Tổng quan nghiên cứu

Biến đổi khí hậu toàn cầu đang đặt ra những thách thức nghiêm trọng đối với hệ sinh thái và sinh kế con người, khi nồng độ khí nhà kính trong khí quyển không ngừng gia tăng. Theo các dự báo khoa học khí hậu, nếu không có các giải pháp cắt giảm và hấp thụ khí nhà kính quyết liệt, nhiệt độ bề mặt Trái Đất có thể gia tăng từ 1,5 đến 4,5 độ C vào năm 2050. Trong chu trình sinh địa hóa học, thảm thực vật toàn cầu đóng vai trò then chốt khi cố định khoảng 100 tỷ tấn CO2 mỗi năm thông qua quá trình quang hợp tự nhiên. Tại Việt Nam, các mô hình canh tác nông lâm kết hợp đang trở thành giải pháp ưu việt giúp cân bằng giữa bảo tồn sinh thái và phát triển kinh tế hộ gia đình.

Xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên là địa bàn trọng điểm về sản xuất chè đặc sản nhưng lại nằm trọn trong khu vực vùng đệm của rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc. Thực tiễn này làm nảy sinh mâu thuẫn trực tiếp giữa yêu cầu nghiêm ngặt về bảo vệ rừng phòng hộ và nhu cầu khai thác kinh tế, nâng cao thu nhập của người dân địa phương. Đề tài luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp của tác giả Đỗ Thị Phương Thảo tập trung giải quyết bài toán trên thông qua việc xác định chính xác sinh khối, khả năng tích lũy carbon và tiềm năng hấp thụ CO2 của mô hình nông lâm kết hợp cây keo xen cây chè.

Nghiên cứu được triển khai thực địa liên tục từ tháng 6 năm 2013 đến tháng 8 năm 2014 tại xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Mục tiêu trọng tâm là lượng hóa trữ lượng carbon tích lũy ở phần sinh khối trên mặt đất của mô hình keo - chè theo từng cấp tuổi, từ đó quy đổi thành giá trị kinh tế dịch vụ môi trường rừng. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng tin cậy, đóng góp vào chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (PES), mở rộng cơ hội tham gia Cơ chế phát triển sạch (CDM) và thị trường tín chỉ carbon cho người trồng chè vùng trung du miền núi phía Bắc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết sinh thái học rừng, lý thuyết chu trình tuần hoàn carbon toàn cầu của Ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) và các nguyên lý kinh tế môi trường theo Công ước Khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC). Nghiên cứu kế thừa khung phương pháp luận Đánh giá nhanh trữ lượng carbon (RaCSA - Rapid Carbon Stock Appraisal) được phát triển bởi Trung tâm Nghiên cứu Nông Lâm kết hợp Thế giới (ICRAF) nhằm xác định dòng lưu chuyển và khả năng lưu trữ carbon trong các hệ sinh thái nông nghiệp đa tầng tán.

Bên cạnh đó, đề tài vận dụng các cơ chế tài chính khí hậu quốc tế như Cơ chế phát triển sạch (CDM) quy định trong Nghị định thư Kyoto và sáng kiến Giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng (REDD+). Bốn khái niệm chuyên ngành cốt lõi được sử dụng xuyên suốt gồm: sinh khối tươi (khối lượng vật chất hữu cơ sống của thực vật), sinh khối khô kiệt (khối lượng thực vật sau khi sấy ở 105 độ C đến khối lượng không đổi), bể chứa carbon (các thành phần lưu trữ carbon gồm tầng cây gỗ, tầng chè, thảm mục và cây bụi) và hệ số chuyển đổi phân tử từ carbon sang carbon dioxide tương đương (tỷ lệ chuẩn 44/12 xấp xỉ 3,67).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập thông qua điều tra thực địa có hệ thống kết hợp kế thừa tài liệu kinh tế - xã hội tại xã Tân Cương. Tác giả đã thiết lập hệ thống 15 ô tiêu chuẩn tạm thời đại diện có diện tích 500 m2 (kích thước 20m x 25m) phân bố đều trên các diện tích canh tác keo xen chè theo các dải tuổi từ 1 đến 7 năm tuổi. Trong mỗi ô tiêu chuẩn lớn, nghiên cứu bố trí 5 ô tiêu chuẩn phụ diện tích 4 m2 (2m x 2m) tại 4 góc và tâm ô để điều tra sinh khối chè, cùng 5 ô nhỏ diện tích 1 m2 (1m x 1m) để thu thập mẫu thảm tươi, vật rơi rụng và thảm mục hữu cơ.

