Chương 1. Đặc điểm chung Hiện nay, số lượng các khoáng vật sulfua và các hợp chất tương tự được tìm thấy lên tới 350. Theo tính toán của Vernadsky, chúng chiếm 0,15% trọng lượng toàn bộ vỏ Trái đất. Các kim loại đặc trưng trong sulfua là Fe, Cu, Pb, Zn, Sb, Ag, Bi, Co, Ni, trong đó Fe đóng vai trò quan trọng.
Một số kim loại trong sulfua có số phối trí 6, như Fe trong khoáng vật pyrotin Fe1-nS; có số phối trí 3 như Pb trong galenit PbS; Hg, Cu, Ag có số phối trí 4, đôi khi có số phối trí 2, trong trường hợp này sẽ tạo nên mạch xoắn; còn As, Sb, Bi có số phối trí 3. Trong những sulfua tồn tại liên kết cộng hoá trị - phân tử, các nguyên tố thường có cùng số phối trí, ví dụ trong realgar (As4S4) Sulfua có thể là những hợp chất đơn giản, nhưng các sulfua đơn giản có thể tạo thành hợp chất kép; hoặc những hợp chất chứa nhiều nguyên tố khác nhau gọi là sulfo – muối. Sulfua kép Sulfo – muối Covelin Cu2S.CuS2 Pyrargyrit Ag3SbS3 Chalcopyrit Cu2S.Fe2S3 Burnonit PbCuSbS3 Trong một số sulfua, lưu huỳnh bị mất đi khi nung nóng, như pyrit (FeS2), arsenopyrit (FeAsS). Vernadsky coi chúng là các hợp chất của H2S2.
Đa số khoáng vật sulfua đều kết tinh ở các hệ tinh thể hạng cao, trừ một số khoáng vật và sulfo – muối kết tinh ở các hệ tinh thể hạng thấp. Khoáng vật sulfua thường có dạng tinh thể đẹp, đặc biệt là sulfua và disulfua – (sulfua sắt, niken, coban, kẽm, chì). Các loại sulfo - muối và sulfua của nguyên tố bán kim loại thường có dạng tập hợp hạt, sợi, vảy. Đối với sulfua thường gặp các loại song tinh đa hợp, liên tinh song song, liên tinh của các khoáng vật khác nhau – liên tinh của pyrit – marcasit, tetrahedrit – sphalerit, tetrahedrit – chalcopyrit.
3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hầu hết khoáng vật sulfua có màu và đó là đặc điểm để xác định khoáng vật. Các sulfua coban, niken (ít Fe) có màu trắng bạc hoặc xám trắng. Sulfua sắt (ít Cu) có màu vàng. Sulfua bạc, chì có màu xám chì.
Sulfua thuỷ ngân có màu đỏ đặc trưng. Trong thành phần khoáng vật sulfua nếu có Cu2+ thì có màu xanh, tím đỏ… Khoáng vật sulfua thường không trong suốt. Nhưng khoáng vật trong suốt chiếm lượng không đáng kể, như sphelarit, cinabar, realgar, auripigment… Đa số khoáng vật sulfua với mối liên kết cộng hoá trị – kim loại có ánh kim, tính dẫn điện cao, có tính bán dẫn. Sulfua có cấu trúc lớp, cấu trúc dải có độ cứng thấp từ 1 – 2,5.
Sulfua đơn với cấu trúc phối trí có độ cứng trung bình từ 2 – 4. Còn disulfua và hợp chất tương tự có độ cứng từ 6 – 6,5. Sulfua đơn với mối liên kết cộng hoá trị, cấu trúc phối trí (sphalerit), cấu trúc mạch (cinabar), mối liên kết phân tử, cấu trúc lớp (auripigment), mối liên kết phân tử, cấu trúc đảo (realgar) và cấu trúc đảo (proustit) có ánh kim cương, bán trong suốt, có màu rực rỡ, tính giòn cao, độ cứng từ thấp đến trung bình. Đa số khoáng vật có tỉ trọng cao (tới 8,5), trừ sulfua của arsen.
Sulfua chủ yếu có nguồn gốc nhiệt dịch. Điều này chứng tỏ các kim loại nặng được di chuyển dưới dạng các chất bốc. Khi nhiệt độ và áp suất hạ thấp thì chúng tạo nên nhiệt dịch từ đó kết tinh sulfua. Thực nghiệm đã chứng minh các kim loại nặng di chuyển dưới dạng hợp chất phức tạp với Cl, F, Br… Ngoài ra, sulfua còn được thành tạo trong quá trình magma, đôi khi trong điều kiện ngoại sinh, trong đới làm giàu sulfua thứ sinh và trong trầm tích.
