Chương I: Những vấn đề chung về văn hóa tín ngưỡng và du lịch văn hóa tín ngưỡng. Chương II: Tiềm năng và thực trạng hoạt động du lịch văn hóa tín ngưỡng tại các huyện phía Tây Hà Nội (tỉnh Hà Tây cũ) trong quá trình phát triển du lịch Chương III: Giải pháp tăng cường quản lý và khai thác loại hình du lịch văn hóa tín ngưỡng tại các huyện phía tây Hà Nội (tỉnh Hà Tây cũ) 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HÓA TÍN NGƢỠNG VÀ DU LỊCH VĂN HÓA TÍN NGƢỠNG 1.1 Khái quát về tín ngƣỡng và văn hóa tín ngƣỡng 1.1 Khái niệm tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng 1.1 Khái niệm tín ngưỡng Tín ngưỡng thường được đặt trong mối quan hệ với tôn giáo hoặc được nhìn nhận dưới góc độ hệ tư tưởng, triết học, khoa học hiện đại. Trong công trình Văn hóa nguyên thủy, Tylor E. B cho rằng: “Cần đặc biệt chú ý là những tín ngưỡng và tập quán khác nhau đều có những nền tảng vững chắc trong thuyết vật linh nguyên thủy, như thể chúng đã thực sự mọc lên từ đó.
Trong thuyết vật linh phức tạp, chúng trở thành sản phẩm của sự ngu dốt hơn là của nhà triết học và tồn tại như những tàn tích của cái cũ hơn là những sản phẩm của đời sau, khi chuyển từ sức sống đầy đủ sang trạng thái tàn tích. Định nghĩa này cho rằng tín ngưỡng có nguồn gốc từ thuyết vật linh nguyên thủy, (ví dụ như Shaman giáo hoặc thuyết vạn vật hữu linh). Theo quan điểm chủ quan của tác giả Tylor, tín ngưỡng là sản phẩm có từ thời kỳ nhận thức của con người còn tăm tối, chưa đạt được đến trình độ nhận thức triết học, khoa học như thời hiện đại và trong thời kỳ hiện đại chúng chỉ tồn tại dưới dạng tàn tích của ý thức sơ khai. Trang bách khoa toàn thư trực tuyến Wikipedia tiếng Anh định nghĩa từ “popular belief” (thường được các dịch giả Việt Nam coi là khái niệm tín ngưỡng) được diễn giải: “ là một lĩnh vực nhánh của các ngành khoa học xã hội, như lịch sử và nhân chủng học, thứ (nhánh này) kiểm chứng, xem xét những niềm tin tâm linh mà chúng phát triển không độc lập khỏi tôn giáo (tương tự tôn giáo), nhưng vẫn nằm ngoài các tổ chức tôn giáo đã được hình thành.
Những khía cạnh sùng bái thường thấy, văn hóa dân gian có tính lịch sử và những hình thức mê tín dị đoan có tính chất lịch sử (để lại) là một bộ phận của những chủ đề được tìm hiểu” [30,]. Định nghĩa này xem xét tín ngưỡng như là một đối tượng 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiên cứu của ngành khoa học xã hội. Nhìn chung đề cập đến văn hóa dân gian, mê tín dị đoan, sự sùng bái tự nhiên và coi chúng là một bộ phận không tách rời với tôn giáo. Ở Việt Nam tín ngưỡng cũng có nhiều định nghĩa khác nhau.
Định nghĩa đến từ các tác giả trong nước thường đứng trên phương diện văn hóa. Tín ngưỡng được xem là một di sản của văn hóa dân tộc, là một hiện tượng xã hội có tính chất lịch sử theo lát cắt đồng đại. Hệ thống định nghĩa của các tác giả trong nước xác định tín ngưỡng trong mối quan hệ với tôn giáo và định vị những giá trị truyền thống tồn tại trong đó. Từ điển Hán Việt do tác giả Thiều Chửu biên soạn định nghĩa: “tín” là niềm tin vào một cái gì đó, “ngưỡng” hàm nghĩa là kính mến, kính trọng bậc bề trên.
