VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU HÀNH VI TÌM KIẾM THÔNG TIN TIÊU CỰC (DOOMSCROLLING) CỦA SINH VIÊN MỘT SỐ TRƯỜNG

2.1. Địa bàn và khách thể nghiên cứu

2.2. Tổ chức nghiên cứu

2.3. Quy trình nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận

2.4.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

2.4.3. Phương pháp thống kê toán học

2.4.4. Phương pháp phỏng vấn

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Thực trạng hành vi tìm kiếm thông tin tiêu cực (doomscrolling) của sinh viên một số trường Đại học

3.1.1. Thực trạng chung hành vi tìm kiếm thông tin tiêu cực (doomscrolling) của sinh viên một số trường Đại học

3.1.2. Thực trạng các mặt của hành vi tìm kiếm thông tin tiêu cực (doomscrolling) của sinh viên một số trường Đại học

3.1.3. Thời gian tìm kiếm thông tin tiêu cực (doomscrolling) của sinh viên một số trường Đại học

3.1.4. Cảm nhận cảm xúc trong hành vi tìm kiếm thông tin tiêu cực (doomscrolling) của sinh viên một số trường Đại học

3.2. Một số yếu tố tác động đến hành vi tìm kiếm thông tin tiêu cực (doomscrolling) của sinh viên một số trường Đại học

3.2.1. Xét yếu tố Khả năng tự điều chỉnh

3.2.2. Xét yếu tố Bối cảnh

3.2.3. Xét yếu tố Không chắc chắn

3.2.4. Xét yếu tố Thành kiến tiêu cực

3.2.5. Xét yếu tố Đặc điểm tính cách

3.2.6. Mối quan hệ giữa hành vi tìm kiếm thông tin tiêu cực (doomscrolling) và các yếu tố ảnh hưởng

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về hành vi doomscrolling của sinh viên đại học

Hành vi doomscrolling đã trở thành một hiện tượng phổ biến trong giới trẻ, đặc biệt là sinh viên đại học. Trong bối cảnh thông tin tiêu cực tràn ngập trên các nền tảng mạng xã hội, sinh viên thường xuyên tìm kiếm và tiêu thụ những tin tức này. Nghiên cứu này nhằm làm rõ các khía cạnh của hành vi này, từ nguyên nhân đến tác động của nó đến sức khỏe tâm lý của sinh viên.

1.1. Định nghĩa và nguồn gốc của hành vi doomscrolling

Hành vi doomscrolling được định nghĩa là việc liên tục cuộn qua các tin tức tiêu cực trên mạng xã hội. Thuật ngữ này đã xuất hiện trong bối cảnh đại dịch COVID-19, khi mà người dùng cảm thấy cần phải cập nhật thông tin liên tục để kiểm soát tình hình.

1.2. Tình trạng hiện tại của sinh viên đại học

Nghiên cứu cho thấy rằng sinh viên đại học thường dành nhiều thời gian cho việc doomscrolling, dẫn đến tình trạng căng thẳng và lo âu. Thói quen này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe tâm lý mà còn đến hiệu suất học tập của họ.

II. Vấn đề và thách thức liên quan đến hành vi doomscrolling

Hành vi doomscrolling không chỉ là một thói quen tiêu cực mà còn là một vấn đề xã hội nghiêm trọng. Nó gây ra nhiều thách thức cho sinh viên, từ sức khỏe tâm lý đến khả năng tập trung trong học tập. Việc nhận thức và giải quyết vấn đề này là rất cần thiết.

2.1. Tác động đến sức khỏe tâm lý

Nghiên cứu chỉ ra rằng hành vi doomscrolling có thể dẫn đến tình trạng sức khỏe tâm lý kém, bao gồm lo âu và trầm cảm. Sinh viên thường cảm thấy áp lực khi tiếp xúc với thông tin tiêu cực liên tục.

2.2. Ảnh hưởng đến hiệu suất học tập

Thói quen doomscrolling làm giảm khả năng tập trung và hiệu suất học tập của sinh viên. Nhiều sinh viên cho biết họ cảm thấy mệt mỏi và không thể hoàn thành công việc học tập do bị phân tâm bởi thông tin tiêu cực.

