Nghiên cứu giải pháp giảm nghèo đa chiều tại xã Tân Vinh, Lương Sơn, Hòa Bình

Khám phá các giải pháp bền vững giúp Hòa Bình giảm nghèo đa chiều hiệu quả, nâng cao chất lượng cuộc sống, phát triển kinh tế địa phương.

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2018

65
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan giải pháp GNBV theo hướng nghèo đa chiều tại Tân Vinh

Nghèo đói không còn là câu chuyện chỉ về thiếu hụt thu nhập. Tại xã Tân Vinh, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, một cách tiếp cận mới đang được áp dụng để giải quyết gốc rễ vấn đề: nghèo đa chiều. Phương pháp này nhìn nhận nghèo đói là sự thiếu hụt đồng thời trên nhiều phương diện thiết yếu của cuộc sống, thay vì chỉ dựa vào chuẩn thu nhập đơn chiều. Nghiên cứu tại địa phương cho thấy, việc chuyển đổi sang đo lường nghèo đa chiều giúp xác định chính xác hơn các đối tượng cần hỗ trợ và xây dựng các chính sách giảm nghèo trúng đích. Theo quyết định số 59/2015/QĐ-TTg, chuẩn nghèo mới không chỉ xét thu nhập mà còn đánh giá mức độ thiếu hụt trong 5 chiều dịch vụ xã hội cơ bản, bao gồm: y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch - vệ sinh và tiếp cận thông tin. Cách tiếp cận này là nền tảng cho việc xây dựng các giải pháp giảm nghèo bền vững (GNBV), hướng tới mục tiêu không chỉ giúp người dân thoát nghèo về mặt tài chính mà còn cải thiện toàn diện điều kiện sống của người dân, nâng cao năng lực và cơ hội phát triển lâu dài. Đây là một bước tiến quan trọng trong công tác xóa đói giảm nghèo, phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia và góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh Hòa Bình.

1.1. Định nghĩa và ý nghĩa của phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều

Khái niệm nghèo đa chiều được hiểu là tình trạng một cá nhân hay hộ gia đình bị thiếu hụt tiếp cận từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Không giống cách đo lường truyền thống chỉ dựa trên thu nhập, phương pháp này cung cấp một bức tranh toàn diện hơn về sự khốn khó. Nó công nhận rằng nghèo đói còn là sự thiếu thốn về cơ hội học tập, chăm sóc sức khỏe, điều kiện nhà ở an toàn, và khả năng kết nối với xã hội. Việc áp dụng chỉ số nghèo đa chiều (MPI) giúp chính quyền địa phương xác định rõ ràng các nhóm dễ bị tổn thương nhất, từ đó thiết kế các gói can thiệp phù hợp, đảm bảo an sinh xã hội một cách hiệu quả và công bằng.

1.2. Phân tích 5 chiều thiếu hụt cơ bản trong GNBV tại Lương Sơn

Tại xã Tân Vinh, việc đo lường nghèo đa chiều tập trung vào 5 lĩnh vực chính. Thứ nhất là giáo dục, xem xét trình độ học vấn của người lớn và tình trạng đi học của trẻ em. Thứ hai là y tế, đánh giá khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và việc tham gia bảo hiểm y tế. Thứ ba là nhà ở, dựa trên chất lượng và diện tích nhà ở bình quân. Thứ tư là điều kiện sống, bao gồm nguồn nước sinh hoạt và nhà tiêu hợp vệ sinh. Cuối cùng là khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản về thông tin, thông qua việc sử dụng dịch vụ viễn thông và sở hữu các tài sản như tivi, radio. Việc xác định các chiều thiếu hụt này là cơ sở để triển khai các mô hình giảm nghèo hiệu quả.