Theo cách lý giải về mặt ngôn từ, “tín ngưỡng” có thể hiểu là một niềm tin, sự tôn sùng hướng thượng đối với các lực lượng siêu nhiên đứng trên quyền năng của con người. Giáo sư Ngô Đức Thịnh định nghĩa: “Tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế giới và để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng. Như vậy, tín ngưỡng theo định nghĩa của các nhà nghiên cứu văn hóa có đặc điểm chung là xem xét tín ngưỡng trong mối quan hệ với tôn giáo trong đó hai khái niệm này có sự tương đồng là hệ thống các niềm tin của con người vào lực lượng siêu nhiên để giải thích thế giới và mang lại sự bình an cho cá nhân, cộng đồng. Khác biệt giữa chúng là khá rõ: - Tôn giáo là một hình thái ý thức có tổ chức tương đối chặt chẽ, có hệ thống giáo lý được quy chuẩn thành văn bản, có một cộng đồng cùng tuân thủ các nguyên tắc thực hành nghi lễ xoay quanh trung tâm của nó là giáo đường, có một hệ thống văn bản kinh sách và giáo luật.
Mỗi loại hình tôn giáo thường có một giáo chủ cụ thể. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tín ngưỡng không có những hình thức đó, nếu có thì rất mờ nhạt, mang tính địa phương, tùy thuộc vào mỗi vị thần được tôn vinh ở mỗi cộng đồng.Vì vậy quá trình thực hành nghi lễ tín ngưỡng không ổn định. Về mặt pháp quy, Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo năm 2004 định nghĩa, hoạt động tín ngưỡng “… là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên; tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng; thờ cúng thần, thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức, xã hội”. Từ những định nghĩa và khái niệm trên, trong luận văn này, tín ngưỡng được hiểu là một sản phẩm văn hóa được hình thành trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, giữa con người với xã hội, mối quan hệ giữa con người với chính bản thân mình.
Tín ngưỡng bao gồm hệ thống niềm tin của con người vào các lực lượng siêu nhiên hoặc các vị nhân thần và cho rằng những đối tượng đó có ảnh hưởng lớn hoặc chi phối đến cuộc sống con người. Tín ngưỡng mang nhiều yếu tố tâm lý thuộc phạm vi tinh thần (tính thiêng). Tín ngưỡng được hình thành từ lâu đời và lưu truyền qua nhiều thế hệ và đã trở thành truyền thống.2 Văn hóa tín ngưỡng Giáo sư Ngô Đức Thịnh đã lập luận trong cuốn Tín ngưỡng và Văn hóa tín ngưỡng: “Tương ứng với các cộng đồng tôn giáo tín ngưỡng như Phật giáo, Kitô giáo, Hồi giáo, Nho giáo, đạo Mẫu… đều có các dạng thức văn hoá tương ứng: văn hoá Phật giáo, văn hoá Kitô giáo, văn hoá Nho giáo, văn hoá Hồi giáo, văn hoá đạo Mẫu… Bản thân các tôn giáo tín ngưỡng đã là một hình thức văn hoá đặc thù. Đấy là chưa kể, trong quá trình hình thành và phát triển, mỗi tôn giáo tín ngưỡng bao giờ cũng sản sinh, tích hợp trong nó những hiện tượng, những sinh hoạt văn hoá nghệ thuật”.
