Luận án tiến sĩ về giải phẫu mạch máu vạt bẹn và ứng dụng trong phẫu thuật tạo hình

Luận án tiến sĩ nghiên cứu giải phẫu mạch máu vạt bẹn và ứng dụng trong phẫu thuật tạo hình, cung cấp kiến thức chuyên sâu và thực tiễn.

Chuyên ngành

Nghiên cứu giải phẫu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn
143
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Hệ thống động tĩnh mạch mũ chậu nông

1.1.1. Động mạch mũ chậu nông (ĐMMCN)

1.2. Hệ thống động tĩnh mạch thượng vị nông

1.2.1. Động mạch thượng vị nông (ĐMTVN)

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu giải phẫu mạch máu vạt bẹn trong phẫu thuật tạo hình

Nghiên cứu giải phẫu mạch máu vạt bẹn là một lĩnh vực quan trọng trong phẫu thuật tạo hình. Vạt bẹn, với nguồn cấp máu từ động mạch mũ chậu nông và động mạch thượng vị nông, đã được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi. Việc hiểu rõ về cấu trúc và chức năng của các mạch máu này giúp nâng cao hiệu quả phẫu thuật và cải thiện kết quả thẩm mỹ cho bệnh nhân.

1.1. Đặc điểm giải phẫu của vạt bẹn và mạch máu liên quan

Vạt bẹn là một vạt tổ chức nằm ở vùng bẹn, có nguồn cấp máu từ động mạch mũ chậu nông và động mạch thượng vị nông. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng vạt bẹn có nhiều ưu điểm như chất liệu phong phú và khả năng che phủ khuyết hổng hiệu quả.

1.2. Lịch sử nghiên cứu vạt bẹn trong phẫu thuật tạo hình

Từ những năm 1970, vạt bẹn đã được sử dụng trong phẫu thuật tạo hình. Các nghiên cứu của McGregor, Jackson, Daniel và Taylor đã mở ra hướng đi mới cho việc ứng dụng vạt bẹn trong điều trị khuyết hổng mô mềm.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu mạch máu vạt bẹn

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về vạt bẹn, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề chưa được giải quyết. Sự không đồng nhất trong cấu trúc giải phẫu của các mạch máu có thể ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật. Việc lựa chọn động mạch nào để nối mạch vi phẫu cũng là một thách thức lớn.

2.1. Sự không đồng nhất trong cấu trúc mạch máu

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng động mạch mũ chậu nông và động mạch thượng vị nông có thể có sự khác biệt về kích thước và vị trí. Điều này gây khó khăn trong việc xác định mạch máu nào là phù hợp nhất cho phẫu thuật.

2.2. Khó khăn trong việc lựa chọn động mạch nối

Việc lựa chọn động mạch để nối mạch vi phẫu là một quyết định quan trọng. Các yếu tố như kích thước, vị trí và tính ổn định của mạch máu cần được xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo thành công của phẫu thuật.

III. Phương pháp nghiên cứu giải phẫu mạch máu vạt bẹn hiệu quả

Để nghiên cứu giải phẫu mạch máu vạt bẹn, các phương pháp như phẫu tích, chụp cắt lớp vi tính và siêu âm Doppler đã được áp dụng. Những phương pháp này giúp xác định chính xác vị trí và kích thước của các mạch máu, từ đó nâng cao hiệu quả phẫu thuật.

3.1. Phẫu tích và khảo sát giải phẫu

Phẫu tích là phương pháp truyền thống giúp xác định cấu trúc và vị trí của các mạch máu. Nghiên cứu trên mẫu xác đã cung cấp nhiều thông tin quý giá về động mạch mũ chậu nông và động mạch thượng vị nông.

3.2. Ứng dụng chụp cắt lớp vi tính trong nghiên cứu

Chụp cắt lớp vi tính giúp hình ảnh hóa cấu trúc mạch máu một cách rõ ràng. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng động mạch mũ chậu nông hiện diện trong 91,2% trường hợp, cung cấp thông tin quan trọng cho phẫu thuật viên.