Phương pháp chọn mẫu điển hình đại diện theo cấp tuổi lâm phần và điều kiện lập địa được áp dụng nhằm phản ánh chính xác cấu trúc sinh trưởng thực tế của mô hình. Tác giả tiến hành đo đếm toàn diện các chỉ tiêu sinh trắc lâm học gồm đường kính ngang ngực tại vị trí cách mặt đất 1,3 m (D1.3), chiều cao vút ngọn (Hvn), đường kính tán và mật độ cây. Đối với tầng chè, tiến hành đo chiều cao bụi chè, đường kính tán chè và đếm mật độ gốc. Phương pháp chặt cây tiêu chuẩn và thu mẫu giải phẫu từng bộ phận (thân, cành, lá) được thực hiện để cân sinh khối tươi tại hiện trường, sau đó rút mẫu đại diện về phòng thí nghiệm sấy khô ở nhiệt độ 105 độ C và phân tích hàm lượng carbon theo phương pháp đốt mẫu oxy hóa.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích tương quan sinh trắc kết hợp phương pháp RaCSA của ICRAF là nhằm tối ưu hóa tính chính xác, giảm thiểu việc chặt hạ phá hủy thảm thực vật canh tác của người dân, đồng thời rút ngắn thời gian điều tra nhưng vẫn bảo đảm sai số thống kê dưới 5%. Toàn bộ tiến trình nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt trong khung thời gian 14 tháng từ giữa năm 2013 đến nửa cuối năm 2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra và phân tích thực nghiệm tại xã Tân Cương đã mang lại bốn phát hiện khoa học quan trọng về đặc tính sinh khối và khả năng hấp thụ carbon của mô hình keo - chè:

Thứ nhất, tổng sinh khối khô của mô hình nông lâm kết hợp keo - chè gia tăng mạnh mẽ theo cấp tuổi của cây keo che bóng. Ở giai đoạn lâm phần 1 đến 2 năm tuổi, tổng sinh khối khô toàn mô hình đạt khoảng 25,60 đến 38,40 tấn/ha; đến giai đoạn 4 đến 5 tuổi tăng lên mức 72,10 đến 95,80 tấn/ha; và đạt đỉnh ở giai đoạn 6 đến 7 tuổi với 115,30 đến 142,50 tấn/ha. Trong đó, thành phần cây keo chiếm tỷ trọng chi phối tuyệt đối từ 68,5% đến 79,2% tổng sinh khối khô của hệ thống.

Thứ hai, trữ lượng carbon tích lũy phần trên mặt đất của mô hình keo - chè đạt giá trị vượt trội so với các mô hình chè thuần loài. Trữ lượng carbon tích lũy trung bình của mô hình tăng từ 12,80 tấn C/ha ở tuổi 1 lên mức 36,05 tấn C/ha ở tuổi 4, và đạt từ 57,65 đến 71,25 tấn C/ha ở giai đoạn 6 đến 7 tuổi. So với vùng đất trồng chè độc canh không có cây che bóng tại địa phương (vốn chỉ đạt trữ lượng carbon khoảng 8,50 đến 14,20 tấn C/ha), mô hình keo - chè có khả năng lưu giữ carbon cao hơn từ 180% đến 400%.

Thứ ba, khả năng hấp thụ khí CO2 quy đổi của hệ thống nông lâm kết hợp keo - chè đạt quy mô đáng kể qua từng năm canh tác. Lượng CO2 hấp thụ lũy kế của mô hình dao động từ 46,98 tấn CO2/ha ở giai đoạn 1 năm tuổi, tăng lên 132,30 tấn CO2/ha ở tuổi 4 và đạt mức 211,58 đến 261,49 tấn CO2/ha khi rừng keo bước sang tuổi 6 và tuổi 7. Tốc độ hấp thụ CO2 trung bình hàng năm của mô hình đạt khoảng 30,20 đến 37,35 tấn CO2/ha/năm.

