Tổng quan nghiên cứu

Chiến dịch rải chất độc hóa học do quân đội Mỹ tiến hành tại miền Nam Việt Nam trong giai đoạn 1961 - 1971 đã phát tán gần 80 triệu lít hóa chất diệt cỏ, chứa khoảng 366 kg dioxin nguyên chất, khiến khoảng 2,1 đến 4,8 triệu người trực tiếp hoặc gián tiếp bị phơi nhiễm. Trong hệ thống các căn cứ quân sự thời chiến, sân bay Biên Hòa thuộc tỉnh Đồng Nai được xác định là điểm nóng ô nhiễm dioxin nghiêm trọng nhất cả nước với nồng độ độc chất vượt tiêu chuẩn môi trường hàng trăm lần, ước tính cần nguồn kinh phí xử lý lên đến 250 triệu USD.

Mặc dù các rủi ro độc chất học và ô nhiễm sinh thái đã được cảnh báo nhiều năm, nhận thức và hành vi tự bảo vệ của cộng đồng cư dân sinh sống ven sân bay vẫn tồn tại những khoảng trống rất lớn. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Xã hội học tập trung nghiên cứu dư luận xã hội của người dân thành phố Biên Hòa về vấn đề nhiễm chất độc hóa học và dioxin, khảo sát chuyên sâu tại phường Trung Dũng có diện tích 80,75 ha và phường Tân Phong có diện tích 167,8 ha.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là phân tích thực trạng nhận thức, đánh giá của người dân về mức độ ô nhiễm, con đường phơi nhiễm qua chuỗi thực phẩm và nguồn nước, đồng thời tìm hiểu thực trạng đời sống vật chất, tinh thần của các gia đình nạn nhân chất độc da cam. Thông qua việc đo lường dữ liệu từ 400 hộ gia đình và 426 cá nhân khảo sát, công trình làm rõ hiệu quả của các kênh truyền thông đại chúng lẫn truyền thông liên cá nhân trong giai đoạn 2008 - 2014, từ đó cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện chính sách can thiệp y tế công cộng và an sinh xã hội tại các vùng ô nhiễm tồn lưu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết dư luận xã hội dựa trên nguyên lý duy vật lịch sử về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Dư luận xã hội được tiếp cận như một cấu trúc tinh thần - thực tế, phản ánh thái độ, sự phán xét và đánh giá của các nhóm xã hội đối với các sự kiện chạm đến lợi ích thiết thân của cộng đồng. Khung phân tích khai thác 4 chức năng nền tảng của dư luận xã hội gồm: chức năng điều hòa các quan hệ xã hội, chức năng giáo dục nhân cách, chức năng kiểm soát hoạt động của các thiết chế quản lý và chức năng khuyên bảo nhằm định hướng hành vi cá nhân.

Các khái niệm nòng cốt được chuẩn hóa trong luận văn bao gồm:

  • Chất độc hóa học và Dioxin: Nhấn mạnh hợp chất 2,3,7,8-TCDD, dạng độc nhất trong số 210 hợp chất dioxin, tích tụ lâu dài trong mô mỡ động vật và cơ thể người, có liều gây tử vong chỉ 0,1 mg/kg thể trọng và là căn nguyên của 17 nhóm bệnh lý hiểm nghèo.
  • Nạn nhân chất độc da cam: Tiếp cận theo Pháp lệnh Ưu đãi người có công số 26/2005/PL-UBTVQH kết hợp mở rộng theo góc độ xã hội học đối với nhóm cư dân phơi nhiễm thứ phát sau chiến tranh do sinh sống tại vùng phụ cận điểm nóng.
  • Truyền thông đại chúng và truyền thông liên cá nhân: Mô hình trao đổi thông tin xã hội của Max Weber nhằm phân tích cơ chế lan truyền thông điệp môi trường và sức khỏe từ các cơ quan chức năng đến từng cụm dân cư.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp kết hợp phỏng vấn sâu định tính nhằm bảo đảm tính tin cậy và đa chiều của dữ liệu:

  • Dữ liệu định lượng: Kế thừa kết quả điều tra xã hội học từ 400 bảng hỏi hộ gia đình của Ban chỉ đạo 33 thực hiện năm 2007 - 2008 tại phường Trung Dũng và Tân Phong với đối tượng đại diện hộ gia đình từ 25 đến 65 tuổi. Đồng thời, luận văn tích hợp tập dữ liệu khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) trên 426 cá nhân trong độ tuổi 16 - 60 do Hội Y tế công cộng thực hiện năm 2009.
  • Dữ liệu định tính: Tác giả trực tiếp thực hiện 9 cuộc phỏng vấn sâu chuyên đề, bao gồm 5 cuộc tiến hành vào tháng 8/2013 và 4 cuộc vào tháng 9/2014. Khách thể phỏng vấn gồm 1 lãnh đạo Phòng Y tế thành phố Biên Hòa, 2 cán bộ trạm y tế phường phụ trách dân số và 6 đại diện hộ gia đình cư trú lâu năm.
  • Phương pháp chọn mẫu: Áp dụng kỹ thuật chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu có chủ đích tại 2 phường tiếp giáp trực tiếp hàng rào sân bay quân sự.
  • Lý do lựa chọn: Sự kết hợp giữa thống kê mô tả định lượng và phân tích nội dung phỏng vấn sâu định tính giúp vừa đo lường được quy mô của dư luận xã hội, vừa bóc tách được các rào cản tâm lý, định kiến xã hội và động cơ ứng xử thực tế của người dân trước nguy cơ phơi nhiễm dioxin.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kênh truyền thông đại chúng giữ vai trò áp đảo trong việc cung cấp thông tin ban đầu nhưng mức độ khai thác công nghệ mới còn rất thấp. Truyền hình là kênh tiếp cận thông tin về dioxin phổ biến nhất với 55,3% người dân theo dõi thường xuyên, đọc báo in đạt 23,3% và nghe đài phát thanh chiếm 10,5%. Trái lại, mạng Internet chỉ đạt 3,5% người dùng thường xuyên cập nhật thông tin môi trường, trong khi có tới 92,5% người dân chưa từng tìm hiểu vấn đề dioxin trên không gian mạng do đặc thù độ tuổi và thói quen sinh hoạt.

Truyền thông trực tiếp tại cơ sở và sinh hoạt cộng đồng bộc lộ sự thiếu hụt nghiêm trọng. Người dân tiếp nhận thông tin trực tiếp từ hàng xóm láng giềng chiếm tỷ lệ cao nhất với 15,3%, trong khi tỷ lệ tiếp nhận thường xuyên qua Hội Cựu chiến binh là 5,5%, Hội Chữ thập đỏ là 2,3% và các cơ quan y tế, môi trường chỉ vỏn vẹn 1,8%. Tại các buổi họp tổ dân phố định kỳ, chỉ có 10,0% người dân ghi nhận vấn đề dioxin thường xuyên được đưa ra bàn luận, 25,3% trả lời thỉnh thoảng và 19,5% cho biết rất hiếm khi được nghe phổ biến.

Nội dung truyền thông có sự lệch pha rõ rệt giữa nhận thức tác hại và kỹ năng phòng ngừa. Tỷ lệ người dân nhận được thông điệp về tác hại nguy hiểm của dioxin lên tới 91,5% (trong đó 65,6% tiếp nhận thường xuyên) và thông tin về nguyên nhân ô nhiễm đạt 79,1% (49,0% tiếp nhận thường xuyên). Tuy nhiên, các thông điệp hướng dẫn giải pháp giảm thiểu sự phơi nhiễm chỉ đạt 39,2%, với 60,8% người dân hoàn toàn chưa từng được tiếp cận hướng dẫn kỹ thuật phòng ngừa cụ thể.

Đánh giá thực trạng ô nhiễm và con số thống kê nạn nhân còn nhiều nghịch lý. Có 44,0% người dân đánh giá môi trường sống của mình bị ô nhiễm nặng do dioxin. Dẫu vậy, số liệu quản lý hành chính chỉ ghi nhận 33 nạn nhân tại phường Trung Dũng (chiếm khoảng 0,15% dân số) và 13 nạn nhân tại phường Tân Phong (chiếm 0,04% dân số). Đến năm 2014, toàn thành phố Biên Hòa mới quản lý 821 người hưởng trợ cấp nạn nhân da cam, cho thấy con số ghi nhận chính thức thấp hơn nhiều so với thực tế phơi nhiễm trong cộng đồng.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu khảo sát khi được tổng hợp qua bảng phân tích tần suất và biểu đồ so sánh cơ cấu thông tin đã phản ánh khoảng cách rất lớn giữa hiểu biết lý thuyết và hành vi thực tế của cộng đồng dân cư. Nguyên nhân cốt lõi khiến thông tin truyền thông bị hạn chế và thiếu đồng bộ bắt nguồn từ việc công tác thông tin tại địa phương còn dè dặt, do tâm lý lo ngại ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường thu hút đầu tư công nghiệp, phát triển du lịch và tiêu thụ nông sản xuất khẩu của thành phố.

