Luận án tiến sĩ nghiên cứu xác định hàm lượng một số chất hữu cơ trong dược phẩm và nước tiểu bằng phương pháp von ampe

Luận án tiến sĩ nghiên cứu xác định hàm lượng chất hữu cơ trong dược phẩm và nước tiểu bằng phương pháp von ampe, góp phần nâng cao chất lượng phân tích.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Hóa phân tích

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2014

176
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU

1.1. ĐẠI CƯƠNG VỀ OFLOXACIN, METRONIDAZOL, CLOPHENIRAMIN MALEAT VÀ CEFADROXIL

1.2. CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH OFLOXACIN, METRONIDAZOL VÀ CLORPHENIRAMIN MALEAT VÀ CEFADROXIL

1.2.1. Các phương pháp xác định ofloxacin

1.2.2. Các phương pháp xác định metronidazol

1.2.3. Các phương pháp xác định clorpheniramin maleat

1.2.4. Các phương pháp xác định cefadroxil

1.3. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CỰC PHỔ VÀ VON-AMPE

1.3.1. Cực phổ xung vi phân (Diffrerential Pulse Polarography – DPP)

1.3.2. Phương pháp Von-ampe hòa tan hấp phụ (AdSV)

1.3.3. Mẫu nước tiểu

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. THIẾT BỊ DỤNG CỤ VÀ HÓA CHẤT

2.1.1. Thiết bị, dụng cụ

2.2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.2.1. Phân tích hàm lượng hoạt chất trong chế phẩm thuốc

2.2.2. Phân tích hàm lượng các thuốc trong nước tiểu bệnh nhân

2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1. Tiến hành thí nghiệm theo phương pháp von-ampe vòng (CV)

2.3.2. Tiến hành thí nghiệm theo phương pháp von-ampe xung vi phân (DP)

2.3.3. Tiến hành thí nghiệm theo phương pháp xung vi phân hòa tan – hấp phụ (DP – AdSV)

2.3.4. Tiến hành thí nghiệm theo kỹ thuật chiết pha rắn (SPE)

2.3.5. Phương pháp định lượng các hoạt chất trong thuốc

2.3.6. Xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUI TRÌNH ĐỊNH LƯỢNG OFLOXACIN

3.1.1. Khảo sát các điều kiện cơ bản xác định ofloxacin

3.1.2. Khảo sát khoảng tuyến tính và đánh giá phương pháp

3.1.3. Xây dựng qui trình định lượng ofloxacin trong mẫu thuốc. Áp dụng thực tế phân tích hàm lượng ofloxacin trong các mẫu thuốc

3.1.4. Nghiên cứu qui trình định lượng ofloxacin trong các mẫu nước tiểu

3.1.5. Áp dụng thực tế phân tích hàm lượng ofloxacin trong các mẫu nước tiểu

3.2. NGHIÊN CỨU QUI TRÌNH ĐỊNH LƯỢNG METRONIDAZOL

3.2.1. Khảo sát các điều kiện thích hợp

3.2.2. Khảo sát khoảng tuyến tính và đánh giá phương pháp

3.2.3. Xây dựng qui trình định lượng metronidazol trong các mẫu thuốc. Áp dụng thực tế phân tích hàm lượng metronidazol trong các mẫu thuốc

3.2.4. Nghiên cứu định lượng metronidazol trong mẫu nước tiểu

3.3. NGHIÊN CỨU QUI TRÌNH ĐỊNH LƯỢNG CLORPHENIRAMIN MALEAT

3.3.1. Khảo sát các điều kiện thích hợp

3.3.2. Khảo sát khoảng tuyến tính và đánh giá phương pháp

3.3.3. Xây dựng qui trình định lượng clorpheniramin maleat trong mẫu thuốc. Áp dụng thực tế phân tích trong các mẫu thuốc

3.4. NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG CEFADROXIL

3.4.1. Nghiên cứu định lượng cefadroxil bằng phương pháp von – ampe xung vi phân

3.4.2. Nghiên cứu định lượng cefadroxil bằng phương pháp von – ampe hòa tan hấp phụ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu hàm lượng chất hữu cơ trong dược phẩm

Nghiên cứu hàm lượng chất hữu cơ trong dược phẩm là một lĩnh vực quan trọng trong ngành dược. Chất hữu cơ đóng vai trò thiết yếu trong việc tạo ra các loại thuốc có hiệu quả điều trị. Việc xác định chính xác hàm lượng của các chất này không chỉ giúp đảm bảo chất lượng thuốc mà còn bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng. Các phương pháp phân tích hiện đại như HPLC, GC-MS, và các phương pháp điện hóa đang được áp dụng rộng rãi để xác định hàm lượng chất hữu cơ trong dược phẩm.

1.1. Định nghĩa và vai trò của chất hữu cơ trong dược phẩm

Chất hữu cơ trong dược phẩm bao gồm các hợp chất có chứa carbon, thường là thành phần chính trong các hoạt chất dược lý. Chúng có vai trò quan trọng trong việc tạo ra hiệu quả điều trị cho bệnh nhân. Việc hiểu rõ về các chất này giúp các nhà nghiên cứu phát triển các loại thuốc mới và cải thiện hiệu quả của các loại thuốc hiện có.

1.2. Tầm quan trọng của việc xác định hàm lượng chất hữu cơ

Xác định hàm lượng chất hữu cơ là cần thiết để đảm bảo rằng thuốc đạt tiêu chuẩn chất lượng. Điều này không chỉ giúp bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng mà còn đảm bảo tính hiệu quả của thuốc. Các phương pháp phân tích chính xác giúp phát hiện các vấn đề tiềm ẩn trong quá trình sản xuất thuốc.

II. Các thách thức trong nghiên cứu hàm lượng chất hữu cơ

Mặc dù có nhiều phương pháp phân tích hiện đại, việc xác định hàm lượng chất hữu cơ trong dược phẩm vẫn gặp nhiều thách thức. Các yếu tố như độ nhạy của thiết bị, sự phức tạp của mẫu, và sự biến đổi của các hợp chất trong quá trình phân tích có thể ảnh hưởng đến kết quả. Ngoài ra, việc phát hiện các chất cấm hoặc chất độc hại trong thuốc cũng là một thách thức lớn.

2.1. Độ nhạy và độ chính xác của các phương pháp phân tích

Độ nhạy và độ chính xác của các phương pháp phân tích là yếu tố quyết định đến kết quả nghiên cứu. Các phương pháp như HPLC và GC-MS có thể cung cấp độ nhạy cao, nhưng cũng cần phải được tối ưu hóa để phù hợp với từng loại mẫu cụ thể.

2.2. Sự phức tạp của mẫu dược phẩm

Mẫu dược phẩm thường chứa nhiều thành phần khác nhau, điều này làm cho việc phân tích trở nên phức tạp. Các chất phụ gia, tá dược có thể ảnh hưởng đến kết quả phân tích, do đó cần có các phương pháp tách chiết hiệu quả trước khi tiến hành phân tích.

III. Phương pháp phân tích hàm lượng chất hữu cơ trong dược phẩm

Có nhiều phương pháp được sử dụng để phân tích hàm lượng chất hữu cơ trong dược phẩm. Các phương pháp sắc ký như HPLC và GC-MS là phổ biến nhất. Ngoài ra, các phương pháp điện hóa như phương pháp von-ampe cũng đang được nghiên cứu và áp dụng. Mỗi phương pháp có ưu điểm và nhược điểm riêng, và việc lựa chọn phương pháp phù hợp là rất quan trọng.

3.1. Phương pháp sắc ký HPLC

HPLC là một trong những phương pháp phổ biến nhất để xác định hàm lượng chất hữu cơ. Phương pháp này có độ nhạy cao và khả năng tách biệt tốt giữa các thành phần trong mẫu. Tuy nhiên, chi phí đầu tư cho thiết bị và hóa chất khá cao.