III. Phương pháp nghiên cứu hành vi doomscrolling

Để hiểu rõ hơn về hành vi doomscrolling, nghiên cứu này sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, bao gồm khảo sát và phỏng vấn. Những phương pháp này giúp thu thập dữ liệu chính xác về thói quen và cảm xúc của sinh viên khi tham gia vào hành vi này.

3.1. Khảo sát trực tuyến

Khảo sát trực tuyến được thực hiện để thu thập thông tin từ sinh viên về thói quen doomscrolling của họ. Các câu hỏi được thiết kế để đánh giá mức độ và tần suất tham gia vào hành vi này.

3.2. Phỏng vấn sâu

Phỏng vấn sâu với một số sinh viên giúp làm rõ hơn về cảm xúc và suy nghĩ của họ liên quan đến hành vi doomscrolling. Những thông tin này cung cấp cái nhìn sâu sắc về tác động của hành vi này đến cuộc sống hàng ngày.

IV. Kết quả nghiên cứu về hành vi doomscrolling

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng hành vi doomscrolling phổ biến trong sinh viên đại học và có nhiều tác động tiêu cực đến sức khỏe tâm lý. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hành vi này, bao gồm khả năng tự điều chỉnh và bối cảnh xã hội.

4.1. Thực trạng hành vi doomscrolling

Hành vi doomscrolling được ghi nhận ở mức độ cao trong sinh viên, với nhiều người dành hàng giờ mỗi ngày để cuộn qua các tin tức tiêu cực. Điều này cho thấy sự cần thiết phải nâng cao nhận thức về vấn đề này.

4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi

Nghiên cứu xác định rằng các yếu tố như khả năng tự điều chỉnh, bối cảnh xã hội, và thiên kiến tiêu cực có ảnh hưởng lớn đến hành vi doomscrolling của sinh viên.

V. Giải pháp giảm thiểu hành vi doomscrolling

Để giảm thiểu hành vi doomscrolling, cần có các giải pháp can thiệp hiệu quả. Các biện pháp này có thể bao gồm giáo dục về sức khỏe tâm lý và khuyến khích sinh viên tham gia vào các hoạt động tích cực hơn.

5.1. Giáo dục về sức khỏe tâm lý

Cần tổ chức các buổi hội thảo và chương trình giáo dục để nâng cao nhận thức về tác động của doomscrolling đến sức khỏe tâm lý. Điều này giúp sinh viên hiểu rõ hơn về hành vi của mình.

5.2. Khuyến khích hoạt động tích cực

Khuyến khích sinh viên tham gia vào các hoạt động thể chất và xã hội có thể giúp giảm thiểu thời gian dành cho doomscrolling. Các hoạt động này không chỉ giúp cải thiện sức khỏe mà còn tạo ra môi trường tích cực hơn.

VI. Kết luận và tương lai của nghiên cứu về doomscrolling

Nghiên cứu về hành vi doomscrolling của sinh viên đại học là một lĩnh vực quan trọng cần được tiếp tục khai thác. Việc hiểu rõ hơn về hành vi này sẽ giúp phát triển các giải pháp hiệu quả nhằm cải thiện sức khỏe tâm lý cho sinh viên.

6.1. Tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc phát triển các công cụ và phương pháp can thiệp hiệu quả để giảm thiểu hành vi doomscrolling. Điều này sẽ góp phần nâng cao sức khỏe tâm lý cho sinh viên.

6.2. Tầm quan trọng của nhận thức cộng đồng

Nâng cao nhận thức cộng đồng về hành vi doomscrolling là rất cần thiết. Các tổ chức giáo dục và xã hội cần phối hợp để tạo ra môi trường hỗ trợ cho sinh viên trong việc quản lý thông tin tiêu cực.

10/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TÓNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ HÀNH VI TÌM KIEM THONG TIN TIÊU CỰC (DOOMSCROLLING) CUA SINH VIEN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về hành vi tìm kiếm thông tin tiêu cực (doomscrolling) của sinh viên 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về hành vi tìm kiếm thông tin tiêu cực (doomscrolling) trên thé giới Năm 1950, những nghiên cứu vẻ tìm kiếm thông tin bắt đầu xuất hiện. Một số nhà nghiên cứu đưa ra các quan điểm về hành vi tìm kiếm thông tin xuất phát khi chủ thé có nhu cầu tìm kiểm thông tin.