Hành vi duy trì rủi ro sinh kế của người dân vẫn diễn ra phổ biến bất chấp các cảnh báo y tế. Do áp lực mưu sinh và tập quán sinh hoạt, nhiều hộ gia đình vẫn tiếp tục đánh bắt, tiêu thụ cá tôm từ hồ Biên Hùng, các ao nội khu sân bay và sử dụng nguồn nước giếng khoan chưa qua kiểm định. Đáng chú ý, tại phường Tân Phong vẫn còn khoảng 70% hộ dân phụ thuộc hoàn toàn vào nước giếng khoan do mạng lưới cấp nước sạch đô thị chưa bao phủ toàn diện.

Mặt khác, chính sách trợ cấp xã hội hiện hành với mức 480.000 đến 600.000 đồng mỗi tháng cho dân thường và 1,5 đến 2,2 triệu đồng mỗi tháng cho người có công chưa đủ bù đắp chi phí y tế và sinh hoạt tối thiểu. Tâm lý e ngại định kiến xã hội, lo sợ con cháu gặp khó khăn trong việc kết hôn và lập gia đình đã khiến không ít hộ dân từ chối tham gia xét nghiệm y khoa hoặc không chủ động đăng ký hồ sơ công nhận nạn nhân chất độc da cam.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Tái cấu trúc chương trình truyền thông rủi ro sức khỏe môi trường: Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông triển khai đề án truyền thông can thiệp hành vi giai đoạn 2015 - 2020, nâng tỷ lệ người dân tiếp cận giải pháp dự phòng phơi nhiễm dioxin từ mức 39,2% hiện nay lên tối thiểu 85%, tập trung sản xuất các chuyên mục truyền hình thực tế ngắn gọn phát sóng định kỳ 2 lần mỗi tháng trên Đài Phát thanh - Truyền hình Đồng Nai.
  • Thiết lập mạng lưới truyền thông trực tiếp qua hệ thống đoàn thể cơ sở: Giao Trung tâm Y tế dự phòng thành phố và Hội Chữ thập đỏ chủ trì biên soạn tài liệu hướng dẫn an toàn thực phẩm, cam kết đưa nội dung phòng chống phơi nhiễm độc chất vào 100% các kỳ họp tổ dân phố định kỳ hàng tháng tại 23 phường xã, đặc biệt ưu tiên các cụm dân cư tiếp giáp khu vực Z1 và hồ Pacer Ivy.
  • Nâng cấp hạ tầng cấp nước và cô lập nguồn phơi nhiễm sinh thái: Công ty Cấp nước Đồng Nai khẩn trương hoàn thành việc lắp đặt đường ống dẫn nước sạch cho 70% số hộ dân đang dùng nước ngầm tại phường Tân Phong trong thời hạn 24 tháng. Bộ Quốc phòng và chính quyền địa phương hoàn thiện hàng rào bảo vệ, cắm biển cảnh báo cấm triệt để việc đánh bắt thủy sản tại 5 điểm nóng ô nhiễm quanh khu vực sân bay Biên Hòa.
  • Đổi mới chính sách an sinh và trợ cấp cho nạn nhân dioxin: Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai xem xét ban hành nghị quyết hỗ trợ đặc thù, nâng mức trợ cấp sinh hoạt hàng tháng cho nạn nhân dân thường từ 600.000 đồng lên tối thiểu 1.200.000 đồng mỗi người, đồng thời tổ chức khám sàng lọc và lập hồ sơ theo dõi sức khỏe miễn phí định kỳ hàng năm cho 100% cư dân sinh sống trong bán kính 1.000 mét quanh sân bay.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Lãnh đạo Văn phòng Ban chỉ đạo khắc phục hậu quả chất độc hóa học, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Y tế sử dụng kết quả nghiên cứu làm cơ sở xây dựng kế hoạch quản lý rủi ro môi trường, quy hoạch vùng đệm an toàn và phân bổ ngân sách tẩy độc tại các điểm nóng quân sự.
  • Các tổ chức xã hội và nhân đạo: Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin, Hội Chữ thập đỏ các cấp vận dụng các số liệu thực chứng để xây dựng chương trình vận động nguồn lực, thiết kế mô hình hỗ trợ sinh kế và can thiệp tâm lý xã hội phù hợp cho các gia đình nạn nhân thế hệ thứ hai và thứ ba.
  • Nhà nghiên cứu và học viên học thuật: Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Xã hội học, Công tác xã hội, Y tế công cộng và Khoa học môi trường tham khảo khung phân tích dư luận xã hội, phương pháp xử lý dữ liệu hỗn hợp kết hợp giữa 400 bảng hỏi định lượng và 9 phỏng vấn sâu chuyên gia.
  • Cán bộ quản lý chính quyền và đoàn thể cấp cơ sở: Bí thư chi bộ, tổ trưởng dân phố, cán bộ Mặt trận Tổ quốc và Hội Phụ nữ tại các địa bàn ô nhiễm áp dụng phát hiện nghiên cứu để đổi mới phương thức tuyên truyền, xóa bỏ rào cản kỳ thị và nâng cao tinh thần đoàn kết tương trợ nạn nhân dioxin tại khu dân cư.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao người dân nắm rõ tác hại của dioxin nhưng tỷ lệ thực hành phòng tránh phơi nhiễm lại thấp? Khảo sát cho thấy 91,5% người dân biết rõ tác hại nhưng chỉ có 39,2% được tiếp cận giải pháp kỹ thuật phòng ngừa cụ thể. Áp lực kinh tế mưu sinh cùng với việc thiếu hụt hạ tầng nước sạch tại chỗ khiến nhiều gia đình buộc phải tiếp tục sử dụng nguồn nước giếng và đánh bắt thủy sản tại các ao hồ ô nhiễm quanh sân bay Biên Hòa.