3.2. Phương pháp điện hóa von ampe

Phương pháp von-ampe là một lựa chọn tiềm năng cho việc phân tích hàm lượng chất hữu cơ. Phương pháp này có chi phí thấp hơn so với HPLC và có thể thực hiện nhanh chóng. Nghiên cứu cho thấy nhiều dược phẩm có hoạt tính điện hóa, điều này mở ra cơ hội cho việc áp dụng phương pháp này trong phân tích dược phẩm.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu hàm lượng chất hữu cơ

Nghiên cứu hàm lượng chất hữu cơ trong dược phẩm không chỉ có ý nghĩa lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn quan trọng. Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng trong việc phát triển thuốc mới, cải thiện quy trình sản xuất, và đảm bảo chất lượng thuốc trên thị trường. Việc xác định chính xác hàm lượng chất hữu cơ cũng giúp các nhà sản xuất đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.

4.1. Phát triển thuốc mới

Kết quả từ nghiên cứu hàm lượng chất hữu cơ có thể hỗ trợ trong việc phát triển các loại thuốc mới. Việc hiểu rõ về các chất này giúp các nhà nghiên cứu tối ưu hóa công thức và quy trình sản xuất.

4.2. Đảm bảo chất lượng thuốc

Việc xác định hàm lượng chất hữu cơ là một phần quan trọng trong quy trình kiểm nghiệm chất lượng thuốc. Điều này giúp đảm bảo rằng thuốc đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng và an toàn cho người tiêu dùng.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu hàm lượng chất hữu cơ

Nghiên cứu hàm lượng chất hữu cơ trong dược phẩm là một lĩnh vực đang phát triển mạnh mẽ. Với sự tiến bộ của công nghệ phân tích, các phương pháp mới sẽ được phát triển để cải thiện độ chính xác và hiệu quả trong việc xác định hàm lượng chất hữu cơ. Tương lai của nghiên cứu này hứa hẹn sẽ mang lại nhiều giá trị cho ngành dược phẩm.

5.1. Xu hướng phát triển công nghệ phân tích

Công nghệ phân tích đang không ngừng phát triển, với nhiều phương pháp mới được nghiên cứu và áp dụng. Điều này sẽ giúp cải thiện độ chính xác và hiệu quả trong việc xác định hàm lượng chất hữu cơ.

5.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu liên ngành

Nghiên cứu hàm lượng chất hữu cơ trong dược phẩm cần có sự hợp tác giữa các lĩnh vực khác nhau như hóa học, dược học và công nghệ sinh học. Sự kết hợp này sẽ tạo ra những giải pháp mới và hiệu quả hơn trong việc phát triển thuốc.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. ĐẠI CƯƠNG VỀ OFLOXACIN, METRONIDAZOL, CLOPHENIRAMIN MALEAT VÀ CEFADROXIL 1. Ofloxacin Ofloxacin là (RS)-7-fluoro-2-methyl-6-(4-methylpiperazin-1-yl)-10- oxo-4-oxa-1-azatricyclo[7.05,13]trideca-5(13),6,8,11-tetraene-11- carboxylic acid. Là kháng sinh nhóm quinonol thế hệ thứ hai.1: Công thức cấu tạo của ofloxacin Ofloxacin có dạng tinh thể hình kim không màu, ít tan trong nước và etanol [1, 5].

Trong công thức cấu tạo ofloxacin có khung quinolon, nhân quinon, có tính axit yếu với pKa1 = 5,8; pKa2 = 7,8 [31]. Hoạt tính điện hóa có thể gây ra bởi nhóm COOH hoặc các nguyên tử N. Theo Gerong Zhou, trong môi trường axit yếu có thể xảy ra phản ứng điện hóa [95]: H O O O O F + 2e + H+ F OH OH N N N N N O N O Ofloxacin là thuốc kháng khuẩn nhóm fluoroquinolon giống như ciprofloxacin, nhưng ofloxacin khi uống có khả dụng sinh học cao hơn (trên 95%). Ofloxacin được dùng trong các bệnh [3]: 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Viêm phế quản nặng do vi khuẩn, viêm phổi, + Nhiễm khuẩn Chlamydia tại cổ tử cung hoặc niệu đạo có hoặc không kèm lậu, lậu không biến chứng, viêm tuyến tiền liệt, viêm đường tiết niệu.