3.3. Siêu âm Doppler trong xác định mạch máu

Siêu âm Doppler là một công cụ hữu ích để xác định vị trí và kích thước của các mạch máu. Nghiên cứu cho thấy có sự tương quan giữa kích thước động mạch và tĩnh mạch, giúp phẫu thuật viên đưa ra quyết định chính xác hơn.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu mạch máu vạt bẹn trong phẫu thuật

Nghiên cứu giải phẫu mạch máu vạt bẹn đã mở ra nhiều ứng dụng thực tiễn trong phẫu thuật tạo hình. Việc hiểu rõ về cấu trúc mạch máu giúp cải thiện kết quả phẫu thuật và giảm thiểu biến chứng cho bệnh nhân.

4.1. Tăng cường khả năng che phủ khuyết hổng

Vạt bẹn với nguồn cấp máu ổn định giúp tăng cường khả năng che phủ khuyết hổng mô mềm. Điều này đặc biệt quan trọng trong các trường hợp phẫu thuật tái tạo vú và các khuyết hổng lớn khác.

4.2. Cải thiện kết quả thẩm mỹ

Nghiên cứu cho thấy vạt bẹn có ưu điểm về kết quả thẩm mỹ tại cả nơi nhận vạt và nơi cho vạt. Điều này giúp bệnh nhân có được kết quả tốt hơn sau phẫu thuật.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu giải phẫu mạch máu vạt bẹn

Nghiên cứu giải phẫu mạch máu vạt bẹn là một lĩnh vực quan trọng trong phẫu thuật tạo hình. Những kết quả đạt được từ các nghiên cứu hiện tại sẽ là nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo, nhằm nâng cao hiệu quả và an toàn trong phẫu thuật.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc làm rõ hơn về vai trò của động mạch thượng vị nông trong việc cấp máu cho vạt bẹn. Điều này sẽ giúp mở rộng ứng dụng của vạt bẹn trong phẫu thuật tạo hình.

5.2. Hướng đi mới trong nghiên cứu mạch máu

Nghiên cứu mạch máu vạt bẹn cần áp dụng các công nghệ mới như hình ảnh học và vi phẫu thuật để nâng cao độ chính xác và hiệu quả trong phẫu thuật. Điều này sẽ góp phần cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu giải phẫu mạch máu vạt bẹn và đối chiếu với ứng dụng trong phẫu thuật tạo hình

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Hệ thống động tĩnh mạch mũ chậu nông 1. Động mạch mũ chậu nông (ĐMMCN) [14],[15],[16]  Nguyên uỷ và các dạng thân chung Giải phẫu kinh điển mô tả ĐMMCN tách ra từ mặt trước động mạch đùi tại vị trí khoảng 1-3 cm dưới dây chằng bẹn (DCB), nhưng lại không đề cập đến tình trạng xuất phát riêng hay có thân chung với động mạch thượng vị nông (ĐMTVN) như thế nào.  Đường đi - Liên quan - ĐM chạy về phía gai chậu trước trên ở dưới mạc đùi và thường chia thành hai nhánh nông và sâu trong phạm vi 1,5 cm cách nguyên ủy.

Nhánh nông chạy ngay vào mô dưới da và đi song song phía dưới DCB khoảng 2 cm. Nhánh sâu tiếp tục đi dưới mạc đùi theo hướng song song với DCB và dưới DCB 1,5 cm. Nó bắt chéo thần kinh bì đùi ngoài, tách các nhánh vào cơ may rồi xuyên qua mạc đùi ở bờ ngoài cơ may. Từ đây, nó tiếp tục đi ra ngoài trong mô dưới da và tách các nhánh nhỏ đi vào mào chậu.

Nhánh sâu to hơn và có mặt ở 100% trường hợp [17]. Nhánh sâu có thể chỉ còn là một nhánh nhỏ sau khi đi qua mạc đùi hoặc có thể hoàn toàn đi dưới mạc đùi.  Kích thước Y văn kinh điển ghi nhận ĐMMCN có đường kính trung bình khoảng 1-2 mm.  Thông nối ĐMMCN thông nối với các nhánh của ĐM mũ chậu sâu, ĐM cơ căng mạc đùi, ĐMTVN, ĐM mông trên.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4  Diện tích cấp máu ĐMMCN cấp máu cho da và tổ chức dưới da vùng bẹn. Các kích thước vạt da bẹn dựa trên ĐMMCN lớn nhất được lấy trên lâm sàng là 22 x 31cm theo Strauch [18] và 18 x 28 cm theo Webster [19], lớn hơn rất nhiều so với vùng nhuộm màu lớn nhất trên xác tươi (13 x 20 cm) [20].  Theo các công trình nghiên cứu Thông tin về các đặc điểm giải phẫu của ĐMMCN vẫn còn nhiều khác biệt giữa các thời kỳ. Trước đây, ĐMMCN vẫn được coi là kém hằng định về giải phẫu và thường được cho là nhỏ, nhưng các nghiên cứu trong những năm gần đây lại cho thấy nó có tỷ lệ sự hiện diện cao và kích thước ĐM được cho là đủ lớn cho nối vi phẫu, đủ điều kiện để làm cuống vạt cho vạt bẹn tự do, kể cả vạt tự do mạch xuyên ĐMMCN.

Năm 1979, Nguyễn Huy Thọ đã phẫu tích 25 vạt da bẹn đã ghi nhận ĐMMCN trực tiếp tách riêng ra từ ĐM đùi trong 16 tiêu bản, từ ĐM đùi nông 4 tiêu bản và có thân chung với ĐMTVN 5 tiêu bản. Kích thước trung bình ĐMMCN ở đoạn gốc là 1,35 ± 0,32 mm [8]. Nghiên cứu của Strauch B. và Yu HL [18] mô tả ĐMMCN tách ra từ mặt trước ĐM đùi ở khoảng 3cm dưới DCB, 48% trường hợp ĐMMCN và ĐMTVN có thân chung; 52% có thân riêng, ĐMMCN có đường kính trung bình 1,4 mm (0,8 – 3,0 mm).

Theo Katai và cộng sự (cs) [21] nghiên cứu trên 50 tiêu bản, ĐMMCN hiện diện trong 50/50 trường hợp, 63,6% ĐMMCN có thể tách ra có thân riêng và 36,4% có thân chung với ĐMTVN. Nếu có thân riêng thì ĐMMCN thường ở xa hơn ĐMTVN 1 - 2 cm tính từ DCB, đường kính ĐMMCN trung bình là 1,6 ± 0,4 mm. Trong nghiên cứu giải phẫu của Cassio V Penteado [22] trên 61 tiêu bản (43 xác cố định formol) từ 2 bên bẹn (29 bên phải và 32 bên trái) của cả hai giới người trưởng thành (48 nam và 13 nữ), da trắng, da đen, lứa tuổi khác LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 nhau 30-70 tuổi. Kết quả cho thấy các mẫu đều có sự hiện diện ĐMMCN, tỷ lệ tách trực tiếp từ ĐM đùi là 83,3% số trường hợp.

Số còn lại 16,7%, có thể tách từ ĐMMCS (6,6%), từ ĐM mũ đùi ngoài (ĐMMĐN) (6,6%) và từ ĐM đùi sâu (ĐMĐS) (3,3%). ĐMMCN phát sinh từ một thân chung với ĐMTVN chiếm 41,7% điểm xuất phát của ĐMMCN từ ĐM đùi nằm ở mức 1,4 cm dưới DCB, đường đi của ĐMMCN là gần như song song với DCB. Chuang và cs [23] nghiên cứu trên mẫu 73 vạt bẹn tự do thấy tỷ lệ hiện diện ĐMMCN là 100%, ĐMMCN tách trực tiếp từ ĐM đùi ở khoảng 2 – 3cm phía dưới DCB trong 58% trường hợp, hoặc tách từ thân chung với ĐMTVN trong 32% trường hợp. Đường kính ĐM trung bình 1 mm, chiều dài cuống mạch trung bình 4 – 7 cm.