Nhu cau thông tin xuất hiện khi chủ thé nhận biết có khoảng cách giữa kiến thức hiện tại của bản thân và nhiệm vụ can giải quyết. Những nghiên cứu liên quan như; Việc nghiên cứu các mô hình tìm kiếm thông tin luôn được quan tâm ở nhiều thời điểm. Các mô hình tìm kiếm thông tin liên quan về sức khỏe bỗ sung bao gồm Czaja và cộng sự (2003) "Mô hình khái niệm về tìm kiếm thông tin bệnh nhân”, Longo (2005) “Mô hình khái niệm mở rộng về hành vi tìm kiếm thông tin". Griffen và Gutteling (2009) mô hình "Tim kiểm và xử lý thông tin rủi ro" và Veinot (2010) "Mô hình đa cấp về phát trién mạng lưới trợ giúp/thông tin về HIV/AIDS." Mô hình thứ hai nôi bật ở chỗ nó coi thông tin hoặc lời khuyên chỉ là một trong số nhiều "tài nguyên” (hoặc "trợ giúp” theo thuật ngữ của Brenda Dervin) mà bệnh nhân có thê tìm kiếm; các loại nguồn lực khác được tìm kiếm sẽ bao gồm điều trị thể chất và hỗ trợ tỉnh thần (Veinot, 2010).

Nghiên cứu Sự bùng nô thông tin: một cái nhìn mới về tìm kiếm thông tin (The information flaneur: A fresh look at information seeking) của Marian Dork và cộng su đã giới thiệu sự bùng nô thông tin như một quan điểm mới lẫy con người làm trung tâm trong việc tìm kiếm thông tin dựa trên nghiên cứu liên ngành. Và những quan diém trong nghiên cứu này muốn hướng đến việc làm cho hành vi tìm kiếm thông tin được nhìn theo hướng lạc quan hơn: sự bùng nô thông tin đại diện cho việc tìm kiếm thông tin vì tò mò, sáng tạo và sự quan trọng của việc tìm kiếm thông tin. Kết quả mô hình tìm kiếm thông tin khái niệm hóa bản chất liên quan giữa các hoạt động và trải nghiệm thông tin như một sự liên tục giữa khám phá theo chiều ngang và sự dim chìm theo chiều dọc. (Marian Dörk et al.

Trong những năm gần đây, sự quan tâm đến nghiên cứu vẻ thông tin và hành vi con người da trở nên phô biến và được chú trọng. Đặc biệt là các nghiên cứu về hành vi thông tin của sinh viên. Nam 2021, Khai thác dữ liệu sách điện từ: hành vi thông tin thực tế của cộng đồng học thuật dai học (E-book data mining: real information behavior of university academic community) của Azra Rafique và cộng sự nghiên cứu với mục đích là kiém tra các mô hình sử dụng dựa trên bằng chứng của cơ sở dữ liệu sách điện tử do Ủy ban Giáo dục Đại học (HEC) đăng ký bởi cộng đồng học thuật tại các tổ chức giáo dục đại học ở Pakistan. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng sách điện tử đang trong giai đoạn phát triển ở trường đại học.

Nghiên cứu này kiểm tra các mô hình sử dụng dựa trên băng chứng của người dùng cơ sở dit liệu sách điện tử và đề xuất tăng cường việc sử dụng các cơ sở dữ liệu điện tử. Nghiên cứu Vai trò của kiến thức truyền thông trong chiến lược tìm kiếm thông tin trực tuyên (The role of media literacy in online information searching strategies) năm 2022 đã nêu lên luận điểm: Các quy trình kiến thức truyền thông và chiến lược tìm kiếm thông tin trực tuyến có các đặc điểm liên quan đến nhau. Và tình trang 6 nhiém thông tin gặp phải khi cô gắng truy cập thông tin trên internet có mỗi quan hệ tuyến tính tích cực với chiến lược tim kiểm thông tin trực tuyến, nghĩa là mức độ mat phương hướng thấp với mức độ ô nhiễm thông tin thấp (Tatar, Sahin & Dogan, 2022). Năm 2023, nghiên cứu Ảnh hưởng của kỹ năng kiến thức thông tin đến hành vi tìm kiếm thông tin và học tập suốt đời của sinh viên đại học (Effect of information literacy skills on university students’ information seeking behaviour and lifelong learning) của Tachie-Donkor và Ezema.