+ Nhiễm khuẩn da và mô mềm. + Viêm đại tràng do nhiễm khuẩn. Ofloxacin được hấp thu nhanh và tốt qua đường tiêu hóa. Khả dụng sinh học qua đường uống khoảng 100% và có nồng độ đỉnh huyết tương khoảng 3 - 4 µg/ml, trong 1 - 2 giờ sau khi uống 400 mg.

Hấp thu bị chậm lại khi có thức ăn nhưng tỷ lệ hấp thu không bị ảnh hưởng. Nửa đời trong huyết tương là 5 - 8 giờ; trong trường hợp suy thận, có khi kéo dài 15 - 60 giờ tùy theo mức độ suy thận [2, 3]. Thận là nơi thải ofloxacin chính, thuốc được lọc qua cầu thận và bài tiết qua ống thận. 75 - 80% thuốc được bài tiết qua nước tiểu dưới dạng không chuyển hóa trong 24 đến 48 giờ, làm nồng độ thuốc cao trong nước tiểu.

Dưới 5% thuốc được bài tiết dưới dạng chuyển hóa trong nước tiểu; 4 đến 8% thuốc bài tiết qua phân. Metronidazol Metronidazol có tên theo IUPAC là 2-(2-methyl-5-nitroimidazol-1- yl)ethanol [1, 5], công thức cấu tạo được biểu diễn trên hình 1.2: CH2 - CH2 - OH O2N N CH3 N Hình 1.2: Công thức cấu tạo của metronidazol Metrodinazol có dạng tinh thể hoặc bột kết tinh trắng hơi vàng, không mùi, bền trong không khí nhưng bị sẫm màu dần khi tiếp xúc với ánh sáng. Metronidazol ít tan trong nước, axeton, rất khó tan trong ete [1, 5]. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Metronidazol có tính chất của nhân imidazol và của nhóm nitro thơm.

Nhóm nitro trong phân tử metronidazole có tính chất tương tự như nitro trên vòng benzene, có tính chất điện hóa. Hoạt tính điện hóa của metronidazol trên điện cực giọt thủy ngân được A.M Bret dự đoán xảy ra quá trình khử nhóm nitro [29]: CH2 - CH2 - OH CH2 - CH2 - OH O2N N CH3 H2N N CH3 + 6e + 6H+ N + 2 H2O N Metrodinazol là thuốc kháng virus chống lại vi khuẩn kị khí và kí sinh trùng theo cách ức chế chọn lọc một số chức nǎng tế bào ở vi khuẩn làm cho chúng bị chết. Metronidazol có phổ hoạt tính rộng trên động vật nguyên sinh như amip, Giardia và trên vi khuẩn kị khí. Cơ chế tác dụng của metronidazol còn chưa thật rõ.

Nồng độ trung bình có hiệu quả của metronidazol là 8 µg/ml hoặc thấp hơn đối với hầu hết các động vật nguyên sinh và các vi khuẩn nhạy cảm. Nồng độ tối thiểu ức chế các chủng nhạy cảm khoảng 0,5 µg/ml. Metronidazol thường hấp thu nhanh và hoàn toàn sau khi uống, đạt nồng độ trong huyết tương khoảng 10 µg/ml khoảng 1 giờ sau khi uống 500 mg. Nửa đời của metronidazol trong huyết tương khoảng 8 giờ.

Metronidazol chuyển hóa ở gan thành các chất chuyển hóa dạng hydroxy và axit, thải trừ qua nước tiểu một phần dưới dạng glucuronid. Nửa đời thải trừ trung bình trong huyết tương khoảng 7 giờ. Nửa đời của chất chuyển hóa hydroxy là 9,5 - 19,2 giờ ở người bệnh có chức năng thận bình thường. Trên 80% liều uống được thải trừ qua thận trong 24 giờ, chủ yếu là các chất chuyển hóa.