Sulfua còn có mặt trong thiên thạch và đá Mặt Trăng. Trong điều kiện trên mặt đất sulfua và các hợp chất tương tự của chúng không bền vững và dễ bị phá huỷ. Trong quá trình oxi hoá, chủ yếu chuyển thành sulfat dễ hoà tan. Từ đó, tạo thành nên một loạt khoáng vật thứ sinh: oxit, cacbonat, sulfat, arsenat, silicat và các kim loại tự sinh.
Hướng chung của quá trình phong hoá khoáng vật sulfua là dẫn tới giải phóng lưu huỳnh. Do đó, trong các mỏ sulfua thấy có sự phân đới rõ ràng. Bắt đầu từ đới oxi hoá: RS + 2O2 → RSO4 R – kim loại 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở phần dưới đới oxi hoá, do H2SO4 và một số muối hoà tan tác dụng với đá vây quanh, tạo nên một loạt khoáng vật mới và kim loại tự sinh. Phổ biến hơn cả là các phản ứng sau: 1.
2CuSO4 + 2CaCO3 + 5H2O → Cu2(OH)2[CO3] + 2Ca[SO4]2H2O + CO2 Malachit Thạch cao 2. CuSO4 + 2FeSO4 → Fe2(SO4)3 + Cu 3. ZnSO4 + CaCO3 + 2H2O → Zn[CO3] + Ca[SO4]2H2O Smisthonit Thạch cao 4. Ag2SO4 + 2FeSO4 → Fe2(SO4)3 + 2Ag Các dung dịch H2SO4 và RSO4 thấm sâu xuống đến đới quặng nguyên sinh (thấp hơn mực nước ngầm), ở đây sẽ xuất hiện H2S, và chúng sẽ tác dụng với quặng nguyên sinh để tạo sulfua thứ sinh.
Phản ứng chung của quá trình thành tạo sulfua thứ sinh có thể viết như sau: MSO4 + RS → RSO4 + MS (R, M là kim loại) Phản ứng tạo thành một số sulfua thứ sinh 14CuSO4 + 5FeS2 + 12H2O → 12H2SO4 + 5FeSO4 + 7Cu2S Chalcosin CuSO4 + H2S → H2SO4 + CuS (Covenlin) Ag2SO4 + Cu2S → Cu2SO4 + Ag2S (Argentit) Do đó ở mỏ sulfua, tại ranh giới với quặng nguyên sinh có một đới làm giàu quặng bởi hàm lượng lớn các kim loại và sulfua thứ sinh, đới này có giá trị lớn. Một số nguyên tố như Ag, Cu tập trung trong đới làm giàu quặng nhiều hơn trong đới quặng nguyên sinh. Một số quặng đồng sulfua 1. Chalcosin Chalcosin có hàm lượng Cu 79,8%.
Trong thành phần thường có tạp chất Ag và Fe. Biến thể nhiệt độ thấp có xếp cầu sáu phương biến dạng của S, nguyên tử Cu và số phối trí 2. Biến thể nhiệt độ cao của chalcosin có cấu trúc gần với cấu trúc ngược của flourit (Benlov, Grigoriew, 1948) và đặc trưng bởi sự thiếu hụt Cu. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thành phần của chúng tương ứng với công thức Cu2-nS, có tên gọi là digenit (một phần Cu+ được thay thế bởi Cu2+) Chalcosin có tính dẻo, dẫn điện tốt, độ cứng và độ dẻo thấp.
Chalcosin thành tạo trong đới làm giàu quặng thứ sinh của mỏ đồng. Đôi khi chalcosin được thành tạo trong qúa trình nhiệt dịch, cộng sinh với bornit – Cu5FeS4, quặng đồng xám, covelin, chalcopyrit và một số sulfua khác. Trong quá trình oxi hoá chalcosin bị biến thành malachit Cu2[CO3](OH)2, cuprit Cu2O, đồng tự sinh và khoáng vật khác. Ở Việt Nam, chalcosin có ở mỏ đồng Bản Xang, Bản Phúc, gần Tạ Khoa (Sơn La), mỏ Sinh Quyền (Lào Cai).
Chalcopyrit CuFeS2 Chalcopyrit có hàm lượng Cu – 34,6%. Chalcopyrit thường chứa tạp chất đồng hình Au, Ag. Cấu trúc gần giống với cấu trúc của sphalerit, trong đó ô mạng cơ sở gấp đôi lên và vị trí Zn được thay thế bằng Cu, Fe. Trong biến thể lập phương talnakhit, sự phân bố Fe và Cu không trật tự.