Như vậy, theo quan điểm của G.S tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng là hai đối tượng “song trùng” luôn tồn tại và phát triển cùng với nhau. Trong thực tế, văn hóa tín ngưỡng được hình thành dựa trên những niềm tin và con người sử dụng những phương tiện khác nhau nhằm biểu 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thị lòng tin đó. Các phương tiện đó được thể hiện qua những công trình vật chất, các nghi lễ, lễ hội, những nguyên tắc, những biểu tượng cụ thể… Những biểu hiện đó được hiểu là văn hóa tín ngưỡng. Để lấy ví dụ cho lập luận trên, G.S Ngô Đức Thịnh đã lấy “đạo Mẫu” làm điển hình: “Từ nhân lõi tôn giáo tín ngưỡng này, đạo Mẫu đã sản sinh và tích hợp nhiều yếu tố, giá trị văn hoá: văn học đạo Mẫu, diễn xướng đạo Mẫu (âm nhạc, múa, hát chầu văn, sân khấu), kiến trúc và nghệ thuật trang trí, lễ hội và sinh hoạt cộng đồng gắn với đạo Mẫu” Ngô Đức Thịnh (chủ biên) 2001.
[Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam. - HN: Nxb Khoa học xã hội. Nhà nghiên cứu Patrick B. Mullen cũng đồng quan điểm với G.S Ngô Đức Thịnh: “Tín ngưỡng dân gian không chỉ tồn tại ở dạng trừu tượng mà nó còn tồn tại trong thực tiễn và các ứng xử thực tế.
Xin nhắc lại, văn hoá dân gian không chỉ là sự phản ánh một thế giới quan văn hoá trừu tượng, mà nó còn tồn tại trong cuộc sống hằng ngày như là một phương tiện sáng tạo văn hoá” [Folklore thế giới - Một số công trình nghiên cứu cơ bản Ngô Đức Thịnh - Frank Proschan, NXB Khoa học Xã hội 2005, Hà Nội, tr. Ý kiến này minh họa cho quan điểm của giáo sư Ngô Đức Thịnh, nhìn chung coi văn hóa tín ngưỡng là phần “hình thức” và niềm tin của con người chính là phần “linh hồn” cốt lõi của tín ngưỡng. Niềm tin vào lực lượng siêu nhiên và văn hóa tín ngưỡng chính là hai bộ phận chính cấu thành lên tín ngưỡng cũng như sự phổ biến của chúng trong xã hội loài người. Trong quá trình nghiên cứu tài liệu các công trình nghiên cứu về văn hóa, tôn giáo – tín ngưỡng; tác giả nhận thấy các nhà nghiên cứu thường không đưa ra định nghĩa cụ thể về văn hóa tín ngưỡng.
Nguyên nhân có thể do sự phức tạp trong định nghĩa Văn hóa (có tới 164 định nghĩa về văn hóa) và nhiều quan điểm khác nhau về tín ngưỡng. Các nhà nghiên cứu về tín ngưỡng thường chỉ lý giải và những đưa ra lập luận logic về sự tồn tại văn hóa tín ngưỡng trong xã hội nhằm tránh những tranh luận không cần thiết về mặt tên gọi, ngôn ngữ. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong luận văn này, văn hóa tín ngưỡng được hiểu theo cách giải thích của Giáo Sư Ngô Đức Thịnh.2 Cơ sở hình thành tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng Đối chiếu tín ngưỡng với tôn giáo và xác định sự khác biệt giữa chúng là một công việc cần thiết trong việc xác định cơ sở hình thành tín ngưỡng. Tín ngưỡng đôi khi được hiểu là tôn giáo do các nhà nghiên cứu xem xét lại các khái niệm khác nhau giữa quan điểm về tôn giáo – tín ngưỡng của cách phân loại văn hóa Đông - Tây.
Nhìn chung các quan điểm về tôn giáo – tín ngưỡng cho rằng điểm khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo ở chỗ, tín ngưỡng mang tính dân tộc, dân gian nhiều hơn tôn giáo. Tín ngưỡng không có tổ chức chặt chẽ và có giáo đường như tôn giáo. Khi nói đến tín ngưỡng người ta thường nói đến tín ngưỡng của một dân tộc hay một số dân tộc có một số đặc điểm chung còn tôn giáo thì thường là không mang tính dân gian.