Chương 1 đã trình bày tổng quan những vấn đề mà nghiên cứu này sẽ đề cập. Chương 2 sẽ đi vào nội dung chi tiết với phần trình bày về cơ sở lý thuyết của nghiên cứu bao gồm: một số khái niệm về thương hiệu, các khái niệm về giá trị thương hiệu và phương pháp đo lường giá trị thương hiệu. Dựa trên cơ sở lý thuyết đó, tác giả sẽ đưa ra mô hình và các giả thuyết nghiên cứu sẽ được kiểm định ở đề tài này.1 Thương hiệu và sản phẩm Thương hiệu là khái niệm đầu tiên cần tìm hiểu trước khi đi vào nghiên cứu về giá trị thương hiệu, các yếu tố tạo nên giá trị thương hiệu. Khái niệm “thương hiệu” có nguồn gốc từ chữ “Brand”, theo tiếng Alien cổ có nghĩa là đóng dấu, điều này xuất phát từ việc những người chủ trang trại chăn nuôi muốn phân biệt đàn cừu của mình với nguời khác.
Như vậy, khái niệm thương hiệu đầu tiên xuất phát từ nhu cầu tạo nên sự khác biệt cho sản phẩm của nhà sản xuất. Cho đến nay khái niệm này đã phổ biến và bao quát hơn, được đề cập đến trong nhiều nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học cũng như ứng dụng. Trong marketing, thương hiệu được xem là trung tâm của các công cụ marketing vì thương hiệu chính là những gì marketing xây dựng và nuôi dưỡng để cung cấp lợi ích cho khách hàng mục tiêu của mình (Nguyễn Đình Thọ & ctg, 2007, ữích bởi Lê Quang Bình, 2007). Hiện nay, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về thương hiệu nhưng nhìn chung được chia theo hai quan điểm: quan điểm truyền thống và quan điểm hiện đại.
- Quan điểm truyền thống được đại diện bàng khái niệm của Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ: "Thương hiệu một cái tên, từ ngữ, ký hiệu, biểu tượng, hình vẽ, thiết kế,. hay tổng họp của tất cả các yếu tố trên nhằm xác định và phân biệt hàng hóa và dịch vụ của một người bán hoặc nhóm người bán với hàng hóa và dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh” (Bennett, 1995). -19- Với quan điểm truyền thống này, thương hiệu được hiểu như là một thành phần của sản phẩm và chức năng chính của thương hiệu là dùng để phân biệt sản phẩm của mình với sản phẩm cạnh tranh cùng loại. Quan điểm truyền thống tồn tại trong một thời gian khá dài cùng với sự ra đời và phát triển của ngành tiếp thị.
Nhưng đến cuối thế kỷ 20, quan điểm về thương hiệu đã có nhiều thay đổi. Nhiều nhà nghiên cửu cho rằng quan điểm này không thể giải thích được vài trò của thương hiệu trong nền kinh tế chuyển sang nền kinh tế toàn cầu và cạnh tranh gay gắt. Họ cần một khái niệm mới phù hợp hơn về thương hiệu, quan điểm tổng hợp đã ra đời theo nhu cầu đó. - Quan điểm tổng hợp về thương hiệu cho rằng thương hiệu không chỉ là một cái tên hay một biểu tượng mà nó phức tạp hơn nhiều (Davis, 2002).
Nó là một tập hợp những thuộc tính cung cấp cho khách hàng mục tiêu các giá trị mà họ đòi hỏi. Thương hiệu theo 'quan điểm này cho răng sản phẩm chỉ là một thành phần của thương hiệu, chủ yếu cung cấp lợi ích chức năng cho người tiêu dùng. Như vậy các thành phần tiếp thị hỗn hợp (sản phẩm, giá cả, phân phối và chiêu thị) cũng chỉ là một thành phần của thương hiệu (Amber & Styler 1996). Hai quan điểm về sản phần và thương hiệu được minh hoạ ở Hình 2.
