Đặt vấn đề Rừng được coi là “Lá phổi xanh của trái đất” cung cấp oxy cho khí quyển, góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên đất, bảo vệ nước, chống xói mòn, hạn hán, chống sa mạc hóa, ngăn chặn thiên tai, lũ lụt, gió bão… Việt Nam là một nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, khí hậu ẩm nhiệt đới gió mùa thuận lợi cho nhiều loài thực vật sinh trưởng, phát triển. Diện tích rừng mước ta rất lớn. Với hệ động thực vật vô cùng phong phú, đa dạng gồm nhiều loài đặc hữu, Việt Nam được coi là một trong những quốc gia có sự đa dạng sinh học cao bậc nhất thế giới. Rừng và đất là hai thành phần cơ bản của vùng nhiệt đới ẩm.
Khi bị tác động, các hệ sinh thái rừng nhiệt đới vốn ổn định nhờ vào sự đa dạng cao của các loài động vật, thực vật và vi sinh vật, được gắn kết với nhau thông qua chu trình dinh dưỡng gần như khép kín. Sự ổn định của hệ sinh thái vùng nhiệt đới chính là sự thể hiện khả năng chống đỡ với các biến đổi bất thường của khí hậu và các yếu tố khác của môi trường tự nhiên. Trong đó, các loài thực vật thân gỗ đóng vai trò chủ đạo trong việc quyết định cấu trúc, chức năng tính bền vững của hệ sinh thái rừng (Đặng Kim Vui và cs, 2007) [14]. Địa hình Việt Nam ¾ là diện tích đồi núi, cuộc sống của người dân miền núi phụ thuộc lớn và canh tác nông nghiệp triên đất dốc và khai thác các nguồn tài nguyên rừng như khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ: củi đốt, thực phẩm, dược liệu… làm cho sự đa dạng tài nguyên rừng suy giảm nhanh chóng về số lượng và chất lượng.
Cùng với sự gia tăng về dân số nhanh chóng khiến nhu cầu về lương thực tăng cao, người dân phá rừng canh tác nương dẫy, phục vụ nhu cầu trước mắt. Theo lối canh tác truyền thống, lối canh tác du canh du cư có nghĩa là người dân chỉ canh tác trên một diện tích đất vài vụ rồi bỏ hóa, việc sử dụng đất này chỉ phù hợp với nơi dân cư thưa thớt. Phát triển sử dụng đất thuần nông hay thuần lâm còn bộc lộ nhiều hạn chế. Việc canh tác thuần nông trên đất dốc cho năng suất thấp không ổn định trong khi phát triển mô hình thuần lâm lại gặp phải khó khăn về nhu cầu lương thực trước mắt.
Thực tiễn sản xuất đã xuất hiện phương thức sử dụng đất n 2 tổng hợp, có sự đan xen giữa nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản. Sự kết hợp này giúp cải thiện độ phì, bảo vệ đất, hạn chế dịch phá hại có hiệu quả, góp phần nâng cao thu nhập trên cùng một diện tích đất, mang lại lợi nhuận kinh tếcho người sản xuất (Đặng Kim Vui và cs, 2007) [14]. Tại xã Dương Phong - huyện Bạch Thông- tỉnh Bắc Kạn có dạng địa hình đồi núi phức tạp xong chủ yếu là đồi núi thấp, có tiềm năng lớn về phát triển các dạng mô hình Nông Lâm Kết Hợp với thành phần là các dạng cây trồng phù hợp với địa phương, đem lại hiệu quả cao hơn hẳn so với cách thức sản xuất truyền thống trước đây. Để đạt được hiệu quả cao trong mô hình NLKH thì vấn đề phòng trừ sâu, bệnh hại là vô cùng quan trọng, sâu bệnh hại làm cho cây trồng sinh trưởng chậm, giảm số lượng và chất lượng của cây trồng, ở nước ta do khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nên có nhiều loài sâu sâu hại phát sinh phát triển như sâu ong hại Mỡ, sâu đục thân cành ở cam Quýt… đã gây ra nhiều tổn thất cho ngành nông nghiệp.