II. Thách thức trong công tác giảm nghèo đa chiều tại xã Tân Vinh

Thực trạng đói nghèo Hòa Bình, đặc biệt tại xã Tân Vinh, cho thấy nhiều thách thức phức tạp khi áp dụng chuẩn nghèo mới. Mặc dù công tác giảm nghèo đã đạt được một số thành tựu, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo vẫn còn ở mức đáng quan ngại, chiếm 11,25% vào năm 2016. Vấn đề không chỉ nằm ở thu nhập thấp mà còn ở sự thiếu hụt sâu sắc về các dịch vụ xã hội. Dữ liệu nghiên cứu chỉ ra rằng nhiều hộ gia đình dù có thu nhập trên chuẩn nghèo nhưng vẫn bị xếp vào diện nghèo do thiếu hụt nhiều chỉ số cùng lúc, chẳng hạn như nhà ở tạm bợ, trình độ học vấn thấp và không có nhà tiêu hợp vệ sinh. Những đặc điểm hộ nghèo Lương Sơn thường là thiếu đất sản xuất, thiếu kiến thức khoa học kỹ thuật và hạn chế trong việc tiếp cận nguồn vốn. Bên cạnh đó, các yếu tố về điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và hạ tầng chưa đồng bộ cũng là rào cản lớn. Việc giải quyết những thách thức này đòi hỏi một chiến lược tổng thể, không chỉ tập trung vào hỗ trợ tài chính mà còn phải nâng cao năng lực cộng đồng và cải thiện cơ sở hạ tầng, đảm bảo quá trình giảm nghèo bền vững.

2.1. Phân tích thực trạng thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản

Số liệu phân tích tại Tân Vinh cho thấy mức độ thiếu hụt không đồng đều giữa các chiều. Trong năm 2017, các chỉ số thiếu hụt nghiêm trọng nhất bao gồm chất lượng nhà ở (50% hộ nghèo sống trong nhà thiếu kiên cố), trình độ giáo dục người lớn (48% hộ nghèo có người không tốt nghiệp THCS), và điều kiện sống (52% hộ nghèo thiếu nguồn nước hoặc nhà tiêu hợp vệ sinh). Ngược lại, chỉ số về bảo hiểm y tế gần như được giải quyết triệt để nhờ chính sách hỗ trợ của nhà nước. Sự chênh lệch này cho thấy cần có sự ưu tiên trong phân bổ nguồn lực, tập trung vào các vấn đề cấp bách nhất để cải thiện điều kiện sống của người dân.

2.2. Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng nghèo đa chiều

Nguyên nhân của tình trạng nghèo đa chiều tại Tân Vinh mang tính hệ thống. Trình độ dân trí thấp và tư duy sản xuất lạc hậu là rào cản lớn nhất trong việc tiếp thu khoa học kỹ thuật và chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Nguồn lực đất đai manh mún, kết cấu hạ tầng yếu kém, đặc biệt là giao thông, gây khó khăn cho việc giao thương và tiêu thụ sản phẩm. Bên cạnh đó, khả năng tiếp cận các nguồn vay vốn ưu đãi cho hộ nghèo còn hạn chế do thiếu thông tin và tài sản thế chấp. Những yếu tố này tạo thành một vòng luẩn quẩn, khiến các hộ gia đình khó có thể tự vươn lên và dễ dàng tái nghèo khi gặp các cú sốc như thiên tai hay bệnh tật.

III. Phương pháp GNBV thông qua phát triển sinh kế và kinh tế hộ

Để giải quyết nghèo đói một cách bền vững, việc cốt lõi là tạo ra sinh kế và nâng cao thu nhập cho người dân. Tại xã Tân Vinh, các giải pháp sinh kế được xác định là chìa khóa để phá vỡ vòng luẩn quẩn của nghèo đói. Thay vì chỉ cung cấp hỗ trợ trực tiếp, định hướng của địa phương là trao 'cần câu' thay vì 'con cá'. Điều này được thực hiện thông qua việc triển khai các mô hình kinh tế nông nghiệp hiệu quả, phù hợp với điều kiện đất đai và khí hậu. Các chương trình khuyến nông, chuyển giao khoa học kỹ thuật trong trồng trọt và chăn nuôi được đẩy mạnh. Chính sách vay vốn ưu đãi cho hộ nghèo từ Ngân hàng Chính sách xã hội đóng vai trò đòn bẩy, giúp các hộ có nguồn vốn ban đầu để đầu tư sản xuất, kinh doanh. Mục tiêu không chỉ là tăng thu nhập trước mắt mà còn là xây dựng nền tảng kinh tế vững chắc cho các hộ gia đình, giúp họ tự chủ và có khả năng chống chọi với rủi ro, đóng góp vào mục tiêu chung về phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