a Thương hiệu là một thành phần b. Sản phẩm là một thảnh phần cùa cua sản phẩm > thương hiệu Hình 2.1 Mối quan hệ giữa sản phẩm và thương hiệu (Nguồn: Nguyễn Đĩnh Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang, 2002) -20- Quan điểm sản phẩm là một thành phàn của thương hiệu ngày càng được nhiều nhà nghiên cứu và thực tiễn chấp nhận (Vd: Aaker, 1996). Lý do là người tiêu dùng có hai loại nhu cầu khi mua sắm: (1) nhu cầu chức năng (functional need) và nhu cầu về tâm lý (emotional need). Sản phẩm chỉ cung cấp cho người tiêu dùng lợi ích chức năng và chính thương hiệu mới cung cấp cho người tiêu dùng cả hai (Hankinson & Cowking, 1996).
Hơn nữa như Stephen King của tập đoàn WPP (Wire and Plastic Products) đã từng phát biểu: “sản phẩm là những gì được sản xuất ra trong nhà máy, thương hiệu là những gì khách hàng mua. Sàn phẩm có thể bị bắt chước bởi các đối thủ cạnh tranh nhưng thương hiệu là tài sản riêng của công ty. Sản phẩm có thể nhanh chóng bị lạc hậu, nhưng thương hiệu, nếu thành công sẽ không bao giờ bị lạc hậu” (Aaker, 1991). Chính vì vậy, dần dần thương hiệu đã thay thế cho sản phẩm trong các hoạt động tiếp thị của doanh nghiệp (Chevron, 1998; Bhat & Reddy, 199'8).
Như đã trình bày ở mục 1.3, hình thức thương hiệu được sử dụng ở nghiên cứu là thương hiệu mẹ (umbrella brand). Đây là trường hợp mà thương hiệu chính bao trùm và dùng cho hầu hết các sản phẩm của công ty, ví dụ như Chinsu của Massan Consumer. Kapferer & Jean Noel (2008) định nghĩa thương hiệu mẹ có nghĩa là một nhóm các sản phẩm có của một doanh nghiệp sở hữu cùng một tên hiệu (brand name). Các sản phẩm đó có hình ảnh khác nhau đặt dưới một thương hiệu chính và được quảng bá bởi doanh nghiệp.
Và bao trùm thương hiệu không có nghĩa là tất cả các dòng sản phẩm của công ty đều đặt dưới một tên hiệu. Bên dưới thương hiệu mẹ này là những thương hiệu con (sub-brand). Giữa các thương hiệu con này sẽ có sự tương tác lẫn nhau. Ngược lại, có những thương hiệu tồn tại một cách độc lập gọi là thương hiệu riêng biệt (individual brand).
Như vậy, nghiên cứu này sẽ sử dụng định nghĩa thương hiệu theo quan điểm tổng hợp bởi vì nó phù hợp với mục tiêu là đo lường giá trị thương hiệu theo quan điểm người tiêu dùng, giá trị thương hiệu theo quan điểm người tiêu dùng sẽ được trình bày kĩ ở phần tiếp theo. Và hình thức thương hiệu được nghiên cứu là thương hiệu mẹ (umbrella brand).2 Giá trị thương hiệu Khái niệm về giá trị thương hiệu bắt đầu được sử dụng rộng rãi từ thập niên 1980 bởi một số công ty và sau đó được Aaker phổ biến qua việc xuất bản ấn phẩm nổi tiếng của mình (Aaker, 1991). Sau Aaker, các tác giả Srivastava & Shocker (1991), Kapferer (1992), Keller (1993,1998) và nhiều nhà nghiên cứu, tư vấn, nhà marketing đã cống hiến thêm nhiều nghiên cứu về vấn đề này. Tại Việt Nam, Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang (2002) đã đưa ra mô hình các thành phần của giá trị thương hiệu.
