ĐẶT VẤN ĐỀ Nước là một nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá đối với sự tồn tại và phát triển của nền văn minh nhân loại. Lịch sử loài người đã chứng minh sự thịnh vượng hay suy tàn của mỗi nền văn minh nhân loại đều phụ thuộc vào nguồn nước. Nguồn nước không chỉ là nhân tố quyết định đến sự trù phú, giàu có của động thực vật trong đó có nguồn lương thực, thực phẩm và các nhân tố thiết yếu khác của đời sống con người mà nguồn nước còn trực tiếp ảnh hưởng đến đời sống như nước cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất, cảnh quan và bảo vệ môi trường. Việt Nam có đặc điểm khí tượng đặc trưng là lượng mưa nhiều nhưng tập trung vào thời gian ngắn, đây là một thách thức đòi hỏi phải quản lý, sử dụng bền vững nguồn nước.
Đặc biệt trong thời gian gần đây, dưới áp lực của gia tăng dân số, sản xuất và việc thiếu trách nhiệm của nhiều cơ sở sản xuất đã và đang đe dọa nghiêm trọng đến sự cạn kiệt tài nguyên nước của Việt Nam. Thành phố Tuyên Quang là một thành phố trẻ và năng động với đặc điểm dân số đông, các khu công nghiệp tập trung và phát triển nên nhu cầu nước cho sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp và những hoạt động kinh tế - xã hội là rất lớn và ngày một tăng. Mặc dù được thiên nhiên ưu đãi với nguồn tài nguyên nước phong phú tuy nhiên, do thiếu quy hoạch trong việc quản lý và sử dụng nước nên việc sử dụng nước trên địa bàn thời gian qua đã gây nên những bất cập như chỗ thiếu nước, chỗ thừa nước và nguồn nước tại nhiều địa điểm đã và đang bị ô nhiễm. Để đảm bảo phát triển thành phố một cách bền vững thì việc nghiên cứu, đánh giá trữ lượng nước, thực trạng khai thác và sử dụng, dự báo nhu cầu nước cho các ngành đặc biệt là đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của con người là rất cần thiết để đảm bảo sử dụng vừa tiết kiệm vừa hiệu quả nguồn tài nguyên này.
Do vậy tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất một số giải pháp khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên nước sinh hoạt tại thành phố Tuyên Quang – Tỉnh Tuyên Quang” 1 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Đặc điểm và ảnh hƣởng của khí hậu đến tài nguyên nƣớc của Việt Nam Lãnh thổ Việt Nam trải dài theo phương kinh tuyến ở vị trí cuối Đông Nam của lục địa Á - Âu trong vùng nhiệt đới của bán cầu Bắc (giới hạn trong các vĩ độ 23o22’ N đến 8o30’ B và kinh độ 102010’E đến 109021’ E). Phần lớn lãnh thổ được đồi núi hiểm trở bao phủ với địa hình nhiều đứt gãy cùng những sườn dốc tạo thành mạng lưới sông suối khá dày. Điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm, lượng mưa phong phú đã tạo thuận lợi cho sự hình thành dòng chảy với một lưới tiêu nước khá dày.
Mật độ trung bình sông suối có dòng chảy thường xuyên đạt 0,6 km/km2. Mật độ sông phân hoá khá lớn giữa các vùng từ dưới 0,3 km/km2 đến 4 km/km2. Các vùng có lượng mưa lớn thường có mật độ sông rất dày từ 1,5 - 2 km/km2. Đặc biệt là sông đồng bằng sông Cửu Long và vùng Đông Nam châu thổ Sông Hồng có mật độ sông 2 - 4km/km2.
Những vùng núi trung bình thấp và núi thấp, với lượng mưa tương đối lớn có mật độ sông 1 - 1,5 km/km2. Còn lại đại bộ phận các vùng có mật độ sông trung bình 0,5 - 1 km/km2. Đặc biệt một số vùng có mật độ sông 0,3 - 0,5 km/km2. Quá trình nghiên cứu, đầu tƣ phát triển tài nguyên nƣớc[4] Viện Quy hoạch Thuỷ lợi đã tiến hành Quy hoạch phát triển nguồn nước và phòng chống thiên tai phục vụ cho công cuộc chuyển đổi cơ cấu kinh tế của các tỉnh thuộc khu vực Bắc Bộ (gồm 26 tỉnh, thành phố, kể cả đồng bằng, trung du và miền núi) góp phần thúc đẩy chương trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn của Đảng và Nhà nước.
