Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Tài nguyên nước tỉnh Bình Thuận - Hướng khai thác và sử dụng bền vững" do sinh viên Phạm Thị Phương Thảo thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Đỗ Thị Nhung tại Khoa Địa lí, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (khóa học 2008 – 2012). Đề tài thuộc chuyên ngành Địa lí học (Địa lí tài nguyên và Môi trường), kết hợp nghiên cứu lý luận địa lí tự nhiên với phân tích thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Lý do chọn đề tài

Nước là tài nguyên thiết yếu đối với sự sống và mọi hoạt động sản xuất của con người. Tuy nhiên, nguồn nước ngọt trên thế giới đang suy giảm và ô nhiễm nghiêm trọng. Bình Thuận nằm ở khu vực cực Nam Trung Bộ, là địa phương có khí hậu khô hạn nhất cả nước với lượng mưa thấp, lượng bốc hơi cao và mùa khô kéo dài. Sự khan hiếm tài nguyên nước tạo ra trở ngại lớn cho sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt của nhân dân cũng như quá trình phát triển kinh tế - xã hội toàn tỉnh. Do đó, việc nghiên cứu, đánh giá tổng hợp tiềm năng và hiện trạng khai thác nguồn nước nhằm đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý, bền vững là yêu cầu cấp thiết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích chính của khóa luận là vận dụng kiến thức địa lí để đánh giá tổng hợp tài nguyên nước tỉnh Bình Thuận, từ đó đề xuất định hướng và giải pháp khai thác, sử dụng bền vững phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và công tác giảng dạy địa lí địa phương.

Đề tài xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích các điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến tài nguyên nước của tỉnh Bình Thuận.
  2. Đánh giá tiềm năng tài nguyên nước (bao gồm cả tài nguyên nước mặt và nước ngầm).
  3. Đánh giá hiện trạng khai thác và sử dụng nguồn nước trong sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và diêm nghiệp.
  4. Đưa ra định hướng và giải pháp khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên nước đến năm 2020.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tiềm năng, hiện trạng khai thác và sử dụng tài nguyên nước ngọt (nước mặt và nước ngầm) trên địa bàn tỉnh.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ lãnh thổ tỉnh Bình Thuận với diện tích đất liền là 7.810,43 km² (gồm 10 đơn vị hành chính: 1 thành phố, 1 thị xã và 8 huyện).
  • Phạm vi thời gian: Chuỗi số liệu khí tượng - thủy văn giai đoạn 1990 – 2005 và các số liệu thống kê kinh tế - xã hội, hiện trạng sử dụng nước trong giai đoạn 2000 – 2010.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm

Tác giả tiếp cận đề tài dựa trên hệ thống lý thuyết thủy văn học và địa lí môi trường:

  • Khái niệm và phân loại tài nguyên nước: Phân loại nguồn nước mặt gồm hệ thống sông ngòi và hồ chứa; phân loại sông theo nguồn cung cấp nước của A. I. Voiekov (nguồn băng tuyết tan, nguồn mưa, nguồn hỗn hợp); phân loại hồ theo nhiệt độ của F. A. Foren (1912) và theo độ khoáng hóa của O. A. Alekin (hồ nước nhạt <1‰, hồ nước lợ 1–24‰, hồ nước mặn >24,7‰).
  • Lý thuyết nước dưới đất: Tiếp cận định nghĩa nước ngầm của S. (nước trọng lực ở trạng thái tự do tồn tại trong tầng chứa nước); phân loại theo nồng độ khoáng hóa của O., phân loại theo nhiệt độ của N. Alexandrot và nguồn gốc hình thành (ngoại sinh, nội sinh).
  • Lý thuyết ô nhiễm và phát triển bền vững: Sử dụng định nghĩa ô nhiễm nước của Hiến chương châu Âu; khái niệm phát triển bền vững tài nguyên nước trích dẫn từ Chiến lược Bảo tồn Thế giới do Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) công bố năm 1980; đối chiếu các chỉ tiêu chất lượng nước theo Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) và tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 1994).