Thứ tư, giá trị kinh tế môi trường quy đổi từ lượng CO2 hấp thụ mở ra nguồn lợi tài chính tiềm năng rất lớn. Tạm tính theo khung giá giao dịch carbon quốc tế thời điểm nghiên cứu dao động từ 3 đến 5 USD/tấn CO2 (tương đương khoảng 63.000 đến 105.000 VNĐ/tấn CO2 tại tỷ giá 2014), giá trị dịch vụ môi trường rừng của mô hình keo - chè tại Tân Cương đạt từ 4,20 triệu VNĐ/ha ở tuổi 1, tăng lên 11,90 triệu VNĐ/ha ở tuổi 4 và đạt 19,04 đến 27,45 triệu VNĐ/ha ở tuổi 6 và 7.

Thảo luận kết quả

Sự vượt trội về sinh khối và trữ lượng carbon của mô hình keo - chè bắt nguồn từ tính tương hỗ sinh thái trong cấu trúc nông lâm kết hợp đa tầng tán. Cây keo là loài cây họ Đậu có khả năng cộng sinh với vi khuẩn nốt sần Rhizobium để cố định đạm tự do trong không khí, đồng thời bộ rễ sâu giúp hấp thu dinh dưỡng khoáng từ các tầng đất dưới đẩy lên bề mặt qua vật rơi rụng. Tán cây keo ở mật độ thích hợp tạo ra độ che bóng tán xạ lý tưởng (khoảng 20% đến 30%), rất phù hợp với đặc tính sinh lý của cây chè vốn là loài cây ưa bóng râm nhẹ. Cấu trúc này làm giảm bức xạ mặt trời trực tiếp, hạ nhiệt độ bề mặt đất từ 1,5 đến 2,5 độ C trong mùa hè, giảm bốc thoát hơi nước và tăng cường hiệu suất quang hợp tầng dưới.

Trong công tác trình bày dữ liệu, các bảng tổng hợp sinh khối khô theo bộ phận (thân, cành, lá) và biểu đồ đường biến thiên theo tuổi lâm phần thể hiện rõ xu hướng tăng trưởng sinh trưởng dạng hàm mũ của keo và dạng tuyến tính ổn định của chè sau khi đốn tỉa định kỳ. Biểu đồ cột so sánh tương quan giữa các cấp tuổi lâm phần và biểu đồ hình quạt phân chia tỷ trọng các bể chứa carbon cho thấy tầng cây gỗ keo là nơi lưu giữ carbon lâu dài lớn nhất, kế đến là tầng chè thương phẩm và cuối cùng là lớp thảm mục mặt đất.

Khi đặt kết quả này trong tương quan so sánh với các công trình nghiên cứu khác, kết quả của luận văn hoàn toàn tương đồng với nghiên cứu của tác giả Trần Bình Đà và Lê Quốc Doanh tại vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo (mô hình keo xen vải đạt khả năng hấp thụ 257,30 tấn CO2/ha sau 15 năm canh tác). Đồng thời, số liệu sinh khối keo cũng phù hợp với kết quả của tác giả Nguyễn Duy Kiên tại Tuyên Quang (tầng cây gỗ keo chiếm từ 75% đến 79% tổng sinh khối). Phát hiện này khẳng định giá trị thực tiễn to lớn của việc duy trì mô hình keo - chè tại vùng đệm Hồ Núi Cốc nhằm thực hiện song song hai nhiệm vụ: phòng hộ môi trường nước và nâng cao hiệu quả sinh kế hộ gia đình.

Đề xuất và khuyến nghị

Để phát huy tối đa tiềm năng tích lũy carbon và nâng cao hiệu quả kinh tế của mô hình nông lâm kết hợp tại các vùng đệm phòng hộ, luận văn đưa ra bốn nhóm giải pháp cụ thể:

Thứ nhất, quy hoạch mở rộng và chuẩn hóa mật độ canh tác mô hình keo xen chè trên địa bàn. Ủy ban nhân dân xã Tân Cương cùng Phòng Kinh tế thành phố Thái Nguyên cần triển khai chuyển đổi khoảng 150 đến 200 ha đất chè độc canh thoái hóa và đất đồi dốc sang mô hình keo - chè đa tầng tán trong giai đoạn 2024 - 2026. Mật độ tối ưu khuyến nghị là trồng keo với cự ly 6m x 6m hoặc 5m x 8m (khoảng 300 đến 400 cây/ha) kết hợp mật độ chè 12.000 đến 14.000 bụi/ha để đảm bảo độ tàn che cân bằng đạt 25% đến 30%.

Thứ hai, xây dựng và thí điểm cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng đối với dịch vụ hấp thụ carbon. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Thái Nguyên cần phối hợp cùng Quỹ Bảo vệ và Phát triển Rừng xây dựng đề án thí điểm chi trả tiền dịch vụ carbon từ nguồn thu của các cơ sở sản xuất công nghiệp phát thải lớn trên địa bàn, mục tiêu phân bổ nguồn thu bổ sung đạt từ 8,0 đến 15,0 triệu VNĐ/ha/năm cho các hộ nông dân trồng keo xen chè tham gia bảo vệ lưu vực Hồ Núi Cốc từ năm 2025.

Thứ ba, hoàn thiện quy trình kỹ thuật lâm sinh và quản lý vật liệu hữu cơ sau thu hoạch. Trạm Khuyến nông địa phương và các Hợp tác xã chè Tân Cương cần tổ chức hướng dẫn kỹ thuật tỉa cành cây keo định kỳ 1 đến 2 lần mỗi năm bắt đầu từ năm thứ 3. Toàn bộ cành lá tỉa thưa và tàn dư đốn chè (khoảng 3,5 đến 5,0 tấn vật liệu hữu cơ/ha/năm) cần được băm nhỏ và ép phủ trực tiếp vào gốc chè để tái tạo mùn, giúp tăng độ phì nhiêu của đất thêm 15% đến 20% và giảm 30% lượng phân bón hóa học.

Thứ tư, thiết lập hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm tra (MRV) trữ lượng carbon cấp cơ sở. Các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh cần chuyển giao bộ công cụ điều tra nhanh dựa trên phương pháp RaCSA cho cán bộ kiểm lâm địa bàn và tổ tự quản quản lý rừng cộng đồng, hoàn thành việc cấp chứng chỉ thẩm định trữ lượng carbon cho ít nhất 5 hợp tác xã chè điển hình trước năm 2026.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và thực tiễn phong phú, là tài liệu tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhà quản lý tài nguyên và cơ quan hoạch định chính sách địa phương: Cán bộ thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Chi cục Kiểm lâm và Ban Quản lý rừng phòng hộ có thể sử dụng các chỉ số định lượng về sinh khối và khả năng hấp thụ CO2 của cây keo xen chè để xây dựng phương án quản lý rừng bền vững vùng đệm Hồ Núi Cốc, hoàn thiện biểu mức chi trả dịch vụ môi trường rừng cấp tỉnh.

Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Lâm học, Sinh thái học: Luận văn cung cấp khung phương pháp luận chuẩn xác về ứng dụng phương pháp RaCSA, bảng tra phương trình tương quan sinh khối và dữ liệu thực chứng về phân bố carbon trong mô hình nông lâm kết hợp vùng trung du Bắc Bộ phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu.

Các đơn vị tư vấn và doanh nghiệp phát triển dự án tín chỉ carbon: Các tổ chức đang tìm kiếm dữ liệu cơ sở (baseline) để thiết kế hồ sơ dự án theo tiêu chuẩn CDM, Tiêu chuẩn Carbon Đã Xác Minh (VCS) hoặc Tiêu chuẩn Vàng (Gold Standard) trong lĩnh vực nông lâm nghiệp có thể kế thừa các hệ số chuyển đổi sinh khối khô kiệt và lượng CO2 cố định của mô hình keo - chè.

Ban quản trị hợp tác xã nông nghiệp và các chủ hộ canh tác chè: Hộ nông dân tại các tỉnh Thái Nguyên, Phú Thọ, Tuyên Quang, Yên Bái có thể nắm bắt phương thức bố trí không gian hàng cây che bóng, cách thức kết hợp hài hòa giữa việc thu hoạch chè búp chất lượng cao và việc gia tăng thu nhập từ lâm sản gỗ keo sau chu kỳ 7 đến 10 năm canh tác.

Câu hỏi thường gặp

Khả năng tích lũy carbon của mô hình keo xen chè cao hơn chè độc canh bao nhiêu phần trăm? Mô hình nông lâm kết hợp keo - chè đạt trữ lượng carbon từ 36,05 tấn C/ha (ở tuổi 4) đến 71,25 tấn C/ha (ở tuổi 7), cao hơn từ 180% đến 400% so với mô hình chè thuần loài không có cây che bóng (chỉ đạt 8,50 đến 14,20 tấn C/ha), nhờ tầng tán keo có sinh khối gỗ lớn và thảm mục hữu cơ dồi dào.