3.1. Triển khai các mô hình giảm nghèo hiệu quả trong nông nghiệp

Nghiên cứu tại Tân Vinh đã chỉ ra tiềm năng của các mô hình sản xuất nông nghiệp giá trị cao như trồng rau hữu cơ và cải tạo giống lúa. Vai trò của chính quyền địa phương là rất quan trọng trong việc quy hoạch vùng sản xuất, kết nối với doanh nghiệp để bao tiêu sản phẩm và tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật. Việc nhân rộng các mô hình giảm nghèo hiệu quả này không chỉ tăng thu nhập mà còn tạo việc làm tại chỗ, hạn chế tình trạng di cư lao động, góp phần vào công cuộc phát triển nông thôn mới.

3.2. Tăng cường khả năng tiếp cận tín dụng và vốn ưu đãi

Để các hộ nghèo có thể đầu tư vào sản xuất, việc tiếp cận vốn là yếu tố tiên quyết. Chương trình cho vay vốn ưu đãi cho hộ nghèo cần được đơn giản hóa về thủ tục và tăng cường giám sát để đảm bảo vốn được sử dụng đúng mục đích. Việc kết hợp cho vay vốn với hướng dẫn kỹ thuật và quản lý kinh tế hộ gia đình sẽ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm thiểu rủi ro và ngăn chặn tình trạng nợ xấu, tạo điều kiện cho các hộ tự tin phát triển kinh tế.

IV. Bí quyết cải thiện an sinh xã hội dịch vụ công cho người dân

Một trụ cột quan trọng của giảm nghèo bền vững là đảm bảo an sinh xã hội và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản cho mọi người dân. Tại xã Tân Vinh, các chính sách giảm nghèo không chỉ dừng lại ở hỗ trợ kinh tế mà còn tập trung mạnh mẽ vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống. Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ trực tiếp như cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí cho người nghèo, miễn giảm học phí cho học sinh thuộc hộ nghèo. Điều này giúp giảm gánh nặng chi phí cho các gia đình, tạo điều kiện cho trẻ em được đến trường và người dân được chăm sóc sức khỏe tốt hơn. Bên cạnh đó, các chương trình hỗ trợ về nhà ở, cung cấp nước sạch và cải thiện vệ sinh môi trường cũng được triển khai. Việc đầu tư đồng bộ vào các dịch vụ xã hội cơ bản không chỉ giải quyết các thiếu hụt trước mắt mà còn là sự đầu tư vào vốn con người, tạo ra một thế hệ khỏe mạnh, có tri thức, đủ năng lực để thoát nghèo và xây dựng tương lai bền vững.

4.1. Nâng cao hiệu quả chính sách y tế và giáo dục cho hộ nghèo

Tại Tân Vinh, 100% người thuộc hộ nghèo đã được cấp thẻ bảo hiểm y tế. Tuy nhiên, thách thức nằm ở việc nâng cao nhận thức của người dân về phòng và chữa bệnh chủ động. Về giáo dục, chính sách miễn giảm học phí cần đi đôi với việc hỗ trợ chi phí học tập khác và vận động để giảm tỷ lệ học sinh bỏ học. Việc đầu tư vào giáo dục chính là giải pháp lâu dài để phá vỡ chu kỳ nghèo đói giữa các thế hệ.

4.2. Giải pháp cải thiện điều kiện nhà ở và vệ sinh môi trường

Chất lượng nhà ở và vệ sinh là một trong những chiều thiếu hụt nghiêm trọng nhất tại địa phương. Các chương trình như hỗ trợ xây dựng nhà tình thương, nhà đại đoàn kết cần được đẩy mạnh. Song song đó, việc tuyên truyền, hỗ trợ người dân xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh và tiếp cận nguồn nước sạch là cực kỳ cấp thiết để cải thiện sức khỏe cộng đồng và nâng cao chất lượng sống, góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững.

V. Định hướng GNBV tại Tân Vinh và vai trò của các bên liên quan

Để công cuộc xóa đói giảm nghèo tại xã Tân Vinh đạt được kết quả bền vững, cần có một định hướng chiến lược rõ ràng và sự phối hợp đồng bộ của các bên liên quan. Trong tương lai, mục tiêu không chỉ là giảm tỷ lệ hộ nghèo mà còn là ngăn chặn tái nghèo và thu hẹp khoảng cách giàu nghèo. Định hướng chính là chuyển từ hỗ trợ mang tính bao cấp, cho không sang hỗ trợ có điều kiện, gắn với trách nhiệm và sự nỗ lực vươn lên của chính người nghèo. Vai trò của chính quyền địa phương là trung tâm, từ việc xây dựng kế hoạch, huy động nguồn lực đến tổ chức thực hiện và giám sát. Tuy nhiên, thành công của chương trình còn phụ thuộc rất lớn vào sự tham gia chủ động của cộng đồng và bản thân các hộ nghèo. Việc nâng cao năng lực cộng đồng thông qua các hoạt động tập huấn, trao đổi kinh nghiệm sẽ giúp người dân tự tin hơn trong việc ra quyết định và làm chủ cuộc sống của mình. Đây là con đường duy nhất để xây dựng một xã hội phát triển toàn diện, không ai bị bỏ lại phía sau.

5.1. Tăng cường vai trò của chính quyền địa phương và cộng đồng

Vai trò của chính quyền địa phương cần được thể hiện rõ nét trong việc lồng ghép các chương trình, dự án giảm nghèo với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tổng thể của xã. Cán bộ địa phương phải là người sâu sát, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người dân để có những điều chỉnh chính sách kịp thời. Đồng thời, cần phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể và cộng đồng dân cư trong việc giám sát, hỗ trợ và động viên các hộ nghèo vươn lên.

5.2. Hướng tới mục tiêu thoát nghèo bền vững và không tái nghèo

Mục tiêu cuối cùng của Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững là giúp người dân không chỉ thoát nghèo mà còn không bị tái nghèo. Điều này đòi hỏi các giải pháp phải mang tính dài hạn. Cần xây dựng các mô hình sinh kế có khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu và biến động thị trường. Đồng thời, việc xây dựng mạng lưới an sinh xã hội linh hoạt, có khả năng hỗ trợ các hộ gia đình khi gặp rủi ro đột xuất là yếu tố then chốt để đảm bảo thành quả giảm nghèo được duy trì một cách vững chắc.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/10/2025
Nghiên cứu giải pháp gnbv theo hướng tiếp cận nghèo đa chiều tại xã tân vinh huyện lương sơn tỉnh hòa bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 5 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Khái niệm về đói nghèo 1.1 Khái niệm nghèo đói trên thế giới Nghèo đói là một khái niệm mang tính chất động, nó biến đổi tùy thuộc vào không gian và xuất phát điểm của mỗi địa phương, mỗi quốc gia. Tùy thuộc vào từng quốc gia, từng thời điểm khác nhau, cũng như quan điểm nghiên cứu khác nhau mà nghèo đói được phát biểu khác nhau. Đói là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo cho nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống.

Đó là những hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, thường vay nợ cộng đồng và thiếu khả năng chitrả”. Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn nhu cầu cơ bản, tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mứcsốngtrungbìnhcủacộngđồngxéttrênmọiphươngdiện”(Bộ Kế hoạch đầu tư, 2005). Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đưa ra khái niệm về nghèo theo thu nhập là: “Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định”. Thước đo các tiêu chuẩn tối thiểu đế xác định nghèo thay đổi tuỳ theo từng vùng, từng địa phương và theo các giai đoạn thời gian.

Tuy nhiên các tiêu chí và chuẩn mực đánh giá, phân loại sự nghèo đói còn phụ thuộc và từng vùng, từng điều kiện lịch sử nhất định. Trên góc độ khác Liên hợp Quốc đã đưa ra hai khái niệm về nghèo đó là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối như sau: - Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởngnhững nhu cầu cơ bản tối thiểu. Nhu cầu cơ bản tối thiểu cho cuộc sống lànhững đảmbảoở mứctốithiểuvềăn, mặc,ở,giaotiếpxãhội,vệsinh,ytế vàgiáodục. Ngoài những nhu cầu cơ bản trên, cũng có ý kiến cho rằng nhu cầu tối thiểu bao gồmquyềnđượcthamgiavàocácquyếtđịnhcủacộngđồng.

- Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng và ở một thời kỳ nhất định. Nghèo tương đối 6 phát triển theo không gian và thời gian nhất định tuỳ thuộc vào mức sống chung của xã hội. Như vậy, nghèo tương đối gắn liền với sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận dân cư so với mức sống trung bình của địa phương ở một thời kỳnhất định. Từ những đánh giá trên, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc xoá dần nghèo tuyệt đối là công việc có thể làm, còn nghèo tương đối là hiện tượng thường có trong xã hội và vấn đề cần quan tâm là rút ngắn khoảng cách chênh lệch giàu nghèo và hạn chế sự phân hoá giàu nghèo.3 Khái niệm về đói nghèo ở ViệtNam Khái niệm về đói nghèo ở Việt Nam tương đồng với những khái niệm về đói nghèo được thừa nhận rộng rãi trên thế giới.

Việt Nam đã thừa nhận khái niệm chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội vàphong tục tập quán của địa phương”. Như vậy, đói nghèo ở Việt Nam không chỉ được nhìn nhận ở phương diệnthiếuthốnnhữngnhucầuvậtchấttốithiểunhưănmặc,giáodục,ytếmà ở cả phương diện thiếu những cơ hội tạo thu nhập, dễ bị tổn thương, ít có khả năng tham gia vào việc ra các quyết định liên quan đến bảnthân.4 Chuẩn mực xác định nghèo đói Tại Việt Nam, Bộ LĐ - Thương binh và Xã hội là cơ quan được Chính phủ giao nhiệm vụ chủ trì thực hiện việc điều tra, khảo sát các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, nghiên cứu và đề xuất với Chính phủ, căn cứ vào đề xuất đó Chính phủ công bố mức chuẩn nghèo cho từng giai đoạn (xem bảng 1.1: Chuẩn nghèo của Việt Nam được xác định qua các thời kỳ Hộ Hộ Giai đoạn Đơn vị tính đói nghèo 7 1. Giai đoạn 1993-1994 ≤ mức ≤ mức Vùng nông thôn kggạo/người/tháng 8 15 Vùng thành thị kggạo/người/tháng 13 20 2. Giai đoạn 1995-1997 Vùng nông thôn miền núi, hải đảo kggạo/người/tháng 13 15 Vùng nông thôn đồng bằng, trung kggạo/người/tháng 13 20 Vùng thành thị kggạo/người/tháng 13 25 3.

Giai đoạn 1998-2000 Vùng nông thôn miền núi, hải đảo đồng/người/tháng 45.000 Vùng nông thôn đồng bằng, trung đồng/người/tháng 45.000 Vùng thành thị đồng/người/tháng 45. Giai đoạn 2001-2005 Vùng nông thôn miền núi, hải đảo đồng/người/tháng 80.000 Vùng nông thôn đồng bằng, trung đồng/người/tháng 100.000 Vùng thành thị đồng/người/tháng 150. Giai đoạn 2006-2010 Vùng nông thôn đồng/người/tháng 200.000 Vùng thành thị đồng/người/tháng 260. Giai đoạn 2011-2015 Vùng nông thôn đồng/người/tháng 400.000 Vùng thành thị đồng/người/tháng 500.

Giai đoạn 2016- 2020 Vùng nông thôn đồng/người/tháng 1.000 Vùng thành thị đồng/người/tháng 1.000 ( Nguồn: Bộ LĐ – Thương binh và Xã hội) Căn cứ vào quyết định số 59/2015/QĐ- TTg về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoan 2016- 2020 như sau: 1. Hộ nghèo a) Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: - Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; - Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. b) Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: 8 - Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; - Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Hộ cận nghèo a) Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

b) Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.5 Khái niệm về nghèo đa chiều Nghèo đói không hẳn chỉ là đói ăn, thiếu uống, hoặc thiếu các điều kiện sống, sinh hoạt khác mà nghèo đói còn được gây ra bởi các rào cản về xã hội và các tác nhân khác ngăn chặn những cá nhân hoặc cộng đồng tiếp cận với các nguồn lực, thông tin và dịch vụ. Đề xuất các phương án xác định chuẩn hộ nghèo theo hướng tiếp cận đa chiều Phương án 1: Dựa theo thu nhập bình quân của hộ Phương án 2: Căn cứ vào mức độ thiếu hụt các nhu cầu xã hội cơ bản và mức sống tối thiểu để phân loại đối tượng. Phương án 3: Sử dụng đồng thời chuẩn mức tối thiểu và chuẩn nghèo chính sách để phân loại đối tượng hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình, đồng thời dùng chuẩn đo lường mức độ thiếu hụt các nhu cầu xã hội cơ bản để xác định nhóm đối tượng dễ bị tổn thương làm cơ sở xây dựng các giải pháp tác động phù hợp. Các khía cạnh nghèo đói Về thu nhập: 9 Đa số những người nghèo có cuộc sống rất khó khăn, cực khổ.

