ĐẶT VẤN ĐỀ Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, Đảng và Nhà nước ta đề ra chủ trương phát triển các Khu công nghiệp nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo ra tiền đề vững chắc cho sự phát triển của lực lượng sản xuất nước ta. Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến năm 2009 trên cả nước hiện có 223 Khu công nghiệp đã đi vào vận hành với tổng diện tích đất tự nhiên trên 57.264 ha, giải quyết việc làm cho trên 1,17 triệu lao động trực tiếp và khoảng 1,5 triệu lao động gián tiếp. Thời gian qua, các Khu công nghiệp ở nước ta đã thể hiện được vai trò không thể thay thế của mình trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Là địa chỉ hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước; góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất công nghiệp, tạo việc làm, tiếp thu những công nghệ sản xuất và kĩ năng quản lý tiên tiến, hình thành một hệ thống đô thị mới ở nông thôn và góp phần công nghiệp hóa nông thôn ở nước ta.
Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, việc đầu tư và phát triển các Khu công nghiệp vẫn còn nhiều bất cập. Mặc dù, đa số các doanh nghiệp đã thực hiện lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường và bản cam kết bảo vệ môi trường nhưng đều chỉ có tính chất đối phó. Tình hình xây dựng và vận hành các Khu công nghiệp chưa đảm bảo đúng yêu cầu thiết kế, điển hình là tình trạng ô nhiễm môi trường từ các Khu công nghiệp do thiếu các yêu cầu hướng dẫn chặt chẽ và giám sát ngay từ khi thiết kế và sau khi hình thành Khu công nghiệp. Thực tế này đã trở thành một thách thức lớn đặt ra yêu cầu cấp bách phải có các cơ chế, chính sách từ phía Nhà nước và các Doanh nghiệp về đầu tư các hạng mục nhằm bảo vệ môi trường trong quản lý hoạt động các Khu công nghiệp.
Thành phố Hà Nội hiện có 17 Khu công nghiệp với tổng diện tích gần 3.500 ha, trong đó có 8 Khu công nghiệp với diện tích 1.235 ha đã đi vào hoạt động; có vai trò nòng cốt trong việc đóng góp vào giá trị sản xuất công nghiệp 1 và nguồn thu ngân sách của thành phố. Khu công nghiệp Ngọc Sơn, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội với các sản phẩm đa dạng như: sản xuất bao bì, cấu kiện bê tông cốt thép, đồ gỗ, mây tre đan xuất khẩu, dệt may, dụng cụ thể thao, các sản phẩm từ đá thiên nhiên, sản xuất giày dép, gia công cơ khí,….với quy mô lớn đã kéo theo các vấn đề môi trường do hoạt động sản xuất của Khu công nghiệp. Mặc dù có các điểm chung với các khu công nghiệp trên cả nước nhưng Khu công nghiệp Ngọc Sơn cũng có những điểm khác biệt. Với mục đích nghiên cứu, tìm hiểu rõ hơn về thực trạng môi trường tại Khu công nghiệp Ngọc Sơn cũng như hiện trạng quản lý môi trường tại đây, từ đó làm cơ sở đề xuất giải pháp quản lý môi trường bền vững, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài tốt nghiệp: "Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý môi trường ở Khu công nghiệp Ngọc Sơn, Chương Mỹ, Hà Nội”.
2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử hình thành và phát triển các Khu công nghiệp ở Việt Nam Sự ra đời của các Khu công nghiệp gắn liền với đường lối đổi mới, chính sách mở cửa của Đảng tại Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986. Từ năm 1991 với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phát triển Khu công nghiệp nhằm đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã đem lại những thành tựu to lớn và không thể phủ nhận. Khu công nghiệp là khu vực dành cho phát triển công nghiệp theo một quy hoạch cụ thể nào đó nhằm đảm bảo được sự hài hòa và cân bằng tương đối giữa các mục tiêu kinh tế- xã hội- môi trường.1- Tình hình phát triển KCN( thành lập theo quyết định của Thủ tƣớng Chính phủ) thời gian qua ( Nguồn: Bộ Kế hoạch & Đầu tư , 2009) 3 Trải qua 19 năm xây dựng và phát triển, cả nước đã thành lập được 223 Khu công nghiệp với tổng diện tích 57.264 ha, phân bố trên 56/63 tỉnh, thành phố.