Khu căn cứ sân bay Biên Hòa tồn tại những điểm nóng ô nhiễm dioxin chính nào? Các kết quả phân tích mẫu môi trường giai đoạn 1995 - 2010 của Bộ Quốc phòng và Công ty Hatfield đã định vị 5 điểm nóng có nồng độ dioxin vượt ngưỡng hàng trăm lần, gồm: khu vực Pacer Ivy, khu vực góc Tây Nam sân bay, khu trung tâm Z1 (nơi từng xảy ra 4 vụ tràn hóa chất lớn), dải đất vành đai phía Nam và hệ thống ao hồ nội khu liên thông với hồ Biên Hùng.

Kênh thông tin nào mang lại hiệu quả tác động cao nhất đối với cộng đồng dân cư địa phương? Truyền hình là phương tiện truyền thông đại chúng chủ đạo với 55,3% người dân tiếp nhận thông tin thường xuyên, trong khi kênh giao tiếp trực tiếp qua hàng xóm láng giềng chiếm 15,3%. Do đó, mô hình kết hợp giữa phóng sự truyền hình địa phương và phổ biến trực tiếp qua các buổi sinh hoạt tổ dân phố đạt hiệu quả lan tỏa cao nhất.

Vì sao số lượng nạn nhân chất độc da cam được quản lý chính thức lại thấp hơn thực tế? Năm 2008, phường Trung Dũng chỉ ghi nhận 33 nạn nhân và Tân Phong ghi nhận 13 nạn nhân do quy định công nhận ưu tiên người tham gia kháng chiến. Mức trợ cấp cho dân thường thấp (480.000 đến 600.000 đồng mỗi tháng) cùng với tâm lý sợ bị kỳ thị xã hội, lo ảnh hưởng đến tương lai hôn nhân của con cái khiến nhiều gia đình không tham gia giám định.

Dư luận xã hội có vai trò như thế nào trong giải quyết bài toán ô nhiễm dioxin tại Biên Hòa? Dư luận xã hội phát huy 4 chức năng cốt lõi: tạo áp lực kiểm soát để chính quyền minh bạch thông tin ô nhiễm, điều hòa quan hệ xã hội nhằm giảm xung đột lợi ích kinh tế, giáo dục nâng cao ý thức tự phòng tránh và khuyên bảo cộng đồng chung tay giúp đỡ các nạn nhân vượt qua khó khăn.

Kết luận

  • Nghiên cứu đã làm rõ thực trạng nhận thức của cộng đồng với 44,0% người dân nhận định môi trường sống bị ô nhiễm nặng, nhưng kỹ năng phòng tránh phơi nhiễm qua chuỗi thực phẩm còn hạn chế do tỷ lệ tiếp cận giải pháp chỉ đạt 39,2%.
  • Công trình chứng minh ưu thế vượt trội của kênh truyền hình (55,3%) và kênh giao tiếp hàng xóm (15,3%) trong việc định hình dư luận xã hội, đồng thời chỉ ra sự thụ động của mạng lưới truyền thông y tế cơ sở khi chỉ đóng góp 1,8% nguồn tin.
  • Luận văn phản ánh rõ rào cản an sinh xã hội khi 70% hộ dân phường Tân Phong thiếu nước sạch đô thị và mức trợ cấp cho nạn nhân dioxin dân thường còn thấp, dẫn đến tình trạng né tránh khai báo trong cộng đồng.
  • Đóng góp quan trọng của đề tài là xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thực nghiệm và khung phân tích xã hội học vững chắc, phục vụ đắc lực cho chiến lược truyền thông rủi ro môi trường giai đoạn 2015 - 2020.
  • Nghiên cứu kêu gọi các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức quốc tế và chính quyền địa phương đẩy nhanh tiến độ dự án xử lý đất ô nhiễm trị giá 250 triệu USD, đồng thời hoàn thiện chính sách hỗ trợ toàn diện cho mọi nạn nhân da cam.