Họ có mức thu nhập thấp. Điều này do tính chất công việc của họ đem lại. Người nghèo thường làm những công việc đơn giản, LĐ chân tay nhiều, công việc cực nhọc nhưng thu nhập chẳng được là bao. Hơn thế nữa, những công việc này lại thường rất bấp bênh, không ổn định, nhiều công việc phụ thuộc vào thời vụ và có tính rủi ro cao do liên quan nhiều đến thời tiết (chẳng hạn như mưa, nắng, lũ lụt, hạn hán, động đất.

Các nghề thuộc về nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp là những ví dụ cho vấn đề này. Do thu nhập thấp nên việc chi tiêu cho cuộc sống của những người nghèo là rất hạn chế. Hầu hết các nhu cầu cơ bản, tối thiểu của con người như cái ăn, cái mặc, chỗ ở chỉ được đáp ứng với mức độ rất thấp, thậm chí còn không đủ. Nhiều người rơi vào cảnh thiếu ăn liên miên: chưa nói đến vấn đề đủ dinh dưỡng, riêng việc đáp ứng lượng Kcalo cần thiết, tối thiểu cho con người để có thể duy trì hoạt động sống bình thường họ cũng chưa đáp ứng được, hoặc đáp ứng một cách khó khăn.

Điều này đã kéo theo hàng loạt các vấn đề khác như làm giảm sức khoẻ của người nghèo, do đó giảm năng suất LĐ, từ đó giảm thu nhập. cứ như thế, nó đã tạo nên vòng luẩn quẩn mà người nghèo rất khó thoát ra được. Thu nhập thấp đã tạo nên tình trạng thiếu tài sản ở những người nghèo. Tài sản ở đây có thể là tài sản vật chất, tài sản con người, tài sản tự nhiên, tài sản tài chính, tài sản xã hội.

Tài sản con người thể hiện ở khả năng có được sức LĐ cơ bản, kỹ năng và sức khoẻ tốt. Như đã trình bày ở trên, do thu nhập thấp nên người nghèo không thể đáp ứng một cách đầy đủ nhu cầu về lương thực thực phẩm. Ăn uống cực kì thiếu thốn cộng với LĐ nặng nề đã làm giảm sức khoẻ của người nghèo do đó cũng không đảm bảo được các kỹ năng cũng như sức LĐ cơ bản. Tài sản tự nhiên như đât đai, thiếu tài sản tự nhiên có nghĩa là thiếu, không có hoặc có nhưng đất đai quá cằn cỗi, không thể canh tác được.

Tài sản vật chất ở đây như nhà ở, phương tiện sản xuất - người nghèo có rất ít hoặc hầu như không có các phương tiện sản xuất. Điều này đã hạn chế khả năng LĐ của họ, làm họ khó khăn hơn nhiều so với những người có đủ phương tiện sản xuất nó cũng làm giảm thu nhập của họ. Còn về nhà ở, 10 đại đa số người nghèo sống trong những căn nhà tạm bợ, dột nát, chật chội. Nhiều căn nhà không đủ đảm bảo an toàn, không bảo đảm sức khoẻ cho những người sống trong đó.

Do không có những tài sản giá trị để bảo đảm nên người nghèo cũng có rất ít khả năng tiếp cận với các tổ chức cho vay vốn, do thu nhập thấp nên người nghèo cũng không có khả năng tiết kiệm nhiều. Đó chính là thiếu hụt tài sản tài chính. Còn tài sản xã hội, như các mối quan hệ và trách nhiệm đối với nhau để khi cần có thể nhờ cậy và ảnh hưởng chính trị đối với các nguồn lực, đối với người nghèo điều này cũng rất hạn chế, do thu nhập thấp, lúc nào cũng phải lo chạy ăn đủ bữa nên người nghèo không quan tâm hoặc không có khả năng tham gia nhiều vào các mối quan hệ xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