Kết quả nghiên cứu cho thay người trả lời đã phát triển các kỹ năng đáng ké vẻ hiểu biết thông tin và kỹ năng học tập suốt đời và do đó có thái độ tích cực trong việc tìm kiếm thông tin. Bài viết còn kết luận rang phan lớn sinh viên là những người sử dụng thông tin một cách tự tin. Những nghiên cứu về hành vi tìm kiếm thông tin hiện nay chủ yếu liên quan đến hành vi tìm kiểm thông tin trực tuyến. Nghiên cứu Ban dang tìm kiếm bang cách nào (và ở đâu)? Phân tích so sánh hành vi tìm kiếm trên web bằng dt liệu theo dõi web (You are how (and where) you search? Comparative analysis of web search behavior using web tracking data) thay rằng có sự khác biệt trong mô hình tạm thời sử dụng tìm kiểm trên web giữa phụ nữ và nam giới, đánh dau sự cần thiết của việc phân chia dữ liệu theo giới tính trong các nghiên cứu quan sát về hành vi tìm kiếm thông tin trực tuyến.

Những phát hiện của nghiên cứu còn nêu bật những khác biệt về ngữ cảnh trong hành vi tìm kiểm trên web giữa các quốc gia và nhóm nhân khâu học (Urman & Makhortykh, 2023). Song với việc nghiên cứu riêng lẻ về hành vi tìm kiếm thông tin thì vấn đề hành vi tìm kiểm thông tin được chú trọng nhiêu trong giai đoạn khủng hoảng thông tin, phô biến nhất là giai đoạn COVID-19 bùng phát. Nghiên cứu Tìm kiếm thông tin tập the trong cuộc khủng hoảng sức khỏe: những dự báo về xu hướng của google trong thời kỳ dich bệnh COVID-19 (Collective information seeking during a health crisis: predictors of google trends during COVID-19) của Xu va Margolin (2023) kết luận: Cộng đồng quan tâm nhất đến thông tin về “rủi ro trong khu vực” cũng như thông tin có thê định lượng được. Nghiên cứu Phương tiện truyền thông xã hội có quan trọng không? Tác động của việc tìm kiếm thông tin đến quá trình tâm lý và hành vi của COVID-19 (Do social media matter? The effects of information seeking on COVID-19 Psychological and Behavioral Processes) điều tra việc sử dụng thông tin qua mạng xã hội của các cá nhân giúp họ đạt được những tiễn bộ về tâm lý và hành vi như thé nào trong bối cảnh đại dịch COVID-19.

Nghiên cứu có bằng chứng về tác động tích cực của việc tìm kiếm thông tin trên mạng xã hội đối với nhận thức kiểm soát hành vi và những yếu t6 tâm lý đến hành vi chủ đích. Hơn nữa, trong lĩnh vực nghiên cửu này, còn tồn tại các nghiên cứu liên quan đến sự tương tác giữa hành vi tìm kiếm thông tin và các yếu tố có liên quan khác. Nghiên cứu Tiếp xúc ngắn gọn với mạng xã hội trong đại dịch COVID-19; Cuộn trang diệt vong gây ra những hậu quả tiêu cực về mặt cảm xúc, nhưng cuộn trang tử tế thì không (Brief exposure to social media during the COVID-19 pandemic: Doom-scrolling has negative emotional consequences, but kindness-scrolling does not) của Buchanan và các cộng sự đã cho một kết quả khác biệt. Nghiên cứu xem xét cảm xúc của người dùng khi tiếp xúc với các đoạn tin tức ngắn gọn liên quan đến COVID thông qua nguồn cấp dữ liệu Twitter (Nghiên cứu 1) hoặc video trên YouTube (Nghiên cứu 2).