Các khu công nghiệp có vai trò quan trọng đối với sự với triển kinh tế của đất nước nói chung, đặc biệt là góp phần to lớn vào sự tăng trưởng của lĩnh vực công nghiệp nước ta. Vì vậy, trong những năm qua các Khu công nghiệp đã được phát triển mạnh mẽ ở mọi vùng miền các địa phương trên phạm vi cả nước. Ngoài ra, các khu công nghiệp được hình thành cũng nhằm tránh sự phân tán các cơ sở sản xuất trong khu dân cư sinh sống, vừa không thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, vừa gây ô nhiễm môi trường xung quanh khu dân cư, làm ảnh hưởng lớn đến đời sống của cộng đồng dân cư trong vùng, nhất là ảnh hưởng đến sức khỏe người dân. Có thể nói, các Khu công nghiệp đã góp phần không nhỏ vào cơ cấu chuyển dịch kinh tế của các địa phương theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đa dạng hóa ngành nghề, nâng cao trình độ công nghệ và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, góp phần chuyển dịch cơ cấu và tăng trưởng kinh tế chung của cả nước và ở quan hệ hợp tác quốc tế… Mặc dù đã có sự điều chỉnh về phân bố các Khu công nghiệp trên cả nước theo hướng tạo điều kiện cho một số địa bàn đặc biệt khó khăn nhằm phát triển công nghiệp để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, song các Khu công nghiệp vẫn tập trung ở 4 vùng kinh tế trọng điểm: Bắc Bộ, miền Trung, miền Nam và Đồng bằng sông Cửu Long được thể hiện qua biểu 1.2- Tỷ lệ diện tích Khu công nghiệp theo vùng kinh tế đến hết năm 2009 Đồng bằng sông Hồng Trung du miền núi phía Bắc 12.7% Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 5% Tây Nguyên 46.8% 10% Đông Nam Bộ 1.8% Đồng bằng sông Cửu Long (Nguồn: Bộ Kế hoạch & Đầu tư, 10/2009) 1.
Tác động của Khu công nghiệp đến Kinh tế- xã hội và môi trƣờng 1. Tác động của Khu công nghiệp đến Kinh tế- xã hội * Việc hình thành các Khu công nghiệp đã đem lại những hiệu quả kinh tế- xã hội nhất định như sau: - Là nơi sử dụng lao động có chuyên môn kỹ thuật phù hợp với công nghệ mới áp dụng vào sản xuất, đóng góp rất lớn vào đào tạo nguồn nhân lực cho Việt Nam để hình thành đội ngũ của nền công nghiệp hiện đại. - Tạo thêm việc làm cho đa số người dân địa phương tham gia vào các ngành sản xuất công nghiệp, tăng thu nhập và nâng cao đời sống nhân dân. - Góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế và tăng thu cho ngân sách.
- Góp phần quan trọng trong việc hình thành một hệ thống kết cấu hạ tầng mới, hiện đại, có giá trị lâu dài không chỉ đối với địa phương có khu công nghiệp mà còn góp phần hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng trên cả nước. - Các khu công nghiệp đã huy động được lượng vốn đầu tư lớn của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước, tạo đà thúc đẩy các ngành nghề khác của địa phương phát triển: nông nghiệp, thương mại, dịch vụ, … 5 - Tạo nên những vùng công nghiệp tập trung, phát huy và khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của địa phương. - Ngoài ra, góp phần đẩy mạnh phát triển công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp của địa phương nhằm khắc phục được tình trạng sản xuất manh mún, hạn chế ô nhiễm môi trường trong các làng nghề. * Bên cạnh các hiệu quả tích cực đó, hoạt động của các Khu công nghiệp cũng tạo ra các tác động tiêu cực đến Kinh tế- xã hội bao gồm: - Dịch vụ phục vụ Khu công nghiệp còn thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn; điều kiện môi trường sống, sinh hoạt không đảm bảo là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội như: trộm cắp, nghiện hút, đánh lộn, … các vấn đề này gây ảnh hưởng tới năng suất lao động, tính ổn định của lực lượng lao động và hiệu quả sản xuất lâu dài của doanh nghiệp, cơ sở sản xuất.
- Đời sống của các hộ dân bị thu hồi đất để xây dựng Khu công nghiệp còn chưa được quan tâm nhằm giúp ổn định thu nhập cho lao động và gia đình. - Hệ thống thu gom, xử lý chất thải tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và hệ thống thu gom, xử lý chất thải tập trung trong các Khu công nghiệp còn sơ sài, chưa xử lý tốt gây ra các tác động xấu tới môi trường và dân cư xung quanh… 1. Tác động của Khu công nghiệp đến môi trường Với đặc thù là nơi tập trung các cơ sở công nghiệp thuộc các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau, nếu công tác môi trường không được đầu tư đúng mức thì chính các Khu công nghiệp trở thành nguồn thải ra môi trường một lượng lớn các chất thải gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe, cuộc sống của cộng đồng xung quanh và tác động xấu lên hệ sinh thái nông nghiệp và thủy sinh. Ô nhiễm nước do nước thải của các Khu công nghiệp Sự gia tăng nước thải từ các Khu công nghiệp ngày một nhiều, tốc độ gia tăng này cao hơn nhiều so với tổng lượng nước thải từ các lĩnh vực trong toàn quốc được thể hiện tại bảng 1.3- Tỷ lệ gia tăng lƣợng nƣớc thải từ các Khu công nghiệp và tỷ lệ gia tăng tổng lƣợng nƣớc thải từ các lĩnh vực trong toàn quốc ( Nguồn:Tổng cục Môi trường tổng hợp, 2009) Thành phần nước thải của các Khu công nghiệp chủ yếu bao gồm: các chất rắn lơ lửng( SS), chất hữu cơ( thể hiện qua hàm lượng BOD, COD), các chất dinh dưỡng( thể hiện bằng hàm lượng tổng Nitơ và tổng Photpho) và kim loại nặng khi có mặt các chất này sẽ gây ra ô nhiễm nước.
Mặc dù, các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất đã lắp đặt các hệ thống xử lý nước thải trước khi thải ra các lưu vực nhưng hầu hết các kết quả đo được đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép.