Đặt vấn đề Hằng năm trên thế giới, bệnh cây gây ra những tổn thất to lớn cho sản xuất nông nghiệp. Chúng phá hủy 537,3 triệu tấn các loại nông sản chủ yếu, chiếm 11,6% tổng sản lượng nông nghiệp trên thế giới. Trong các loại bệnh thì bệnh do nấm gây ra chiếm khoảng 83%, trong đó bệnh do nấm Fusarium và Rhizocronia gây ra với tỷ lệ lớn. Chúng gây bệnh trên nhiều loại rau quả và cây lương thực như lạc, cà chua, khoai tây, cà phê,tiêu.
Biện pháp phòng trừ các bệnh hại cây trồng phổ biến nhất cho đến nay vẫn là sử dụng các loại thuốc hóa học. Mặc dù có ưu điểm là phổ tác dụng rộng, hiệu quả và tác dụng nhanh, nhưng thuốc hóa học ngày càng bộc lộ rõ những nhược điểm như hiệu quả phòng trừ thấp đối với các loại nấm bệnh trong đất, nhanh bị ức chế bởi nấm bệnh sau một thời gian sử dụng, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người. Hơn nữa, ngày càng gia tăng bệnh nhiễm nấm, ít các loại thuốc kháng nấm có sẵn, và các loài nấm ngày càng kháng với thuốc chống nấm có sẵn, đã dẫn đến việc mở rộng việc tìm kiếm chế phẩm sinh học chống nấm mới. Chủng Pseudomonas syringae pv.
syringae sản xuất lipodepsinonapeptides với hoạt tính kháng nấm. Nghiên cứu trong ống nghiệm về cơ chế kháng nấm và các hoạt động diệt nấm của ba lipodepsinonapeptides (syringomycin E, syringotoxin B, và syringostatin A) cho thấy, cả ba hợp chất có khả năng chống nấm phổ rộng và có hoạt tính diệt hầu hết các loài nấm thử nghiệm. Syringomycin E (C53 H85CLN14O17) là một trong những hợp chất quan trọng nhất được nghiên cứu. Syringomycin B2 là một enzyme quan trọng liên quan chặt chẽ trong quá trình tiết ra Syringomycin E, một hoạt chất có phổ kháng khuẩn và nấm rộng được sản sinh bởi Pseudomonas syringae pv.
2 Việc nghiên cứu cấu trúc và đặc điểm của SyrB2 là cần thiết. Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi thực hiện đề tài “ Nghiên cứu phân lập gene SyrB2 từ chủng vi khuẩn Pseudomonas syringae pv. syringae sinh tổng hợp Syringomycin cao” 1. Mục tiêu nghiên cứu - Tách dòng và giải trình tự gen SyrB2, tìm kiếm đột biến trên SyrB2 ở mức độ gen và protein.
- Tách ARN tổng số và chuyển cDNA bằng mồi ngẫu nhiên. - Kiểm tra sự biểu hiện tương đối của SyrB2 ở mức độ gen bằng kỹ thuật RT- realtime PCR. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Giúp sinh viên củng cố và hệ thống lại các kiến thức đã được học và tham gia nghiên cứu khoa học, cách xử lí và phân tích số liệu, cách trình bày một báo cáo khoa học.
Quan trọng hơn là việc phân lập và tách dòng thành công gen syrB2 là cơ sở cho các nghiên cứu tổng quát có liên quan về sản xuất Syringomycin sau này. Ý nghĩa trong thực tiễn Sản phẩm của quá trình tách dòng gen syrB2 sẽ cung cấp vật liệu và là cơ sở cho các nghiên cứu nhằm đưa các gene mã hóa cho các enzyme tổng hợp syringomycin vào vi sinh vật, tạo ra các chủng vi sinh vật tái tổ hợp có khả năng sản xuất syringomycin cao đáp ứng nhu cầu thị trường và hạ mức giá thành của sản phẩm. 3 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về vi khuẩn Pseudomonas syringae pv.
Đặc điểm của Pseudomonas syringae pv. syringae Căn cứ vào đặc điểm hình thái và sự phân bố địa lý Pseudomonas Syringae pv. syringae được phân loại thuộc[28]: Ngành (Phylum): Proteobacteria Lớp (Class): Gamma Proteobacteria Bộ (Order): Pseudomonadales Họ (Family): Pseudomonadaceae Chi (Genus): Pseudomonas Loài (Species): P.1: Pseudomonas dƣới kính hiển vi điện tử [16] Pseudomonas syringae pv.syringae là một thành viên của chi Pseudomonas, và dựa trên phân tích 16S rRNA, nó được đặt trong nhóm P. Nó được đặt tên theo tên của cây Tử đinh hương (Sơn mai hoa), chúng được phân lập đầu tiên từ cây này [28].