Cây keo che bóng có làm suy giảm sản lượng và phẩm cấp của búp chè đặc sản Tân Cương không? Cây keo được tỉa cành định kỳ tạo độ che bóng khoảng 20% đến 30% giúp tán xạ ánh sáng, kích thích búp chè non phát triển mềm hơn, tích lũy nhiều amino acid và giảm vị chát gắt do ánh nắng gay gắt, từ đó nâng cao chất lượng cảm quan và giá trị thương phẩm của chè Tân Cương.

Phương pháp đánh giá nhanh RaCSA của ICRAF được triển khai như thế nào trong nghiên cứu này? Phương pháp RaCSA kết hợp giữa giải đoán sinh trắc lâm học trên 15 ô tiêu chuẩn tạm thời, chặt mẫu cây tiêu chuẩn đại diện để xác định tỷ lệ sinh khối tươi/khô, và phân tích mẫu khô kiệt trong phòng thí nghiệm, giúp tiết kiệm trên 60% chi phí điều tra thực địa nhưng vẫn bảo đảm độ tin cậy khoa học cao.

Giá trị kinh tế môi trường từ hấp thụ CO2 của mô hình keo - chè được xác định dựa trên căn cứ nào? Giá trị này được tính bằng cách lấy tổng lượng CO2 hấp thụ tích lũy (đạt từ 132,30 đến 261,49 tấn CO2/ha ở giai đoạn 4 đến 7 năm tuổi) nhân với đơn giá giao dịch carbon quốc tế thời điểm nghiên cứu (3 đến 5 USD/tấn CO2), mang lại giá trị quy đổi từ 11,90 đến 27,45 triệu VNĐ/ha.

Mô hình nông lâm kết hợp keo - chè có thể nhân rộng tại những địa phương nào khác ngoài Thái Nguyên? Mô hình hoàn toàn phù hợp để nhân rộng tại các tỉnh vùng trung du và miền núi phía Bắc như Phú Thọ, Tuyên Quang, Yên Bái, Bắc Giang, nơi có địa hình đồi bát úp, đất dốc thoái hóa cần bảo vệ nguồn nước và có truyền thống canh tác cây chè kết hợp cây lâm nghiệp bản địa.

Kết luận

  • Xác lập dẫn liệu định lượng khoa học: Mô hình keo - chè tích lũy sinh khối khô từ 25,60 tấn/ha (tuổi 1) lên 142,50 tấn/ha (tuổi 7), trong đó tầng cây gỗ keo chiếm tỷ trọng vượt trội từ 68,5% đến 79,2%.
  • Chứng minh năng lực lưu trữ carbon vượt bậc: Trữ lượng carbon đạt từ 12,80 đến 71,25 tấn C/ha, tương ứng với khả năng hấp thụ từ 46,98 đến 261,49 tấn CO2/ha, cao gấp 1,8 đến 4,0 lần so với canh tác chè độc canh.
  • Định giá tiềm năng kinh tế môi trường: Tạo ra giá trị dịch vụ hấp thụ carbon tiềm năng đạt từ 4,20 đến 27,45 triệu VNĐ/ha, mở ra nguồn tài chính bổ sung bền vững cho người làm nông nghiệp vùng đệm.
  • Chuẩn hóa quy trình đánh giá nhanh RaCSA: Luận văn đã ứng dụng thành công phương pháp RaCSA của ICRAF vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, cung cấp công cụ điều tra hiệu quả và tiết kiệm chi phí.
  • Giải quyết bài toán cân bằng sinh thái - sinh kế: Khẳng định tính khả thi của việc kết hợp mục tiêu phòng hộ bảo vệ nguồn nước Hồ Núi Cốc với nhiệm vụ nâng cao thu nhập cho cư dân xã Tân Cương.

Đóng góp then chốt của luận văn là cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho việc định lượng giá trị hấp thụ carbon của mô hình nông lâm kết hợp keo - chè tại vùng đệm nhạy cảm sinh thái, làm nền tảng cho việc hoạch định chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Lộ trình tiếp theo bao gồm việc hoàn thiện hướng dẫn kỹ thuật tỉa thưa giai đoạn 2024 - 2025 và đưa mô hình vào đề án thí điểm thị trường carbon lâm nghiệp tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2026 - 2028. Các cấp chính quyền, doanh nghiệp phát triển dự án và người dân địa phương cần tích cực hợp tác để nhân rộng mô hình nông lâm kết hợp bền vững, vừa bảo vệ môi trường vừa nâng cao sinh kế xanh.