ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư biểu mô vòm họng (Nasopharyngeal carcinoma, NPC) là một trong tám loại ung thư phổ biến nhất tại Việt Nam. Đồng thời, Việt Nam còn nằm ở khu vực Đông Nam Á, một trong ba khu vực có tỷ lệ mắc NPC cao đột biến trên bình diện thế giới. Năm 2012, trên thế giới có 86.691 ca mắc NPC và có đến 66,2% số ca bệnh đến từ nhóm khu vực có tỷ lệ mắc NPC cao, vùng Nam Trung Quốc, vùng Đông Nam Á và Bắc Phi. Lý do giải thích cho việc phân bố tấp trung của bệnh ở một vài khu vực chính là tính phân hóa về mặt địa lý, chủng tộc của ung thư vòm họng.
Trong cộng đồng dân cư ở khu vực Bắc Mĩ và các nước châu Âu tỷ lệ mắc NPC là thấp hơn 1 ca/100.000 người , trong khi tỷ lệ này ở vùng Đông Nam Á và Nam Trung Quốc lần lượt là 17 ca/ 100.000 người và 50 ca/100. Tại Việt Nam vào năm 2012, có 4931 trường hợp mắc ung thư vòm họng chiếm 3,9% trên tồng số các bệnh ung thư (đứng thứ 8 về tỷ lệ mắc) và có 2.885 trường hợp tử vong do ung thư vòm họng. Theo dự đoán của globalcan, đến năm 2017 sẽ có 12177 trường hợp mắc ung thư vòm họng tại Việt Nam đây là sự gia tăng khá nhanh so với thế giới và của khu vực Đông Nam Á. EBV (của Epstien-Barr virus) là virus đầu tiên con người được xác định là có liên quan với các trường hợp ung thư ở người, bao gồm cả tế bào bạch huyết cũng như tế bào biểu mô.
Sự xâm nhiễm EBV là một trong các nguyên nhân chính gây ung thư vòm họng ngoài các yếu tố thuộc về di truyền và môi trường. Bộ gen của EBV đã được tìm thấy trong hầu hết các tế bào NPC, minh chứng cho sự xâm nhiễm EBV có liên quan mật thiết đến việc mắc ung thư vòm. EBNA-1 là gen kháng nguyên hạt nhân của Epstein-Barr virus (Epstein-Barr nuclear antigen-1) đóng vai trò quan trọng trong sự tồn tại và các hoạt động của EBV trong tế bào. EBNA-1 được tìm thấy trong tất cả các khối u ác tính có liên quan đến EBV nên đã được sử dụng thường xuyên nhằm phát hiện EBV và tiên lượng các bệnh (ung thư) có liên quan đến EBV (điển hình là ung thư biểu mô vòm họng).
9 Việc chẩn đoán sớm NPC có ý nghĩa quan trọng trong quá trình điều trị bệnh nhưng lại bị trở ngại bởi việc bệnh không có dấu hiệu lâm sàng đặc trưng. Đồng thời, EBNA-1 cho thấy tiềm năng lớn để làm marker phát hiện EBV và tiên lượng sớm NPC 10 1. PHẦN I: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về ung thư 1.
Khái niệm về ung thư và tình hình ung thư trên thế giới 1. Khái niệm về ung thư Ung thư là tên gọi chung cho một mhóm bệnh lý ác tính của tế bào, đơn vị cấu thành các cấp độ khác lớn hơn của cơ thể [1]. Đặc trưng của ung thư là sự hình thành các khối u ác tính do hoạt động tăng sinh vô hạn của các tế bào ung thư. Ở trạnh thái thông thường, các tế bào tồn tại theo một quy luật chung, apoptosic (chu trình chết của tế bào), các tế bào thoát ra ngoài quy luật đó sẽ bất tử và được gọi là tế bào ung thư [69].