Viện Quy hoạch Thuỷ lợi đã cùng cơ quan Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các Bộ hữu quan tham gia nghiên cứu lập quy hoạch nhiều công trình tầm cỡ quốc gia, trong đó có thủy điện Hoà Bình, Tuyên Quang, Sơn La đã xây dựng. 2 Lập các quy hoạch thuỷ lợi theo lưu vực sông đã hoàn thành khối lượng công việc lớn đáp ứng được nhu cầu của Bộ như: tổng quan quy hoạch sử dụng nguồn nước lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình, quy hoạch thuỷ lợi lưu vực sông Cầu - sông Thương, quy hoạch thuỷ lợi lưu vực sông Đà, quy hoạch thuỷ lợi lưu vực sông Cà Lồ, quy hoạch thuỷ lợi lưu vực sông Đáy, quy hoạch thuỷ lợi lưu vực sông Lô - Gâm. Rà soát quy hoạch thủy lợi phục vụ chuyển đổi sản xuất Nông - Lâm nghiệp của 11 tỉnh là: Lạng Sơn, Nam Định, Hà Nam, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hà Giang và Lào Cai. Lập các quy hoạch thuỷ lợi giai đoạn 2005 - 2020 đáp ứng yêu cầu của địa phương gồm các tỉnh Tuyên Quang, Điện Biên, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Hải Dương.
phần lớn các dự án này đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thông qua bằng văn bản và có quyết định phê duyệt Quy hoạch thuỷ lợi của Uỷ Ban nhân dân các tỉnh. Năm 1996, Viện Quy hoạch Thuỷ lợi đã nghiên cứu tính toán cân bằng nước lưu vực sông Lô - Gâm. Kết quả tính toán cân bằng nước cho thấy lượng nước đến của lưu vực sông Lô, sông Gâm khá dồi dào so với lượng nước dùng. Nghiên cứu về tài nguyên nƣớc của Việt Nam 1.
Tài nguyên nước mặt[2] Tài nguyên nước mặt của lãnh thổ tồn tại trên mặt đất trong các nguồn nước khác nhau như sông, suối, hồ tự nhiên, hồ chứa nhân tạo, ao, đầm, kênh, rạch. Dòng chảy các sông được coi là thành phần chính của tài nguyên nước mặt. Dòng chảy trung bình hàng năm của các sông Việt nam tính đến năm 1985 là 880km2/năm. Hai hệ thống sông lớn nhất là sông Mê Kông và sông Hồng.
Sông Mê Kông có tổng dòng chảy lớn nhất bằng 520km3/năm và sông Hồng 122 km3/năm. Tài nguyên nước mặt bao gồm phần nước mặt nội địa và phần từ ngoài lãnh thổ chảy vào. Phần dòng chảy các sông từ nguồn nước mưa trên lãnh thổ Việt Nam là 324 km3/năm chỉ chiếm 37% toàn bộ dòng chảy các sông (bảng 1. Tài nguyên nước mặt các vùng ở Việt Nam Tổng lƣợng nƣớc (km3/năm) Diện tích Vùng Trong (km2) Ngoài vào Toàn bộ nước I- Bắc Bộ 111,752 113,86 45,52 159,38 - Trung du, miền núi 104,297 106,43 45,52 151,52 - Đồng bằng 11,455 7,43 44,12 51,55 II- Bắc Trung Bộ 51,890 66,82 11,06 77,88 III- Nam Trung Bộ 100,366 105,33 105,53 - Duyên hải 45,607 51,82 51,82 - Tây Nguyên 55,296 53,71 53,71 IV - Nam Bộ 63,372 39,18 500 539,18 - Đông Nam Bộ 23,496 18,58 18,58 - Tây Nam Bộ 39,876 20,60 50,0 520,60 Cả nƣớc 331,440 325,39 556,58 881,97 (Nguồn: Báo cáo khoá luận tốt nghiệp của Nguyễn Văn Minh - 2009) Nước sông ngòi hình thành do mưa, luôn luôn biến đổi theo thời gian.