So với nhóm tiếp xúc không có thông tin, chi xem 2-4 phút tin tức liên quan đến COVID đã dẫn đến giảm ngay lập tức va đáng kê ảnh hưởng tích cực (Nghiên cứu 1 và 2) và sự lạc quan (Nghiên cứu 2). Việc tiếp xúc với các hành vi tử tế liên quan đến COVID không gây ra hậu quả tiêu cực giéng nhau, cho thay rằng không phải tat cả việc tiếp xúc trên mang xã hội déu có hại cho sức khỏe. Chúng tôi tháo luận về các chiến lược dé chong lai những hậu quả tiêu cực về mặt cảm xúc khi tiếp xúc với tin tức tiêu cực trên mạng xã hội (Buchanan et al. Guo và Bai (2023) đã nghiên cứu đề tài Đại dịch và truyền thông: Việc tìm kiếm thông tin rủi ro ảnh hưởng như thế nào đến niềm tin và cảm xúc của truyền thông (Pandemic and the media: How risk information seeking influences media trust and emotions).

Kết qua nghiên cứu chứng minh: việc tìm kiểm thông tin liên quan đến COVID-19 từ các phương tiện truyền thông đã làm giảm niềm tin rằng phương tiện truyền thông bóp méo hiện thực, từ đó làm giảm nỗi sợ hãi; và gia tăng niềm tin rằng các phương tiện truyền thông cung cấp những tín hiệu có giá trị, điều này càng làm tăng thêm sự bình tĩnh. Xinhong Zhu và cộng sự (2023) thực hiện nghiên cứu Khám pha mối liên hệ giữa kiến thức về sức khỏe điện tử, cyberchondria, tìm kiếm thông tin sức khỏe trực tuyến và chất lượng giấc ngủ của sinh viên đại học: Một nghiên cửu cắt ngang (Exploring associations between ehealth literacy, cyberchondria, online health information seeking and sleep quality among university students: A cross-section 10 study) đã dua ra kết luận vẻ hành vi tìm kiếm thông tin vẻ sức khỏc như sau: Chất lượng giấc ngủ, tìm kiếm thông tin sức khỏe trực tuyến và hiệu biết về sức khỏe điện tử có ảnh hướng tích cực đến cyberchondria. Với những người có thời gian ngủ 7-§ giờ. tìm kiếm thông tin sức khỏe trực tuyến có liên quan đáng kê với thời gian ngủ (Zhu et al.

Từ những dự đoán vẻ tác động tiêu cực của hành vi tim kiếm thông tin liên tục trong các giai đoạn khủng hoảng thông tin, thuật ngữ doomscrolling xuất hiện từ đó các nhà nghiên cứu đã bat dau tìm hiéu về các đẻ tài liên quan đến hành vi tìm kiếm thông tin tiều cực. Nghiên cứu được quan tâm và mở ra một bước ngoặt mới trong nghiên cứu về doomscrolling là nghiên cứu Dau hiệu tiêu cực: Hành vi tìm kiếm thông tin tiêu cực trên mang xã hội (The dark at the end of the tunnel: Doomscrolling on social media newsfeeds) cua Sharma va cộng sự (2022). Nghiên cứu khái nệm hóa doomscrolling là “mét hành vi tìm thông tin tiêu cực theo thói quen trên các nguồn cấp tin tức” và xây dựng thang do mức độ hành vi doomscrolling.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Hành Vi Doomscrolling Của Sinh Viên Tại Các Trường Đại Học" khám phá hiện tượng doomscrolling, một hành vi ngày càng phổ biến trong giới trẻ, đặc biệt là sinh viên. Nghiên cứu này không chỉ phân tích nguyên nhân và tác động của việc lướt thông tin tiêu cực liên tục mà còn chỉ ra những hệ lụy về tâm lý và sức khỏe tinh thần của sinh viên. Độc giả sẽ nhận được cái nhìn sâu sắc về cách mà hành vi này ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày và cách thức mà sinh viên có thể quản lý thời gian sử dụng mạng xã hội một cách hiệu quả hơn.

Ngoài ra, để mở rộng kiến thức về hành vi tiêu dùng và tâm lý người tiêu dùng, bạn có thể tham khảo tài liệu Nghiên cứu marketing nghiên cứu hành vi sử dụng mì hảo hảo của khách hàng sau khi sản phẩm có thông tin chứa chất cấm. Tài liệu này cung cấp cái nhìn về cách thông tin tiêu cực ảnh hưởng đến quyết định mua sắm của người tiêu dùng, từ đó giúp bạn hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa thông tin và hành vi tiêu dùng. Hãy khám phá để nâng cao hiểu biết của bạn về các vấn đề liên quan đến hành vi và tâm lý trong xã hội hiện đại.