Đa số ung thư là bệnh có biểu hiện mãn tính, có quá trình phát sinh và phát triển lâu dài qua từng giai đoạn. Trừ một số nhỏ ung thư ở trẻ em có thể do đột biến gen từ lúc bào thai, còn phần lớn các ung thư đều có giai đoạn tiềm tàng lâu dài có thể lên đến hàng chục năm không có dấu hiệu gì trước khi bị phát hiện dưới dạng các khối u. Khi này khối u sẽ phát triển nhanh và bắt đầu xuất hiện các triệu chứng của bệnh. Triệu chứng đau thường chỉ xuất hiện khi bệnh ở giai đoạn cuối [1].
Các tế bào của khối u ác tính có thể xâm lấn đến các bộ phận liền kề và lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể thông qua hệ thống bạch huyết hoặc máu, quá trình này được gọi là di căn. Di căn là nguyên nhân chính dẫn đến tử vong vì mắc ung thư [4].Ngày nay, trên toàn thế giới đã ghi nhận lại hơn 100 loại ung thư khác nhau [69], các loại ung thư thường được đặt tên theo các cơ quan hoặc mô nơi khối u hình thành. Ví dụ, ung thư phổi bắt đầu trong các tế bào của phổi và ung thư não bắt đầu trong các tế bào của não… 1. Tình trạng bệnh ung thư trên thế giới và Việt Nam Ung thư là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong trên thế giới, với 8,2 triệu trường hợp tử vong trên toàn Thế Giới và khoảng 12 triệu trường hợp mới mắc vào năm 2012 (Globocan).
Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO) các vùng gồm châu Phi, châu Á, Trung và Nam Mỹ chiếm hơn 60% trong tổng số các trường 11 hợp mắc mới và 70% các trường hợp tử vong do ung thư của Thế Giới. Cũng theo dự đoán của WHO, đến năm 2032 sẽ có đến 22 triệu trường hợp mắc ung thư. Vào năm 2012, Việt Nam có khoảng 125 nghìn ca mắc mới và 94,7 nghìn trường hợp tử vong do ung thư. Những loại ung thư phổ biến ở Việt Nam là ung thư gan, phổi, vú, dạ dày và mũi họng [68].
Ở Việt Nam, tỉ lệ ung thư vòm họng đứng hàng đầu trong các bệnh ung thư vùng đầu mặt cổ và đứng thứ tám trong tất cả các loại ung thư nói chung, tỷ lệ mắc bệnh ung thư vòm họng tính đến năm 2012 là 3,9% trong tất cả các loại ung thư tương đương 4931 ca mắc. Trong đó, có đến 2885 trường hợp tử vong chiếm một tỷ lệ khá cao so với các loại ung thư khác. Đến năm 2017, số lượng mắc ung thư vòm họng tại Việt Nam được dự đoán tăng lên đến 5,7% thể hiện sự phát triển của bệnh trong cộng đồng dân cư Việt Nam rất cao [68]. Tổng quan về ung thư vòm họng 1.
Giải phẫu vùng vòm họng Vùng vòm họng là một khoang hổng ở phần trên của cổ họng nằm phía sau mũi, ngay trên phần mềm của vòm miệng và nằm dưới phần nền của hộp sọ. Vùng vòm họng nối liền mũi và mặt sau của khoang miệng, giúp thự hiện chức năng hô hấp và là phần nằm cao nhất trong vùng họng [2]. Giải phẫu vòm họng [72] 12 1. Khái niệm về ung thư vòm họng Ung thư biểu mô vòm họng là một dạng phổ biến của nhóm ung thư biểu mô(carcinoma).
Ung thư biểu mô vòm họng (Nasopharyngeal carcinoma, NPC) là dạng ung thư có khối u biểu mô bắt nguồn ở lớp tế niêm mạc vùng hầu họng, đây là những tế bào thường trú ở đầu vòi nhĩ trong thành bên vòm họng [39]. Một cách chi tiết hơn, khối u ác tính bước đầu xuất hiện trong các hố yên (hố Rosenmuller) ở thành bên vòm họng sau đó lan rộng ra phía trong hoặc ra ngoài vùng vòm họng đến nền sọ hoặc vòm miệng mềm, khoang mũi hoặc thực quản. Các khối u có thể di căn đến các hạch bạch huyết cổ và có thể di căn xa hơn đến xương, phổi, gan,. thông qua đường máu [7].