Trên thế giới hiện có nhiều quan điểm và cách đánh giá về giá trị thương hiệu, có thể được chia thành hai nhóm: đánh giá theo quan điểm tài chính (FBBE) và theo quan điểm người tiêu dùng (CBBE) (Lassar & ctg, 1995), Đánh giá giá trị thương hiệu theo qụan điểm tài chính đóng góp vào việc đánh giá tài sản của công ty. Tuy nhiên cách đánh giá này không giúp nhiều cho các nhà quản trị marketing trong việc xây dựng và phát triển thương hiệu như đánh giá giá trị thương hiệu theo quan điểm người tiêu dùng. Hơn nữa, về mặt tiếp thị, giá trị về mặt tài chính của một thương hiệu là kết quả đánh giá của khách hàng về giá trị thương hiệu đó. Lý do là khi khách hàng đánh giá cao về một thương hiệu thì họ có xu hướng tiêu dùng thương hiệu đó (Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang, 2002).
Để phân biệt, dưới đây sẽ trình bày rõ hơn về hai quan điểm này.1 Giá trị thương hiệu theo quan điểm tài chỉnh Giá trị thương hiệu theo quan điểm tài chính là giá trị quy về hiện tại của thu nhập mong đợi trong tương lai nhờ có thương hiệu (Interbrand). Theo lý thuyết tài chính quốc tế, dòng tiền mặt được chiết khấu (Discounted Cash Flow) và giá trị hiện tại ròng (Net Present Value) của thu nhập trong tương lai là những khái niệm thích hợp để đo lường giá trị cùa bất kỳ loại tài sản nào. Đối với loại tài sản thương hiệu, giá trị thương hiệu là giá trị hiện tại ròng (NPV) của doanh thu thương hiệu đã chiết khấu bởi suất chiết khấu thương hiệu. Việc tính toán NPV bao gồm cả giai đoạn dự báo và giai đoạn ngoài dự báo phản ánh khả năng tiếp tục sinh lợi nhuận trong tương lai của thương hiệu.
-22- Theo Smith (1991, trích bởi Nguyễn Phượng Hoàng Lam, 2009), giá trị thương hiệu là giá trị đo lường được về mặt tài chính của công việc kinh doanh một sản phẩm hay địch vụ thông qua các hoạt động kinh doanh thành công. Brodsky (1991, trích bởi Nguyễn Phượng Hoàng Lam, 2009), giá trị thương hiệu là sự hiệu quả về mặt doanh thu và lợi nhuận mà công ty thu được từ kết quả xây dựng thương hiệu của nhiều năm hoạt động trước đó. Đối với Farguhar (1989), giá trị thương hiệu là phần giá trị tăng thêm cho công ty và khách hàng của sản phẩm gắn với thương hiệu đó. Như vậy, ở góc độ tài chính, giá trị thương hiệu là khoản tăng trong doanh thu của một sản phẩm có thương hiệu so với sản phẩm không có thương hiệu.
Giá trị thương hiệu theo quan điểm này thường nhăm mục đích kế toán, cung cấp rất ít hoặc không cung cấp các chỉ dẫn cho hoạt động quàn trị.2 Giá trị thương hiệu theo quan điểm người tiêu dùng Hiện nay, trên thế giới có hai phương pháp đánh giá giá trị thương hiệu dựa theo người tiêu dùng: (1) dựa vào lý thuyết tín hiệu (signalling theory) bắt nguồn từ học thuyết kinh tế thông tin dựa trên điều kiện thông tin thị trường là nguồn thông tin không hoàn hảo và bất cân xứng và (2) dựa vào lý thuyết tâm lý học nhận thức (cognitive psychology) xuất phát từ thái độ của người tiêu dùng sẽ dẫn đến hành vi tiêu dùng thương hiệu. Thuyết tăm lý học nhận thức. Trong lý thuyết này chất lượng sàn phẩm, dịch vụ được đánh giá chủ yếu dựa vào quy trình nhận thức của khách hàng và nó được sử dụng rất tốt để đánh giá chất lượng dịch vụ thương mại, hoặc đo lường giá trị thương hiệu. Tuy nhiên, khi áp dụng lý thuyết này đòi hỏi phải có thời gian để thu thập thông tin, tức là khách hàng sau một thời gian sử dụng mới cảm nhận được chất lượng của sản phạm, giống như người tiêu dùng sau khi mua và sử dụng nước mắm mới có điều kiện cảm nhận ưu, nhược điểm của chai nước mắm, việc phản hồi lúc này đôi khi đã chậm trễ.