Mưa là yếu tố chính sinh dòng chảy vì vậy biến động của mưa trên lưu vực quy định biến động dòng chảy của các sông. Ở Việt Nam gió mùa hàng năm tạo ra chu trình mùa nhiều mưa và mùa ít mưa. Theo phân phối mưa, sông ngòi có mùa nhiều nước và mùa ít nước. Đó là sự thay đổi nối tiếp mùa lũ - mùa cạn dễ dàng nhận thấy được.
Tài nguyên nước dưới đất Việt Nam là quốc gia có nguồn nước ngầm phong phú về trữ lượng và tương đối tốt về chất lượng. Tài nguyên nước dưới đất trên phạm vi toàn quốc mới được đánh giá chủ yếu ở dạng tiềm năng và triển vọng, trữ lượng cấp công nghiệp đã được thăm dò chiếm tỷ lệ không đáng kể, còn nhiều vùng trắng. 4 Đánh giá về chất lượng thì nước dưới đất vùng núi và trung du tốt, đáp ứng được yêu cầu sử dụng cho ăn uống sinh hoạt. Tuy vậy, cũng có một số đơn vị chứa nước nhiều sắt, độ cứng cao, và tính ăn mòn cacbonic lớn, không thuận lợi cho một số ngành công nghiệp, đòi hỏi phải xử lý.
Ở đồng bằng Bắc bộ, Nam bộ chất lượng nước thay đổi phức tạp do sự xen kẽ giữa nước ngọt và nước mặn trên diện và theo độ sâu. Hiện tượng nhiễm mặn, nhiễm sắt, nhiễm phèn khá phổ biến. Ở một số vùng trồng trọt do sử dụng phân bón hoá học, thuốc trừ sâu và một số trung tâm dân cư công nghiệp lớn, nước dưới đất có dấu hiện bị nhiễm bẩn với mức độ khác nhau, làm suy thoái chất lượng nước thậm chí có nơi không còn sử dụng được nữa. Việc khai thác quá mức nước dưới đất đã gây ra sự suy giảm về cung lượng và hạ thấp mực nước ở các công trình khai thác, làm cạn kiệt tài nguyên về lượng và chất, gây ra nguy cơ khủng hoảng nước nếu không có biện quản lý và bảo vệ tài nguyên này.
Một số quy định tiêu chuẩn nƣớc và tình hình sử dụng nƣớc ở Việt Nam 1. Một số quy định quy chuẩn về nước + Quy chuẩn 08:2008/BTNMT: Quy chuẩn quốc gia về chất lượng nước mặt được ban hành theo Quyết định số 16/2008/QĐ-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường. + Quy chuẩn 09:2008/BTNMT: Quy chuẩn quốc gia về chất lượng nước ngầm được ban hành theo Quyết định số 16/2008/QĐ-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường. + Quyết định số 104/2000/QĐ-TTg ngày 25/8/2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đến năm 2020.
Tình hình sử dụng nước tại Việt Nam [2] Theo báo cáo “Tài nguyên nước mặt Việt Nam và những thách thức trong tương lai” của PGS-TS Trần Thanh Xuân, Viện Khí tượng Thuỷ văn, Bộ Tài nguyên và Môi trường thì ở Việt Nam, mức bảo đảm nước trung bình cho 5 một người trong một năm từ 12.800 m3/người vào năm 1990, giảm còn 10.900 m3/người vào năm 2000 và có khả năng chỉ còn khoảng 8500 m3/người vào khoảng năm 2020. Tuy mức bảo đảm nước nói trên của nước ta hiện nay lớn hơn 2,7 lần so với Châu Á (3970 m3/người) và 1,4 lần so với thế giới (7650 m3/người), nhưng nguồn nước lại phân bố không đều giữa các vùng.