Hệ quan điểm nghiên cứu

Khóa luận quán triệt 4 quan điểm địa lí học cơ bản:

  • Quan điểm hệ thống: Đánh giá tài nguyên nước Bình Thuận trong mối liên hệ hữu cơ với hệ thống tự nhiên - kinh tế vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và cả nước.
  • Quan điểm tổng hợp: Xem xét tài nguyên nước trong mối tương tác đa chiều với địa hình, địa chất, khí hậu, thảm phủ thực vật và các hoạt động nhân sinh.
  • Quan điểm lịch sử - viễn cảnh: Phân tích quá trình biến đổi của nguồn nước trong quá khứ và hiện tại để dự báo nhu cầu tương lai.
  • Quan điểm phát triển bền vững: Hướng tới việc thỏa mãn nhu cầu dùng nước hiện tại mà không làm suy thoái tài nguyên của thế hệ mai sau.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Thu thập dữ liệu từ Trung tâm Khí tượng Thủy văn Bình Thuận, Chi cục Thống kê, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Thủy lợi và Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước.
  • Phương pháp khảo sát thực địa: Tiến hành điều tra, khảo sát thực tế tại các điểm đặc trưng thuộc huyện Bắc Bình và huyện Đức Linh.
  • Phương pháp bản đồ và biểu đồ: Xây dựng, phân tích bản đồ lưu vực sông, bản đồ hành chính, bản đồ quy hoạch thủy lợi và các biểu đồ cơ cấu sử dụng nước.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 1 tổng quan các khái niệm học thuật về tài nguyên nước mặt (sông, hồ) và nước dưới đất. Sông ngòi trên Trái Đất có trữ lượng khoảng 2.210 km³ (chiếm 0,003% lượng nước thủy quyển), trong khi nước ngầm chiếm 1,68% tổng lượng nước toàn cầu và hơn 30% tổng lượng nước ngọt. Chương này phân tích các dạng ô nhiễm nước (nguồn gốc tự nhiên, nhân tạo; tác nhân vô cơ, hữu cơ, sinh học, hóa học) cùng hiện tượng suy thoái nước ngầm (sụt giảm trữ lượng, hạ thấp mực nước tĩnh, sụt lún đất, nhiễm phèn, nhiễm mặn). Đồng thời, tác giả xác định nguyên tắc khai thác bền vững là phải cân đối giữa tốc độ khai thác và khả năng phục hồi tự nhiên của nguồn nước.

Chương 2: Khái quát về các điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Bình Thuận

Chương 2 phân tích toàn diện các yếu tố hình thành và chi phối tài nguyên nước tại Bình Thuận:

  • Địa chất - địa hình: Lãnh thổ nằm ở sườn Đông dãy Nam Trường Sơn chuyển tiếp xuống đồng bằng ven biển. Cấu trúc địa hình phân hóa từ Tây sang Đông thành 4 dạng: vùng núi chiếm 40,7% diện tích (đỉnh Đa Mi cao 1.024 m); vùng gò đồi chiếm 31,66% (độ cao 50–100 m); vùng đồng bằng phù sa hẹp chiếm 9,43%; vùng đồi cát ven biển chiếm 18,22% (riêng Bắc Bình có diện tích đồi cát 1.042 km²). Địa hình ngắn dốc khiến nước mặt thoát nhanh ra biển.
  • Khí hậu - khí tượng: Khí hậu cận xích đạo khô hạn, nhiệt độ trung bình năm 26,8°C (tháng 1 thấp nhất 25,0°C, tháng 7 cao nhất 28,4°C); lượng bốc hơi rất lớn từ 1.300 – 1.400 mm/năm; độ ẩm trung bình 78 – 86%. Chế độ mưa phân hóa sâu sắc: mùa mưa (tháng 5 – 10) chiếm 75 – 90% tổng lượng mưa năm; mùa khô (tháng 11 – 4 năm sau) kéo dài 6 – 8 tháng nhưng chỉ chiếm 10 – 15% lượng mưa. Lượng mưa có sự chênh lệch lớn giữa các vùng: phía Tây Nam (Tánh Linh, Đức Linh) đạt trên 2.000 mm/năm, trong khi vùng ven biển hạ lưu sông Lũy, sông Lòng Sông chỉ đạt 600 – 750 mm/năm (chênh lệch 4 – 5 lần).
  • Thổ nhưỡng và thực vật: Nhóm đất đỏ vàng chiếm 46,86% diện tích, đất cát và cồn cát chiếm gần 40%. Diện tích đất lâm nghiệp có rừng năm 2010 là 364.758 ha (tỷ lệ che phủ 38,4%), việc thu hẹp rừng tự nhiên làm suy giảm khả năng điều tiết dòng chảy mùa cạn.
  • Kinh tế - xã hội: Dân số năm 2010 là 1.158.061 người (nông thôn 60,71%, thành thị 39,29%). Cơ cấu lao động nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 64,88%. GDP tăng trưởng nhanh kéo theo áp lực tiêu thụ nước ngọt cho các vùng chuyên canh thanh long, lúa nước, các cụm công nghiệp chế biến và ngành du lịch biển.
+---------------------------------------------------------------------------------------+
|                ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CHI PHỐI TÀI NGUYÊN NƯỚC BÌNH THUẬN                |
+------------------------------------+--------------------------------------------------+
| Địa hình dốc, hẹp ngang            | Dòng chảy mặt thoát nhanh, lũ rút nhanh ra biển  |
| Khí hậu khô hạn, bốc hơi 1300mm    | Mùa khô kiệt sâu sắc, thiếu nước cục bộ 6-8 tháng|
| Mưa phân hóa không gian (4-5 lần)  | Tây Nam thừa nước (>2000mm), Đông Bắc khô hạn    |
| Thảm rừng bị suy giảm              | Giảm khả năng giữ nước ngầm và điều tiết dòng lũ |
+------------------------------------+--------------------------------------------------+

Chương 3: Tiềm năng và hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước tỉnh Bình Thuận

Chương 3 tập trung lượng hóa tiềm năng và phân tích thực trạng sử dụng nguồn nước:

  • Tiềm năng nước mặt: Tỉnh có 7 lưu vực sông chính gồm sông La Ngà (dài 143 km trong tỉnh, diện tích lưu vực 1.759 km²), sông Lũy (dài 98 km, lưu vực 1.975,2 km²), sông Cà Ty (dài 56 km, lưu vực 753 km²), sông Phan (dài 58 km), sông Lòng Sông, sông Cái Phan Thiết và sông Dinh. Tổng diện tích các lưu vực là 5.379 km²; tổng lượng nước mặt có thể khai thác là 0,988 tỷ m³/năm (bằng 18,9% tổng lượng dòng chảy năm). Hai hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất là Biển Lạc (280 ha, Tánh Linh) và Bàu Trắng (90 ha, Bắc Bình).
  • Tiềm năng nước ngầm: Phân bố trong các tầng chứa nước Đệ tứ (Holocen và Pleistocen - Holocen), bazan Pleistocen, Neogen và Jura. Tổng trữ lượng khai thác tiềm năng của 2 tầng chứa nước chính (Holocen và Pleistocen - Holocen) đạt khoảng 563,3 nghìn m³/ngày (tầng Holocen: 135.629 m³/ngày; tầng Pleistocen - Holocen: 483.613 m³/ngày).
  • Chất lượng nước ngầm và cảnh báo: Loại hình hóa học bicarbonat natri chiếm trên 50% diện tích. Đáng chú ý, nước dưới đất thừa fluor nghiêm trọng với hàm lượng dao động từ 2,05 – 11 mg/l (trung bình 5,575 mg/l), vượt xa tiêu chuẩn nước uống của WHO (≤1,5 mg/l), gây nguy cơ mắc bệnh đốm răng, loãng xương và trụy cột sống. Riêng 5 nguồn nước khoáng ở Tuy Phong có hàm lượng fluor từ 3,3 – 11 mg/l. Nước ngầm tại Tuy Phong - Bắc Bình có hàm lượng calci rất thấp, tỷ số kiềm thổ $K = Ca/(Na+K)$ chỉ đạt 0,23.
  • Hiện trạng sử dụng nước (2010): Nông nghiệp chiếm trên 90% nhu cầu nước toàn tỉnh. Toàn tỉnh có 7.455 công trình cấp nước nông nghiệp (lưu lượng 6,12 triệu m³/ngày), trong đó 264 công trình nước mặt cung cấp 6,095 triệu m³/ngày (chiếm 99,6% lưu lượng nông nghiệp). Cấp nước sinh hoạt có 106.892 công trình với tổng lưu lượng 106.869 m³/ngày (~21 triệu m³/năm, nước ngầm chiếm 64.686 m³/ngày). Cấp nước công nghiệp đạt 21.606 m³/ngày (~7,7 triệu m³/năm, chủ yếu khai thác nước ngầm). Hoạt động du lịch - dịch vụ có 497 công trình với 8.897 m³/ngày.
  • Các vấn đề cấp bách: Năm 2010, toàn tỉnh thiếu hụt 228,485 triệu m³ nước. Vùng phía Nam thiếu 187,03 triệu m³ (chiếm 82% lượng thiếu toàn tỉnh, nặng nhất tại lưu vực sông Cà Ty chiếm 92,63 triệu m³ và sông Dinh 43,8%). Vùng phía Bắc thiếu 41,455 triệu m³ (18%, chủ yếu ở lưu vực sông Cái Phan Thiết 38,688 triệu m³). Ngược lại, vào mùa mưa, lưu vực sông La Ngà thường xuyên bị ngập úng từ 4.000 – 6.000 ha (có năm ngập trên 15.000 ha).

Chương 4: Phương hướng khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên nước

Dựa trên tính toán nhu cầu sử dụng nước đến năm 2020, chương này đề xuất các định hướng:

  • Hoàn thiện mạng lưới quy hoạch thủy lợi, đẩy mạnh các công trình điều tiết liên lưu vực (như nhận nước từ thủy điện Đại Ninh về hồ Cà Giây và hệ thống sông Lũy).
  • Phân bổ nguồn nước hợp lý giữa các ngành kinh tế; ưu tiên cấp nước sinh hoạt đô thị - nông thôn và vùng chuyên canh cây trồng có giá trị cao (thanh long).
  • Thực thi các biện pháp công trình (xây dựng hồ chứa lớn, kiên cố hóa kênh mương) kết hợp phi công trình (trồng rừng phòng hộ đầu nguồn sông La Ngà, sông Cà Ty; kiểm soát xả thải công nghiệp, chế biến thủy sản và sản xuất muối).

Kết quả và đóng góp

Kết quả định lượng nổi bật

Lĩnh vực sử dụng nước Số lượng công trình Lưu lượng khai thác (m³/ngày) Tỷ trọng nguồn nước chính
Nông nghiệp 7.455 công trình 6.120.000 m³/ngày Nước mặt chiếm 99,6%
Sinh hoạt 106.892 công trình 106.869 m³/ngày Nước ngầm chiếm 60,5%
Sản xuất công nghiệp 1.397 công trình 21.606 m³/ngày Nước ngầm chiếm ưu thế
Dịch vụ - Du lịch 497 công trình 8.897 m³/ngày Nước ngầm chiếm 79,1%
Nuôi trồng thủy sản 295 công trình 6.400 m³/ngày Nước mặt và nước lợ
Phân vùng thiếu nước (2010) Lượng nước thiếu (triệu m³) Tỷ lệ thiếu hụt so với toàn tỉnh Lưu vực chịu ảnh hưởng chính
Khu vực Nam Bình Thuận 187,030 triệu m³ 82,0% Sông Cà Ty (49,5%), Sông Dinh (43,8%)
Khu vực Bắc Bình Thuận 41,455 triệu m³ 18,0% Sông Cái Phan Thiết (93,3% vùng Bắc)
Toàn tỉnh Bình Thuận 228,485 triệu m³ 100,0% Toàn bộ các huyện khô hạn ven biển