Đặc điểm hình thái học chung cho chi Pseudomonas là vi khuẩn Gram âm, tế bào hình que, di động 4 nhờ roi ở đầu và không có bào tử. Có kích thước 0,5-1 x 1,5-5 μm, có khả năng chuyển động bằng một hay nhiều tiêm mao. Tính chất nuôi cấy: Pseudomonas mọc dễ dàng trên các môi trường nuôi cấy thông thường, hiếu khí. Nhiệt độ thích hợp 37°C nhưng phát triển được ở nhiệt độ 5oC - 42°C, pH thích hợp 7,2 – 7,5 nhưng phát triển được ở pH 4,5 - 9,0.
Hình ảnh khuẩn lạc chủng Pseudomonas sp trên đĩa thạch (A) và hình thái tế bào (B) [1] Trên môi trường đặc có thể gặp 2 loại khuẩn lạc: 1 loại to, nhẵn, dẹt, trung tâm hơi lồi. Có xu hướng mọc lan (Hình 2.2A) , 1 loại xù xì bờ không đều, đôi khí có loại khuẩn lạc nhầy. Trên môi trường thạch máu đa số gây tan máu. Trong các nuôi cấy từ bệnh phẩm thường gặp loại khuẩn lạc thứ nhất.
Trong các nuôi cấy từ môi trường thường gặp loại khuẩn lạc thứ hai [6]. Trong môi trường lỏng vi khuẩn mọc thành váng ở trên. Pseudomonas mọc được ở trên môi trường SS (shigella salmonella), đây là đặc điểm để phân biệt với trực khuẩn Whitmore. Tính chất đặc trưng của Pseudomonas là sinh sắc tố và chất thơm.
Có hai loại sắc tố chính pyocyanin: có màu xanh lá cây, tan trong nước và chloroform, khuếch tán ra môi trường làm môi trường có màu xanh. Pyoverdin: là loại sắc tố huỳnh quang, tan trong nước nhưng không tan trong chloroform, phát màu xanh khi chiếu tia cực tím [1]. Sắc tố này không bền vững dễ mất đi trong điều kiện nuôi cấy không tốt. Sắc tố của Pseudomonas dưới ảnh hưởng của các nguyên tố hóa học có thể thay đổi 5 thành màu nâu, đen.
Pseudomonas là vi khuẩn xuất hiện ở mọi nơi trong môi trường. Sự biến dưỡng dễ thay đổi và linh động của chúng làm cho chúng có thể sống ở nhiều môi trường khác nhau như nước, đất, trên cây và trong các động vật. Trong số những loài Pseudomonas này, có những loài tiêu biểu có thể được sử dụng trong công nghệ sinh học [7,25]. Khả năng gây bệnh chung của P.
syringae được chứng minh gây ra một loạt các triệu chứng trên thực vật, bao gồm cả cháy lá, đốm lá, lá sần sùi. Loài này được chia thành nhiều biến thể gây bệnh (pathovars), trên nhiều cây chủ khác nhau. Khi Pseudomonas xâm nhập vào mô thực vật, chúng tương tác tạo triệu chứng ngậm nước, sau đó là quá trình tăng sinh và phát triển các triệu chứng nâng cao hơn. Trong khi đó, các tế bào cây chủ phản ứng lại sự xâm nhập của vi khuẩn bằng cơ chế hoại tử sau 12-24 giờ [8].
Nhóm gen HRP là cần thiết cho khả năng gây bệnh của Pseudomonas syringae pv.syringae vì chúng mã hóa cho sự điều hòa và hình thành con đường tiết độc tố ở thực vật. Chúng được bảo tồn trong các chủng Pseudomonas syringae pv. syringae gây bệnh trên thực vật. Ngoài ra, Pseudomonas syringae pv.
syringare cũng sản sinh ra nhiều tác nhân gây độc khác như các polysaccharide ngoại bào, các độc tố thực vật, các enzyme phá hủy màng tế bào và các phytohormone [8]. Dựa trên phân tích 16sRNA, Pseudomonas syringae pv. syringae được đặt trong loài Pseudomonas syringae pv. syringae , là một trong các tác nhân gây bệnh quan trọng ở hơn 180 loài thực vật trên toàn thế giới, đặc biệt, chúng gây bệnh đốm nâu ở đậu với thiệt hại năng suất lên đến 55% ở Nam Phi [13].1: Độc tố thực vật sản xuất bởi vi khuẩn Pseudomonas spp Độc tố Vi sinh vật sản xuất Nhóm chất sinh tổng hợp P.