Dong Hoon Choi và cs [24] vi phẫu tích làm mỏng vạt bẹn che phủ khuyết hổng vùng hàm mặt cho 6 bệnh nhân, thấy tỉ lệ hiện diện của ĐMMCN là 100%, đường kính trung bình 0,7 mm, cuống mạch dài trung bình là 4,6 cm. Raphael Sinna và cs [25] nghiên cứu với mẫu 20 tiêu bản thấy tỉ lệ ĐMMCN hiện diện 20/20 (100%), đường kính ĐM trung bình 1,9  0,6 mm, khoảng cách từ gốc đến DCB khoảng 3,2 cm; 5 trường hợp gốc cách điểm giữa DCB trong vòng 1cm, trong vòng 2 cm có 7 trường hợp và 18 trường hợp có thân chung với ĐMTVN. Sol và CS (2013) [26] nghiên cứu trên 68 tiêu bản của 34 xác ướp formol, kết quả cho thấy ĐMMCN tách ra từ ĐM đùi là 69,12%, còn lại 30,88% tách ra từ ĐMMĐN, ĐM mũ chậu sâu, ĐMĐS. ĐMMCN và ĐMTVN có thân chung là 20,59%.

Khi ĐMMCN và ĐMTVN có nguyên ủy riêng biệt từ ĐM đùi, đường kính trung bình của ĐMMCN là 1,42 mm. Trong trường hợp chỉ có ĐMMCN mà không có ĐMTVN, với những trường hợp tách từ ĐM đùi thì đường kính trung bình của ĐMMCN tại nguyên ủy là 1,35 mm (0,9 – 2 mm). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Nguyễn Văn Huy [9] khảo sát trên 56 tiêu bản phẫu tích vùng bẹn thấy ĐMMCN hiện diện ở 56/56 tiêu bản, ĐMTVN hiện diện ở 38/56 tiêu bản (67,8%), một trường hợp có 2 ĐMMCN. Tác giả coi bất cứ nhánh da nào từ ĐM đùi chạy về phía gai chậu trước trên theo hướng song song với DCB là ĐMMCN, những ĐM da chạy lên da bụng và bắt chéo DCB trong phạm vi 3 cm ngoài điểm giữa DCB là ĐMTVN.

ĐMMCN tách ra từ ĐM đùi gặp ở 43/56 tiêu bản (76,8%), từ các nhánh của ĐM chậu ngoài và ĐM đùi gặp ở 13/56 tiêu bản. Tĩnh mạch mũ chậu nông (TMMCN) Hệ thống tĩnh mạch nông vùng bẹn bao gồm hai loại, một loại là TMMCN nằm ở lớp nông hơn so với ĐMMCN, TM này không đi tuỳ hành với ĐM và thường dẫn lưu về TM đùi hoặc TM hiển lớn ở vị trí gần hố bầu dục, loại còn lại là TM tuỳ hành đi kèm với ĐMMCN tương ứng và thường dẫn lưu về TM đùi hoặc đôi khi về hành TM hiển. và cs [27] ghi nhận TMMCN thường hiện diện dưới dạng là một TM riêng lẻ trong 54,6%, dưới dạng hai TM tùy hành ĐMMCN trong 36,4%. Trường hợp TMMCN là một nhánh độc lập, hướng đi của nó không liên quan với hướng đi của ĐMMCN, TMMCN thường nằm ở phía trong và ở lớp nông hơn so với ĐMMCN, TMMCN đa số dẫn lưu về hành TM hiển nhiều hơn là về TM đùi.

Hai TMMCN tùy hành ĐMMCN thường nối với nhiều nhánh TM khác, và đa phần dẫn lưu về hành TM hiển. Đường kính trung bình của TMMCN là 1,6 mm. Berish và Han-Liang Yu [28] mô tả chi tiết hệ TM vùng bẹn thấy có một TMMCN độc lập và 1 đến 2 TM tuỳ hành đi kèm ĐMMCN. TMMCN ở nông hơn, dẫn lưu cho vùng da và dưới da, đổ vào hành TM hiển cùng với tĩnh mạch thượng vị nông (TMTVN), hoặc có thể đổ vào riêng biệt hoặc có thân chung (50 – 60%).