Phát hiện khoa học của tác giả

  • Làm rõ mâu thuẫn thủy văn sâu sắc của Bình Thuận: Mùa khô thiếu hụt nghiêm trọng 228,485 triệu m³ nước tại các lưu vực ven biển, nhưng mùa mưa lại xảy ra ngập úng kéo dài 4.000 – 6.000 ha tại thung lũng sông La Ngà (Đức Linh, Tánh Linh).
  • Chỉ ra hiện tượng dị thường địa hóa môi trường: Nguồn nước dưới đất tại dải Tuy Phong - Bắc Bình có hàm lượng fluor tự nhiên rất cao (2,05 – 11 mg/l), kết hợp với tỷ số calci trong đất và nước thấp ($K = 0,23$), trực tiếp đe dọa sức khỏe cộng đồng nhưng chưa có giải pháp lọc xử lý quy mô lớn.
  • Khẳng định hạ tầng thủy lợi toàn tỉnh mới chỉ đáp ứng được khoảng 65% nhu cầu sản xuất nông nghiệp; hệ thống cấp nước ngầm cho sản xuất công nghiệp và dịch vụ du lịch đang khai thác thiếu kiểm soát.

Đóng góp thực tiễn và giải pháp

Tác giả đề xuất nhóm giải pháp đồng bộ:

  1. Giải pháp công trình: Đầu tư xây mới các hồ chứa dung tích lớn trên các lưu vực sông chính; nâng cấp các hệ thống thủy lợi Sông Quao, Cà Giây, Lòng Sông, đập Ba Bàu; mở rộng trạm bơm điện Võ Xu và các trạm dọc sông La Ngà.
  2. Giải pháp quản lý và quy hoạch: Phân vùng khai thác nước ngầm hợp lý, hạn chế khoan giếng tự do tại các vùng có nguy cơ sụt lún và nhiễm mặn; xây dựng trạm xử lý fluor tập trung cho nước sinh hoạt nông thôn tại Tuy Phong, Bắc Bình.
  3. Giải pháp bảo vệ môi trường: Tăng cường độ che phủ rừng tại các huyện miền núi (Tánh Linh, Hàm Thuận Bắc) nhằm nâng cao hệ số điều tiết dòng chảy ngầm; kiểm soát nước thải từ các cơ sở chế biến thủy sản và đồng muối (điển hình như sự cố môi trường tại xã Vĩnh Hảo).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Số liệu thứ cấp từ các ban ngành địa phương tại thời điểm nghiên cứu có sự chênh lệch và thiếu tính đồng bộ thống nhất; công tác khảo sát thực địa mới chỉ thực hiện giới hạn tại một số điểm thuộc huyện Đức Linh và Bắc Bình do hạn chế về thời gian và kinh phí của sinh viên.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quan trắc, mô hình hóa sự lan truyền ô nhiễm fluor trong các tầng chứa nước ngầm Đệ tứ; đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến dòng chảy kiệt các sông ven biển; nghiên cứu chi tiết phương án điều tiết nước liên lưu vực từ sông La Ngà sang các sông khô hạn phía Nam tỉnh.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Khóa luận là tài liệu tham khảo cho sinh viên, giảng viên ngành Sư phạm Địa lí, Địa lí học, Khoa học Môi trường và Quản lý Tài nguyên Nước. Đồng thời cung cấp tư liệu cho các nhà quy hoạch phát triển nông nghiệp, thủy lợi tại khu vực Nam Trung Bộ.
  • Nội dung giá trị nhất:
    • Hệ thống bảng số liệu KTTV nhiều năm (nhiệt độ, lượng mưa, bốc hơi, độ ẩm từ 17 trạm quan trắc giai đoạn 1990 – 2005).
    • Bảng thông số thủy văn chi tiết của 7 hệ thống sông chính tại Bình Thuận.
    • Định mức nhu cầu dùng nước thực tế cho từng loại cây trồng (lúa các vụ, thanh long, mía, bông) và vật nuôi trên địa bàn tỉnh.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguồn cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp tỉnh Bình Thuận chủ yếu lấy từ đâu?

