Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Điều kiện địa lý và văn hoá xã hội của huyện Mai Châu 1. Điều kiện địa lý Mai Châu là một huyện miền núi thuộc tỉnh Hoà Bình. Mai Châu là huyện cực tây của tỉnh, phía Đông giáp huyện Đà Bắc và huyện Tân Lạc, phía Tây và phía Nam giáp huyện Quan Hóa của tỉnh Thanh Hóa, phía Bắc giáp huyện Vân Hồ của tỉnh Sơn La; Theo Niên giám thống kê tỉnh Hòa Bình (2018) huyện Mai Châu có tổng diện tích tự nhiên là 56.983 ha; dân số 56.048 người; mật độ trung bình là 98 người/km vuông.
Huyện Mai Châu có 01 Thị trấn Mai Châu và 22 xã. Địa hình Mai Châu khá phức tạp, bị chia cắt nhiều bởi hệ thống khe, suối và núi cao. Theo đặc điểm địa hình, có thể chia thành hai vùng rõ rệt: - Vùng thấp phân bố dọc theo suối Xia, suối Mùn và quốc lộ 15, có diện tích gần 2.000 ha, địa hình tương đối bằng phẳng, đất đai màu mỡ. - Vùng cao giống như một vành đai bao quanh huyện, gồm 8 xã với tổng diện tích trên 400 km2 , có nhiều dãy núi, địa hình cao và hiểm trở.
Độ cao trung bình so với mực nước biển khoảng 800 - 900m, điểm cao nhất là 1. Độ dốc trung bình từ 30 0 đến 35 0. Nhìn tổng thể, địa hình Mai Châu thấp dần theo chiều từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Hai xã Hang Kia, Pà Cò, thuộc huyện vùng cao Mai Châu, tỉnh Hòa Bình; đây là xã vùng cao, cách trung tâm huyện lỵ gần 50km về phía Tây Bắc.
Văn hoá xã hội Mai Châu là nơi tập trung sinh sống của nhiều dân tộc. Theo số liệu thống kê chính thức tính đến năm 2018, dân số huyện Mai Châu 56. Trong đó, người Thái chiếm đa số gần 60%, dân tộc Mường chiếm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com 4 14,05%, người Kinh chiếm 14,01%, người Mông chiếm 9,6%, người Dao chiếm 2,02%, còn lại là đồng bào các dân tộc khác chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Tại huyện Mai Châu dân tộc H’Mông thường sống ở vùng núi cao, điều kiện sản xuất còn rất nhiều khó khăn, lương thực chính là cây ngô và thu nhập chính từ chăn nuôi.
Đây là cộng đồng dân tộc ít người của huyện Mai Châu, ít giao tiếp với bên ngoài, bất đồng ngôn ngữ với các dân tộc khác, vẫn còn tồn tại một số tập tục lạc hậu như tảo hôn, ma chay tốn kém, bên cạnh đó người H’Mông có Lễ hội "Gầu Tào" mang đậm bản sắc dân tộc mình. Điều kiện đi lại khó khăn, địa hình phức tạp, người dân sống rải rác nên việc phổ cập giáo dục tiểu học đối với người dân gặp nhiều vất vả. Người H’Mông chủ yếu nuôi 3 loại vật nuôi chính: Bò, lợn và gà, trong đó con gà được thể hiện sức sống, sức sinh sôi của đồng bào H’Mông, khi khánh thành gia thất hay đến nơi ở mới phải có đàn gà làm giống. Trong các dịp ma chay, lễ tết, cưới xin hoặc các hoạt động tín ngưỡng, làng bản người H’Mông không thể thiếu tiếng gà gáy.
Thịt gà là thức ăn bắt buộc khi phụ nữ sinh nở trong tháng đầu. Niên giám thống kê tỉnh Hòa Bình (2018) công bố tổng đàn gia cầm của huyện Mai Châu là 269. Khả năng sinh trưởng 1. Khái niệm sinh trưởng Chambers J.
(1990) định nghĩa: Sinh trưởng là sự tổng hợp quá trình tăng lên của các bộ phận trên cơ thể như thịt, da, xương. Tuy nhiên có khi tăng khối lượng chưa phải là sinh trưởng, sự sinh trưởng thực sự phải là tăng các tế bào của mô cơ, tăng thêm khối lượng, số lượng và các chiều của cơ thể. Tóm lại sinh trưởng phải trải qua 3 quá trình đó là: - Phân chia để tăng khối lượng tế bào. - Tăng thể tích tế bào.
- Tăng thể tích giữa các tế bào. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com 5 Trong quá trình này thì sự phát triển của tế bào là chính, các đặc tính của các bộ phận trong cơ thể hình thành nên quá trình sinh trưởng là sự tiếp tục thừa hưởng các đặc tính di truyền từ đời trước, nhưng hoạt động mạnh hay yếu, hoàn thiện hay không hoàn thiện còn phụ thuộc vào sự tác động của môi trường. Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như quá trình tổng hợp protein, vì thế người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng. Theo Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường (1992), sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở di truyền của đời trước.
Sự sinh trưởng chính là quá trình tích lũy dần dần các chất mà chủ yếu là protein, nên tốc độ tích lũy của các chất cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể. Mà sự hoạt động của các gen điều khiển này chịu ảnh hưởng của hệ thống tuyến nội tiết. Đặc biệt là hormon STH (Somato Tropin Hormon) của thùy trước tuyến yên, có tác dụng trong việc thúc đẩy quá trình sinh trưởng của sinh vật. Theo Johanson (1972), cường độ phát triển qua giai đoạn bào thai và giai đoạn sau khi sinh có ảnh hưởng đến chỉ tiêu phát triển của con vật.