Chalcopyrit có màu vàng đồng thau, có vết vạch đen hoặc đen xanh, ánh kim. Chalcopyrit thường có màu sặc sỡ do bị oxi hoá, chalcopyrit khác pyrit về màu sắc và độ cứng thấp. Chalcopyrit có nguồn gốc magma, trong đá mafic, cộng sinh với pyrotin, pentlandit. Trong skarn, chalcopyrit cộng sinh với pyrit, pyrotin, sulfua chì, kẽm, đồng.
Ngoài ra chalcopyrit còn có trong các thành tạo ngoại sinh, trong đá trầm tích. Trong đới oxi hoá, chalcopyrit bị biến đổi, tạo nên đồng tự sinh, chalcosin, covelin, cuprit, malachit, azurit, crysocola. Chalcopyrit có mặt ở Bản Xang, Bản Phúc (Sơn La), mỏ đồng Sinh Quyền (Lào Cai) gần Tạ Khoa. Chalcopyrit là quặng đồng quan trọng.
Cùng với Cu còn có Ag, In và một số nguyên tố khác. Đồng được dùng trong công nghiệp điện: động cơ điện, dây dẫn điện…; tạo hợp kim đồng – kẽm (đồng thau chứa 55 – 99% Cu), hợp kim Cu – Sn gọi là đồng đen, đồng điếu để đúc chuông, đúc tượng. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Stanin Cu2FeSnS4 Stanin có thành phần hoá học: Sn – 27,61%; Cu – 29,58%.
Đôi khi có tạp chất Zn tới vài phần trăm. Ngoài ra còn có các tạp chất Sb, Cd, Pb, Ag. Stanin có cấu trúc giống cấu trúc của sphalerit, trong đó vị trí 4 nguyên tử kẽm được thay thế bằng nguyên tử Cu, Fe và Sn. Stanin dẫn điện tốt.
Khác quặng đồng xám bởi có ánh xanh tại những vết vỡ. Stanin có nguồn gốc nhiệt dịch, cộng sinh với casiterit, sphalerit, chalcopyrit, pyrotin và một số sulfua khác. Cùng với casiterit, stanin là nguồn thu hồi thiếc. Bornit Cu5FeS4 Bornit có hàm lượng Cu – 64%.
Quặng đồng có màu sặc sỡ. Trong thành phần đôi khi có tạp chất đồng hình như Ge, Se, Te. Có bốn biến thể đa hình. Cấu trúc biến thể đa hình lập phương nhiệt độ cao bền vững ở nhiệt độ trên 2280C, có dạng cấu trúc tương tự như cấu trúc ngược của flourit.
Đối với biến thể bốn phương nhiệt độ thấp, nguyên tử Fe có số phối trí 6, còn nguyên tử Cu có số phối trí 2. Biến thể ba phương được đặc trưng bởi số phối trí 4 của nguyên tử Fe và Cu trong các khối lớp [Cu3FeS4]2- được liên kết với nhau bởi cation Cu+ và có công thức Cu2[Cu3FeS4]. Những đặc điểm của cấu trúc đã giải thích tính đồng hình phổ biến của những biến thể nhiệt độ cao với chalcosin và biến thể ba phương với chalcopyrit. Những khoáng vật này thường có mặt ở dạng bao thể trong các sản phẩm phân huỷ dung dịch rắn.
Bornit có trong mạch nhiệt dịch, mỏ đa kim loại, có trong đới làm giàu quặng thứ sinh của mỏ sulfua, có trong cát kết chứa đồng. Enargit Cu3[AsS4] Enargit có thành phần hoá học: Cu – 48,3%; As – 19,1%; S – 32,6%. Thường chứa tạp chất Sb, Sc. Cấu trúc tinh thể của enargit tương tự cấu trúc của wurtzit: ở vị trí 3 nguyên tử Zn là ion Cu+ với số phối trí 4, vị trí thứ 4 là gốc anion [AsS4]3-.
Enargit có màu xám thép – đen sắt, giòn, dẫn điện kém, ánh nửa kim loại. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Enargit có nguồn gốc nhiệt dịch nhiệt độ trung bình và thấp. Thường cộng sinh với các sulfua đồng khác. Trong đới oxi hoá, enargit được thay thế bằng malachit, azurit và khoáng vật thứ sinh khác.
Tenantit Cu6+Cu62+As4S13 và tetrahedrit Cu6+Cu62+Sb4S13 Hai khoáng vật này là đại diện chủ yếu của quặng đồng xám. Thành phần chủ yếu của hai khoáng vật là Cu – 45,77%; Sb – 29,22%; S – 25,01% (tetrahedrit) và Cu – 51,57%; As – 20,26%; S – 28,17% (tenantit). Ngoài ra trong thành phần có tới 17% Ag (freibergit) đến 20% Ag (schwazit) tới 10% Zn và nguyên tố khác.