Dưới 10% thải trừ dưới dạng chất mẹ. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khoảng 14% liều dùng thải trừ qua phân. Ở người bệnh bị suy thận, nửa đời của chất mẹ không thay đổi, nhưng nửa đời của chất chuyển hóa hydroxy kéo dài gấp 4 đến 17 lần. Chuyển hóa metronidazol có thể bị ảnh hưởng nhiều khi bị suy gan nặng.

Metronidazol có thể loại khỏi cơ thể có hiệu quả bằng thẩm tách máu [3]. Clorpheniramin maleat Clorpheniramin maleat có tên theo IUPAC là 3 – (4 – clorophenyl) – N, N-dimety-3-pyridin-2-yl-propan-1-amin. Công thức cấu tạo được biểu diễn trên hình 1. Cl CH COOH Hình 1.3: Công thức cấu tạo của clorpheniramin maleat Clorpheniramin maleat có dạng bột kết tinh trắng, không mùi, vị đắng, dễ tan trong nước, tan được trong etanol, cloroform [1, 5, 53].

Trong thành phần của clorpheniramin maleat có hai hợp phần: clorpheniramin và axit maleic, có liên kết đôi C=C, nhóm này có thể có hoạt tính điện hóa. Jacobsen [46] đề nghị phản ứng điện cực như sau: CHCOOH CH2COOH + R. CHCOOH CH2COOH Clorpheniramin maleat là thuốc kháng histamin thế hệ 1. Clorpheniramin maleat được sử dụng với liều 2 hoặc 4 mg trong chế phẩm đơn thành phần hoặc phối hợp với các thành phần khác như paracetamol, 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com pseudoephedrin, phenylephrin, phenylpropalamin, dextromethorphan trong chế phẩm đa thành phần.

Clorpheniramin là một kháng histamin có rất ít tác dụng an thần. Như hầu hết các kháng histamin khác, clorpheniramin cũng có tác dụng phụ chống tiết acetylcholin, nhưng tác dụng này khác nhau nhiều giữa các cá thể. Tác dụng kháng histamin của clorpheniramin thông qua phong bế cạnh tranh các thụ thể H1 của các tế bào tác động. Clorpheniramin maleat được dùng để điều trị viêm mũi dị ứng mùa và quanh năm và những triệu chứng dị ứng khác như: mày đay, viêm mũi vận mạch do histamin, viêm kết mạc dị ứng, viêm da tiếp xúc, phù mạch, dị ứng thức ăn, phản ứng huyết thanh; côn trùng đốt; ngứa ở người bệnh bị sởi hoặc thủy đậu.

Hiện nay, clorpheniramin maleat thường được phối hợp trong một số chế phẩm bán trên thị trường để điều trị triệu chứng ho và cảm lạnh. Tuy nhiên, thuốc không có tác dụng trong điều trị triệu chứng nhiễm virus. Clorpheniramin maleat hấp thu tốt khi uống và xuất hiện trong huyết tương trong vòng 30 - 60 phút. Nồng độ đỉnh huyết tương đạt được trong khoảng 2,5 đến 6 giờ sau khi uống.

Khoảng 70% thuốc trong tuần hoàn liên kết với protein. Clorpheniramin maleat chuyển hóa nhanh và nhiều. Các chất chuyển hóa gồm có desmethyl - didesmethyl- clorpheniramin và một số chất chưa được xác định, một hoặc nhiều chất trong số đó có hoạt tính. Nồng độ clorpheniramin trong huyết thanh không tương quan đúng với tác dụng kháng histamin vì còn một chất chuyển hóa chưa xác định cũng có tác dụng.

Thuốc được bài tiết chủ yếu qua nước tiểu dưới dạng không đổi hoặc chuyển hóa, sự bài tiết phụ thuộc vào pH và lưu lượng nước tiểu. Chỉ một lượng nhỏ được thấy trong phân. Thời gian bán thải là 12 - 15 giờ và ở người bệnh suy thận mạn, kéo dài tới 280 - 330 giờ. Một số viên nén clorpheniramin được bào chế dưới dạng tác dụng kéo dài, dưới dạng viên nén 2 lớp.