TMMCN có kích thước lớn hơn các TM tuỳ hành và là đường dẫn lưu chính cho vùng da bụng dưới. Các TM tuỳ hành ở lớp sâu hơn cùng với TMMCN và đổ về TM đùi. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Theo nghiên cứu của Strauch B.L năm 2006 [18], kích thước của TMMCN đo được vào khoảng 1 mm. Kích thước của TMMCN sẽ lớn hơn nếu chung thân với các TM khác, nếu có thân chung với TMTVN và đổ vào hành TM hiển thì đường kính trung bình là 2,5 mm (1,2 – 5,0 mm) và nếu đổ vào hành TM hiển với thân riêng thì đường kính TMMCN trung bình là 2,0 mm.

Đặc điểm giải phẫu động - tĩnh mạch mũ chậu nông trên các phương tiện chẩn đoán hình ảnh. và cộng sự [29] khảo sát phim chụp cắt lớp vi tính vùng bẹn bụng trên 17 bệnh nhân chuẩn bị phẫu thuật tạo hình. Tác giả ghi nhận ĐMMCN có trong 31 trường hợp (91,2%), ĐMTVN hiện diện trong 22 trường hợp (64,7%). 8/22 trường hợp (36,4%) ĐMMCN và ĐMTVN có thân chung và kích thước trung bình của ĐMMCN là 1,4 ± 0,4 mm.

Ba vùng khảo sát các động mạch vùng thành bụng trước ở ngang mức dây chằng bẹn và ở ngang mức gai chậu trước trên. * Nguồn: theo Fukaya E. [29] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Năm 2011, Stocca và cộng sự với nghiên cứu có cỡ mẫu n=174, được chụp cắt lớp vi tính mạch máu có cản quang đã cho thấy ĐMMCN hiện diện 47% trường hợp, cả 2 bên là 19 trường hợp (40%), 1 bên 28 trường hợp (60%) có đường kính lớn hơn 1,5 mm (24%) [30]. Phim chụp cắt lớp vi tính cho thấy ĐMMCN và ĐMMCS.

Sự hiện diện của ĐMMCN, ĐMTVN (vị trí mũi tên hồng).He và cs [31] chụp cắt lớp vi tính mạch máu đa dãy trước phẫu thuật tái tạo vùng hàm mặt bằng vạt mạch xuyên từ ĐMMCN. Nghiên cứu đã cung cấp một số kết quả về ĐMMCN và TMMCN trên phim chụp cắt lớp như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 - Tỉ lệ hiện diện của ĐMMCN, TMMCN ở cả hai bên 100%. - Đường kính trung bình của ĐMTVN khi có hiện diện: 0,8 mm, dài 10,5 cm - Đi kèm ĐMMCN luôn có 1 TM nông dưới da cùng bên. Cấu trúc ba chiều của vùng bẹn trên phim chụp cắt lớp.

Mũi tên đỏ: nhánh nông của ĐMMCN phải. Mũi tên xanh: nhánh sâu của ĐMMCN phải. Mũi tên đen: nhánh nông của ĐMMCN bên trái.He và cs [31] Bên cạnh chụp cắt lớp mạch máu, siêu âm cũng là một công cụ hữu dụng để xác định vị trí và kích thước động – tĩnh mạch mũ chậu nông. Tác giả Kensuke Tashiro và cs [32] dùng siêu âm Doppler màu khảo sát 11 vạt ĐMMCN và ghi nhận các kết quả dưới đây: - TM tuỳ hành đi kèm ĐM nhỏ so với TM nông.

- Có tỉ lệ nghịch nhẹ giữa đường kính TMMCN và đường kính TMTVN ở cùng bên, nhưng không có ý nghĩa thống kê. - Có tương quan giữa đường kính TMMCN hai bên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