Vì vậy để góp phần chủ động thực hiện hiệu quả trong công tác phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng trên địa bàn xã Dương Phong- huyện Bạch Thông – tỉnh Bắc Kạn tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng và đề xuất một số biện pháp phòng trừ sâu hại chính trong mô hình Nông lâm kết hợp tại xã Dương Phong, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn” 1. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá mức độ gây hại của một số sâu hại các cây trồng chính trong mô hình NLKH trên địa bàn nghiên cứu. - Tìm ra những tồn tại, hạn chế và đề xuất một số biện pháp phòng trừ sâu hại, nâng cao hiệu quả kinh doanh trong các mô hình NLKH tại địa bàn nghiên cứu, góp phần nâng cao năng xuất, chất lượng, sản lượng cây trồng, đáp ứng mục tiêu sản xuất kinh doanh của con người. Ý nghĩa thực tiễn 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Việc nghiên cứu đề tài giúp cho tôi củng cố lại kiến thức đã học đồng thời nâng cao năng lực chuyên môn, chuyên ngành và tích lũy kinh nhiệm chuyên ngành từ thực tế. n 3 - Nắm vững các phương pháp nghiên cứu một đề tài khoa học cụ thể. - Nắm vững các phương pháp điều tra sâu hại trong các mô hình NLKH. - Kết quả của đề tài làm cơ sở cho công tác quản lý bảo vệ, đề xuất các biện pháp phòng trừ sâu hại để phát triển sản xuất NLKH.
- Đề tài là tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu tiếp theo về lĩnh vực chuyên ngành sâu hại tại địa phương. Ý nghĩa thực tiễn - Việc nghiên cứu đã giúp tôi có điều kiện thực hành, áp dùng những kiến thức đã học và thực tế mang tính chuyên sâu hơn. - Từ kết quả nghiên cứu của đề tài giúp cho địa bàn nghiên cứu vận dụng một số đề xuất để phòng trừ sâu hại trong mô hình NLKH đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt hơn, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của mô hình. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở khoa học Côn trùng là lớp động vật khá phong phú. Hiện nay trong thế giới sinh vật có khoảng hơn 3 triệu loài sống trên trái đất, trong đó có trên 1,2 triệu loài là động vật, nhưng riêng lớp côn trùng số lượng đạt tới trên 1triệu loài chiếm khoảng 1/2 tổng số loài sinh vật của hành tinh.Côn trùng phân bố rộng rãi, có khả năng thích ứng rộng và chúng là loài mắn đẻ nhất thế giới nên chỉ với số lượng nhỏ phát triển trong một thời gian ngắn thì chúng đã có thể phát thành dịch. Tuy số lượng côn trùng lớn, nhưng chỉ có 10% số loài gây hại nghiêm trọng không quá 1%. Nhưng chúng để lại những hậu quả hết sức nghiêm trọng, gây ra những tổn thất to lớn đối với sản xuất nông lâm nghiệp.