Lớp 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngoài được hòa tan và hấp thu giống như viên nén thông thường. Lớp trong chỉ được hấp thu sau 4 - 6 giờ. Tác dụng của những viên nén kéo dài bằng tác dụng của hai viên nén thông thường, uống cách nhau khoảng 6 giờ [3]. Cefadroxil Cefadroxil là (6R,7R)-7-{[(2R)-2-(4-hydroxyphenyl)acetyl]amino}-3- methyl-8-oxo-5-thia-1-azabicyclo[4.0]oct-2-ene-2-carboxylic acid monohydrat.

Cefadroxil là cephalosporin nhóm ba thế hệ thứ nhất, là kháng sinh dùng theo đường uống có phổ kháng khuẩn tương tự cefalexin [1, 3, 5, 53]. O H H H HO N S NH2 N O CH3 COOH Hình 1.4: Công thức cấu tạo của cefadroxil Cefadroxil có cả tính chất axit gây ra bởi nhóm cacboxyl (pKa1 = 4,5) và nhóm phenol (pKa2 = 10) và tính bazơ gây ra bởi nhóm amin, tùy pH của môi trường có thể tồn tại ở dạng phân tử hoặc ion [65]. Các cephalosporin có điểm chung về cấu trúc là gồm một vòng amit bốn cạnh azetidin-2- on (còn được gọi là vòng -lactam) gắn với một dị vòng sáu cạnh. Với cấu trúc như vậy, các cephalosporin có đặc điểm chung là khá bền vững trong môi trường axit, không bền trong môi trường kiềm do mở vòng -lactam.

Vòng -lactam nhạy cảm với sự tấn công của tác nhân ái nhân (AN) tạo ra các dẫn xuất của axit cephalosporic không có hoạt tính kháng sinh. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong môi trường kiềm cefadroxil bị thủy phân mở vòng lactam tạo ra các sản phẩm: O O H H S - H H S R1 C C N OH R1 C C N CH o N t NH2 NH2 O= C HN O R2 R2 =- - O COOH O O COO C C - - OH R1 HC NH OH R1 HC NH R2 o S o t HN CH t HN CH CH = N C=C CH2 SH C HN C - R2 COO O - O COO Sản phẩm thủy phân của cefadroxil trong môi trường kiềm có phản ứng như những chất khử cực. Quá trình khử trên điện cực giọt thủy ngân có thể xảy ra ở các liên kết đôi C = C hoặc C = N, tuy nhiên dễ xảy ra ở lên kết C = N hơn. O C R1 HC NH R2 HN CH CH = N C=C CH2 SH + 2e + 2 H2O C - COO O O C R1 HC NH R2 HN - CH CH2 NH C=C CH2 SH + 2 HO C - COO O *Ghi chú: R1 là (HO-C6H5-); R2 là (CH3-) Cefadroxil có tác dụng diệt khuẩn, ngăn cản sự phát triển và phân chia của vi khuẩn bằng cách ức chế tổng hợp vách tế bào vi khuẩn.

Cefadroxil có tác dụng diệt nhiều loại vi khuẩn Gram dương và Gram âm. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cefadroxil được chỉ định trong điều trị các nhiễm khuẩn thể nhẹ và trung bình do các vi khuẩn nhạy cảm [2, 3]: + Nhiễm khuẩn đường tiết niệu + Nhiễm khuẩn đường hô hấp + Nhiễm khuẩn da và mô mềm + Các nhiễm khuẩn khác: Viêm xương tủy, viêm khớp nhiễm khuẩn. Cefadroxil bền vững trong axit và được hấp thụ rất tốt ở đường tiêu hóa. Với liều uống 500 mg hoặc 1000mg, nồng độ đỉnh trong huyết tương tương ứng với khoảng 16 và 30 µg/ml, đạt được sau 1 giờ 30 phút đến 2 giờ.

Thức ăn không làm thay đổi sự hấp thụ thuốc. Nửa đời của thuốc trong huyết tương là khoảng 1 giờ 30 phút ở người chức năng thận bình thường; thời gian này kéo dài trong khoảng từ 14 đến 20 giờ ở người suy thận.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