Ở các giai đoạn đầu, NPC không có dấu hiệu đặc trưng riêng dễ nhầm lẫn với các bệnh viêm, nhiễm khác ở vùng họng [5]. NPC lần đầu được mô tả vào năm 1901, đến năm 1922 thì được chẩn đoán lâm sàng và cho đến năm 1941 mới có một nghiên cứu toàn diện về NPC được công bố [45]. Ngày nay tổ chức y tế Thế giới (WHO) chia NPC thành 3 loại: loại I là ung thư biểu mô vảy (Squamous cell carcinoma), loại II là ung thư không có vảy (Non- keratinizing Carcinoma), loại III ung thư không biệt hóa (Undifferrentisted Carcinoma). Trong đó, NPC loại III luôn có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở tất cả các vùng dân cư khác nhau (75%-97%) [39].
Sự phân bố và sự phân hóa của ung thư vòm họng Theo thống kê của Globocan năm 2012 có khoảng 86.691 triệu ca mắc ung thư vòm họng, tỷ lệ tử vong là 50.831 triệu ca mỗi năm trên thế giới; theo ước tính đến 2.017 thì tỷ lệ số nhiễm ung thư vòm họng sẽ tăng 161.899 ca trên toàn thế giới (Globocan). Tỷ lệ mắc NPC thấp nhất thế giới là dưới 1/100.000 dân trong 1 năm ở nhóm người da trắng phân bố khu vực Bắc mĩ và châu Âu [7], còn ở vùng Đông Nam Á và miền Nam nước Trung Quốc thì tỷ lệ này rất cao (lần lượt là 17/100.000 người và 50/100. Điều đó cho thấy tỉ lệ mắc NPC có sự phân hóa về mặt đại lý và dân tộc khá rõ ràng. 13 Ngoài sự phân hóa về tỷ lệ mắc NPC ở các dân tộc và khu vực địa lý khác nhau, ở mỗi khu vực địa lý và nhóm tuổi khác nhau cũng có một loại ung thư vòm họng đặc trưng cho nhóm bệnh nhân đó (có 3 loại, theo WHO).
Hầu hết các trường hợp mắc ung thư vòm họng ở trẻ em và vị thành niên rơi vào loại III và một vài trường hợp là loại II. Tại các khu vực như Nam Trung Quốc, ung thư vòm họng loại III chiếm đến hơn 97% trong khi ở các nước phương Tây ung thư vòm họng loại III lại ít phổ biến hơn (xấp xỉ 75%) [39]. Sự phân hóa của ung thư vòm họng còn thể hiện ở giới tính. Tại riêng Việt Nam cũng như ở mức độ thế giới, tỷ lệ mắc ung thư vòm họng ở nam luôn cao hơn nữ.
Năm 2012 tại việt nam tỷ lệ nam mắc ung thư vòm họng là 4,7% torng các loại ung thư cao hơn tỷ lệ này ở nữ giới (3%). Dự đoán đến năm 2017 tỷ lệ mắc NPC ở nam giới sẽ tăng vọt lên 9% tạo khoản cách lớn với tỷ lệ này ở nữ giới (3,3%) [68]. Các nguyên nhân gây ung thư vòm họng Có ba nguyên nhân chính đã được xác định gây NPC: yếu tố môi trường, yếu tố di truyền và Epstein-Barr virus [39]. Yếu tố môi trường Các phương pháp chế biến các sản phẩm muối (như cá muối) thường được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam và các vùng khác có tỷ lệ mắc ung thư vòm họng cao được cho là có liên quan mật thiết với tỷ lệ mắc bệnh cao tại địa phương.
Đồng thời, bảo quản thực phẩm đóng hộp sử dụng các hóa chất như nitrosodimethyamine (NDMA), N-nitrospyrrolidene (NPYR) và N-nitrospiperidine (NPIP), các chất này có thể làm tăng khả năng mắc ung thư vòm họng.