Hàng năm, ở Mỹ thiệt hại tới 3 tỷ USD.Nhiều loài trong lớp côn trùng có sức gây hại lớn như phá hại cây cối; hoa màu (sâu ăn lá; sâu đục thân; sâu hại hoa, quả, củ, rễ…); Sâu phá hoại nông sản, đồ đạc, nhà cửa, công trình xây dựng (mối, mọt, xén tóc…);Chúng còn là trung gian truyền bệnh cho người và gia súc (ruồi, muỗi, chấy, rận…) nhưng không phải loài nào cũng có hại, có nhiều loài côn trùng có lợi nhưbọ ngựa, kiến, ong ký sinh ăn thịt các loại sâu hại khác, ong mật, cánh kiến đỏ, các loài ong bướm giúp hoa thụ phấn làm tăng năng suất cây trồng. Côn trùng là một thành viên của hệ sinh thái nông nghiệp và hệ sinh thái rừng, có tác dụng quan trọng trong việc làm thịnh suy cây trồng; côn trùng đóng vai trò là một mắt xích trong quá trình tiêu thụ và phân giải. Song côn trùng lại là một trong những đối tượng làm ảnh hưởng đến đời sống của cây, giảm khả năng sinh trưởng của cây, giảm năng suất rừng, thậm chí đã có những trận dịch làm chết hàng loạt cây con ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông lâm nghiệp. Vì vậy, trong công tác quản lý bảo vệ cần phải dự tính, dự báo sự phát sinh, phát triển của những côn trùng gây hại để chủ động phòng trừ, hạn chế tối đa những thiệt hại do côn trùng gây ra.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới Những nghiên cứu về côn trùng đã được ghi chép vào sử sách từ những năm trước công nguyên. Năm 125 trước công nguyên, lịch sử đã ghi nhận sức tàn n 5 phá ghê gớm của những “đám mây” châu chấu đã tàn phá hết mùa màng gây nạn đói, giết hại 800.000 người dân miền Bắc châu Phi (Trần Công Loanh, 1997) [7]. Tại Trung Quốc, năm 239 trước công nguyên đã chỉ ra các biện pháp quan trọng để bảo vệ cây trồng khỏi bị tác hại của sâu hại là chọn đúng thời vụ gieo trồng (Coppel et al, 1977) [18]. Cũng như các ngành khoa học khác, các nghiên cứu về côn trùng chỉ thực sự bắt đầu ở thời kỳ phục hưng.
Ở Pháp cuối thế kỷ XIX, người ta nhận thấy tác hại của rệp sáp Phylloxera vitifoliae đối với Nho. Năm 1884 loài rệp này đã gây thiệt hại khoảng 10 tỷ phơ – răng (Nguyễn Công Thuật, 1995) [11]. Đến thế kỷ XX, cùng với sự phát triển chung của nghành khoa học, côn trùng học đã thực sự trở thành một nghành khoa học lớn. Hội côn trùng học đầu tiên trên thế giới được thành lập ở nước Anh, tiếp đến là ở Pháp, Nga… Các hội này giữ vai trò chủ đạo trong việc phát triển côn trùng học ở mỗi nước.
Thông qua hoạt động củacác hội côn trùng học thì các nước đều đạt được những thành tựu đáng kể. Những nghiên cứu về sâu hại cây lâm nghiệp Những năm 60 của thế kỷ XX, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu về côn trùng và tìm hiểu sức phá hoại của chúng.Guexv đã nghiên cứu về sinh trưởng côn trùng và hệ thống lại cuốn “Côn trùng lâm nghiệp”. Cùng năm đó, tại Liên Xômột nhóm tác giả đã viết cuốn “Côn trùng học” giới thiệu về một số loài côn trùng hại lá, thân, cành trên các loài cây lá kim và cây lá rộng gồm các loài vòi voi đục thân cành, các loài bọ xít, bọ hung và một số loài sâu hại khác (Guexv, 1961) [17].Ionescu đã viết cuốn “Côn trùng học”, trong đó có đề cập đến vấn đề phân loại họ Bọ lá (Chrysomelidae). Tác giả cho biết trên thế giới đã phát hiện được 24.000 loài Bọ lá và tác giả đã mô tả cụ thể 14 loài (Bey- Bien Ko G.N Boronxop đã viết giáo trình “Côn trùng rừng”.
Trong các tác phẩm đã đề cập đến những loài côn trùng thuộc bộ Cánh cứng hại rừng(Coleoptera) như mối, xén tóc, bọ lá… Theo thống kê hàng năm thiệt hại do Mối gây ra ở một số nước lên đến một con số khổng lồ. Ở Mỹ thiệt hại do Mối gây ra hàng năm lên tới 150 triệu đô la.