atropurpurea, glycinea,maculicola, Coronatine Polyketide morsprunorum, tomato Corpeptin P. corrugate Lipodepsipeptide Fuscopeptin P. fuscovaginae Lipodepsipeptide Persicomycins P. persicae Chất béo Phaseolotoxin P.
actinidiae, Sulfodiaminophosphinyl phaseolicola peptide Rhizobitoxine P. andropogonis Vinylglycine Syringomycins P. syringae, aptata, Lipodepsinonapeptide atrofaciens Syringopeptins P. syringae Lipodepsipeptide Tabtoxin P.
tabaci, β-Lactam coronafaciens, garcae Tolaasin P. tolaasii Lipodepsipeptide Viscosin P. Khả năng sinh tổng hợp hợp chất thứ cấp kháng nấm Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã cho rằng các chủng vi khuẩn Pseudomonas sp đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế các bệnh cây trồng [9, 15, 17]. Hiệu quả của một vi sinh vật kiểm soát sinh học trong nhà kính và trên đồng ruộng phụ thuộc vào sự sinh tổng hợp một hay nhiều chất đối ức chế sinh trưởng nấm [14].
Các chủng Pseudomonas sinh tổng hợp nhiều loại ức chế sinh khác nhau như phenazine [26, 27, ]. Henkes và cộng 7 sự công bố chủng P. fluorescens có khả năng ức chế hiệu quả với F. graminearum gây bệnh trên cây lúa mạch [1].
Năm 2012, Seema và cộng sự công bố chủng P.aeriginosa SD12 có khả năng sinh tổng hợp 1 hydrophenazine ức chế mạnh với nấm R. syringae sinh tổng hợp syringomycin, syringostatin và syringotoxin, có các đặc tính chống nấm tiềm năng. Syringomycin-E (SRE) là peptide phổ biến nhất. SRE diệt nấm A.
Khái quát về Syringomycin E 2. Đặc điểm cấu trúc, thành phần của SyrE Các syringomycin (SR) gồm A1, E và G, trong đó syringomycin E (SR- E) là nhóm chính và được nghiên cứu nhiều nhất [22]. SR-E là một peptide tuần hoàn không phải ribosom [11]. SR-E có khối lượng phân tử là 1240 kDa.
SR-E được tạo ra do sự trao đổi chất thứ cấp của vi khuẩn P. syringae pv syringae. Cấu trúc của SR-E gồm một axit béo mạch dài không phân nhánh và chín axid amin khép vòng, ưa nước, tích điện dương. Trình tự axit amin của SR-E là Ser-Ser-Dab-Dab-Arg-Phe-Dhb-4(Cl)Thr-3(OH)Asp, được khép vòng tại nhóm β-carboxy của đầu cùng C và nhóm OH của đầu cùng N nhờ quá trình acetyl hóa được xúc tác bởi axit 3-hydroxydodecanoic[4; 21,].
Công thức cấu tạo của SR-E (Hình 2. Cấu trúc Syringomycin E [29] 8 Syringomycin E(SR-E) tan trong nước và tan trong cồn nồng độ thấp, không tan trong ether và chloroform. Điểm đẳng điện ở pH 7 [23]. Hoạt tính kháng sinh của SR-E không bền trong dung dịch kiềm, đặc biệt tại pH 8 và bền trong 1N HCl, bền ở nhiệt độ cao, không bị ảnh hưởng bởi tia cực tím.
SR-E có hoạt tính kháng nhiều loại nấm mốc và nấm men. Khả năng kháng nấm men của SR-E tốt hơn nấm mốc. Tuy nhiên, chúng không có khả năng ức chế vi khuẩn [23]. Cụm gen syringomycin (syr) gồm một vùng trình tự DNA xấp xỉ 37kb của bộ gen P.syringae pv syringae.
Sáu khung đọc mở thuộc cụm gen syr được dự đoán là mã hóa cho các protein tham gia vào quá trình sinh tổng hợp (syrB1, syrB2, syrC và syrE), quá trình tiết SRE phụ thuộc vào syringomycin D (syrD) và quá trình điều hòa phụ thuộc vào syringomycin P (syrP) [16]. Đặc điểm nổi bật nhất của cụm gen Syr đó chính là sự xuất hiện của một khung đọc mở cực kì lớn (28.4kb) của gen SR-E. Phân tích trình tự axid amin đã chỉ ra rằng SR-E mã hóa cho một chuỗi peptide với khối lượng phân tử lên đến 1,039kDa với tám acid amin cấu thành.