Nước mặt từ các hệ thống thủy lợi (hồ chứa, đập dâng, trạm bơm) là nguồn cung cấp chính, chiếm 99,6% tổng lưu lượng khai thác trong nông nghiệp (đạt 6,095 triệu m³/ngày trên tổng số 6,12 triệu m³/ngày). Nước ngầm chỉ chiếm 0,4% (23,2 nghìn m³/ngày), chủ yếu do các hộ dân khoan giếng nhỏ lẻ để tưới thanh long.

2. Tổng lượng nước thiếu hụt của tỉnh Bình Thuận trong năm 2010 là bao nhiêu và phân bố ra sao?

Toàn tỉnh thiếu hụt 228,485 triệu m³ nước. Lượng thiếu tập trung chủ yếu ở vùng Nam Bình Thuận với 187,03 triệu m³ (chiếm 82% lượng thiếu của tỉnh, tập trung lớn nhất tại lưu vực sông Cà Ty là 92,63 triệu m³ và sông Dinh). Vùng Bắc Bình Thuận thiếu 41,455 triệu m³ (chiếm 18%, nặng nhất ở lưu vực sông Cái Phan Thiết với 38,688 triệu m³).

3. Vấn đề ô nhiễm đặc thù của nguồn nước ngầm tại Bình Thuận là gì?

Nước ngầm tại Bình Thuận bị thừa fluor tự nhiên ở mức rất cao, dao động từ 2,05 đến 11 mg/l (trung bình đạt 5,575 mg/l, trong khi chuẩn an toàn của WHO là ≤1,5 mg/l), đặc biệt nghiêm trọng tại huyện Tuy Phong và Bắc Bình. Nồng độ này gây nguy cơ bệnh đốm răng, loãng xương và biến dạng cột sống cho người sử dụng.

4. Hai hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất tỉnh Bình Thuận có tên và diện tích là bao nhiêu?

Tỉnh có hai hồ nước ngọt tự nhiên lớn là hồ Biển Lạc với diện tích mặt nước 280 ha (thuộc địa bàn huyện Tánh Linh) và hồ Bàu Trắng với diện tích mặt nước 90 ha (thuộc địa bàn xã Hòa Thắng, huyện Bắc Bình).

5. Vì sao lưu vực sông La Ngà có chế độ nước đối lập hoàn toàn với các lưu vực sông khác trong tỉnh?

Sông La Ngà bắt nguồn từ cao nguyên Di Linh - Bảo Lộc (Lâm Đồng) có lượng mưa lớn trên 2.000 mm/năm và thảm phủ rừng tương đối tốt, nên lưu lượng dòng chảy luôn dồi dào, không bị thiếu nước trong mùa khô (mô đun dòng chảy kiệt tháng 3 tại trạm Tà Pao đạt mức cao). Ngược lại, vào mùa mưa lũ từ tháng 7 đến tháng 10, vùng hạ lưu sông La Ngà ở Tánh Linh và Đức Linh thường xuyên bị ngập úng trên diện rộng từ 4.000 đến trên 15.000 ha.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Phương Thảo đã phản ánh trung thực, toàn diện bức tranh tài nguyên nước mặt và nước ngầm tại tỉnh Bình Thuận trong mối tương quan với các điều kiện tự nhiên và phát triển kinh tế - xã hội. Nghiên cứu chỉ rõ nghịch lý giữa tình trạng hạn hán, thiếu nước trầm trọng ở các lưu vực ven biển mùa khô và nguy cơ ngập úng cục bộ tại lưu vực sông La Ngà trong mùa mưa, đồng thời cảnh báo tình trạng ô nhiễm fluor tự nhiên trong nước dưới đất. Các phân tích định lượng và hệ thống giải pháp công trình - phi công trình được đề xuất trong công trình có giá trị khoa học và thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho công tác quản lý tài nguyên môi trường và giảng dạy địa lí địa phương.