Ở giai đoạn phôi là quá trình hình thành, phát triển các tổ chức mới của cơ thể. Còn giai đoạn sau khi nở, sự sinh trưởng là sự lớn lên của các mô, sự tăng lên về khối lượng, kích thước tế bào. Sự sinh trưởng ở gia cầm sau khi nở được chia làm hai thời kỳ, thời kỳ gà con và thời kỳ gà trưởng thành. + Thời kỳ gà con Ở thời kỳ gà con, quá trình sinh trưởng diễn ra rất mạnh do lượng tế bào tăng nhanh cả về số lượng, kích thước và khối lượng tế bào, trong khi đó các cơ quan nội tạng nhất là bộ máy tiêu hóa chưa hoàn chỉnh về chức năng, các men tiêu hoá trong hệ tiêu hoá chưa đầy đủ, vì thế thức ăn ở giai đoạn này ảnh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com 6 hưởng rất lớn đến tốc độ sinh trưởng của gà.
Ở gà con còn diễn ra quá trình thay lông, đây là quá trình sinh lý quan trọng của gia cầm. Do vậy, cần chú ý cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể gia cầm nhất là các axit amin không thay thế như: Lysine, Methionine, Tryptophan… + Thời kỳ gà trưởng thành Giai đoạn này các cơ quan trong cơ thể gà gần như đã phát triển hoàn thiện, số lượng tế bào tăng chậm chủ yếu là quá trình phát dục. Thời kỳ này gà đã có khả năng thích nghi tốt với sự thay đổi của điều kiện môi trường. Trong cơ thể gà lúc này xảy ra quá trình tích luỹ các chất dinh dưỡng và năng lượng một phần để duy trì cơ thể, một phần để tích luỹ mỡ, do vậy tốc độ sinh trưởng chậm hơn so với thời kỳ gà con.
Vì vậy, giai đoạn này cần xác định tuổi giết mổ thích hợp để cho hiệu quả kinh tế cao nhất. Các chỉ tiêu đánh giá sự sinh trưởng Theo Chambers J. (1990), để đánh giá sức sinh trưởng của gia cầm người ta thường dùng các chỉ tiêu chính như: Kích thước cơ thể, sinh trưởng tích luỹ (khối lượng cơ thể), tốc độ sinh trưởng (sinh trưởng tuyệt đối, sinh trưởng tương đối) và đường cong sinh trưởng. + Kích thước cơ thể Kích thước cơ thể là một chỉ tiêu quan trọng cho sự sinh trưởng, đặc trưng cho từng giai đoạn sinh trưởng, từng giống, qua đó góp phần vào việc phân biệt giống.
Giới hạn kích thước của loài, cá thể…do tính di truyền quy định. Tính di truyền của kích thước không tuân theo sự phân ly đơn giản theo các quy luật Mendel. Kích thước cơ thể luôn có mối tương quan thuận chặt chẽ với khối lượng cơ thể. Kích thước cơ thể còn liên quan đến các chỉ tiêu sinh sản như tuổi thành thục về thể trọng, chế độ dinh dưỡng, thời gian giết thịt thích hợp trong chăn nuôi.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com 7 + Khối lượng cơ thể Ở từng giai đoạn phát triển, chỉ tiêu này xác định sự sinh trưởng của cơ thể tại một thời điểm, nhưng lại không khẳng định được sự sai khác về tỷ lệ sinh trưởng giữa các thành phần của cơ thể trong cùng một thời gian ở các độ tuổi. Khối lượng cơ thể được tính bằng g/con hoặc kg/con. Và được biểu thị bằng đồ thị sinh trưởng tích lũy. + Sinh trưởng tuyệt đối Sinh trưởng tuyệt đối là sự tăng lên về khối lượng, kích thước cơ thể trong một đơn vị thời gian giữa hai lần khảo sát (Bùi Hữu Đoàn, 2011).
Sinh trưởng tuyệt đối được tính bằng g/con/ngày. Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn và ngược lại. + Sinh trưởng tương đối Sinh trưởng tương đối được tính bằng tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng (thể tích, kích thước) của cơ thể khi kết thúc quá trình khảo sát so với thời điểm đầu khảo sát (Bùi Hữu Đoàn, 2011). Gà còn non có sinh trưởng tương đối cao sau đó giảm dần theo tuổi.
Sau giai đoạn trưởng thành là giai đoạn già cỗi, ở thời kỳ này khối lượng cơ thể không tăng mà có chiều hướng giảm. Nếu vẫn có hiện tượng tăng khối lượng thì đây là do quá trình tích luỹ mỡ. Thời kỳ này sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, tuổi và điều kiện sống của con vật. Thời kỳ già cỗi được tính từ khi con vật ngừng sinh trưởng, khả năng sinh sản và mọi khả năng khác đều giảm (Lê Huy Liễu và cs, 2004).
+ Đường cong sinh trưởng: Đường cong sinh trưởng biểu thị sinh trưởng của gia súc, gia cầm nói chung. (1990), đặc điểm của đường cong sinh trưởng được chia làm 4 pha: + Pha tốc độ sinh trưởng tăng dần sau khi nở. + Điểm uốn: Là thời điểm tốc độ sinh trưởng cao nhất chuyển sang tốc độ sinh trưởng chậm dần. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com 8 + Pha sinh trưởng có tốc độ giảm dần tới đường tiệm cận.
+ Đường tiệm cận là đường trùng với khối lượng cơ thể lúc trưởng thành.