Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 1961 - 1971 của cuộc chiến tranh tại Việt Nam, quân đội Mỹ đã sử dụng hơn 9.000 tấn chất độc kích thích CS cùng khoảng 74 triệu lít chất diệt cỏ, khiến hơn 4,8 triệu người bị phơi nhiễm hóa chất độc hại. Trải qua nhiều thập kỷ, các thùng chứa và bom đạn mang chất độc CS chôn vùi trong lòng đất đang bị ăn mòn, rỉ sét nghiêm trọng, gây nguy cơ rò rỉ độc tố vào các thủy vực tự nhiên. Hoạt động tiêu hủy vũ khí trước đây chủ yếu dừng lại ở việc vô hiệu hóa tính nổ cơ học hoặc chôn lấp tạm thời, chưa có quy trình công nghệ xử lý triệt để nước mặt nhiễm độc tại thực địa.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là đánh giá hiện trạng tồn lưu, mức độ phát tán của chất độc CS trong môi trường nước mặt tại một số đơn vị quân sự thuộc Quân khu 4, trọng tâm là tỉnh Nghệ An. Đồng thời, đề tài nghiên cứu ứng dụng công nghệ oxy hóa nâng cao UV-Fenton nhằm phân hủy hoàn toàn chất độc này. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện từ tháng 10/2018 đến tháng 4/2019 tại các địa bàn trọng điểm như Thao trường Thanh Phong (huyện Thanh Chương) và Cụm kho CK2 (huyện Đô Lương). Theo số liệu điều tra, toàn tỉnh Nghệ An có 278.528,2 ha đất bị ô nhiễm bom mìn vật nổ, chiếm 16,89% diện tích tự nhiên. Đề tài mang ý nghĩa cấp thiết, cung cấp giải pháp kỹ thuật đạt hiệu suất phân hủy 100% nồng độ CS trong 60 phút, góp phần bảo vệ nguồn nước sinh hoạt cho nhân dân tại 19 huyện thị trên toàn tỉnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hai nền tảng lý thuyết chủ đạo về hóa học môi trường và công nghệ xử lý chất ô nhiễm khó phân hủy:

  • Lý thuyết phân rã chất độc kích thích o-chlorobenzylidene malononitrile (CS): CS là hợp chất hữu cơ có công thức phân tử C10H5ClN2, nhiệt độ sôi từ 310 đến 315 độ C, độ tan trong nước rất thấp ở mức 2 - 3%. Khi thủy phân tự nhiên trong nước với chu kỳ bán rã 2 ngày ở 25 độ C, CS chuyển hóa thành o-chlorobenzaldehyde và malononitrile. Trong đó, malononitrile mang độc tính cấp tính cao tương đương cyanide với giá trị liều gây chết trung bình LD50 đạt 19 mg/kg trên chuột qua đường uống.
  • Lý thuyết quá trình oxy hóa nâng cao (AOPs) và cơ chế Quang Fenton (UV-Fenton): Hệ phản ứng kết hợp ion sắt Fe2+ và H2O2 dưới bức xạ tia cực tím UV. Dưới bước sóng UV từ 250 đến 400 nm, phức chất hydroxy sắt Fe(OH)2+ hấp thụ photon quang hóa, liên tục sản sinh gốc tự do hydroxyl (•OH) mang thế oxy hóa cực cao 2,80 V, đồng thời tái sinh xúc tác Fe2+ để khoáng hóa triệt để cấu trúc CS thành CO2 và H2O.

Phương pháp nghiên cứu

  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo điều tra bom mìn của Trung tâm BOMICEN và dự án tẩy độc của Bộ Quốc phòng giai đoạn 2013 - 2016 trên địa bàn 18 tỉnh thành thuộc các Quân khu 2, 5, 7 và 9.
  • Phương pháp lấy mẫu và cỡ mẫu: Mẫu nước mặt được thu thập theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6663-3:2016 vào ngày 25 - 26/02/2019. Cỡ mẫu thực địa gồm 4 mẫu nước mặt đại diện (ký hiệu N1, N2, N3, N4) với thể tích 5 lít mỗi mẫu tại Thao trường Thanh Phong, lấy ở độ sâu 25 - 30 cm trong điều kiện nhiệt độ 28 - 30 độ C. Các thí nghiệm phòng thí nghiệm được khảo sát trên 5 mức nồng độ CS từ 5 mg/L đến 80 mg/L.
  • Phương pháp phân tích và lý do lựa chọn: Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) sử dụng cột Cosmosil 5C18-MS-II (kích thước 4,6 x 250 mm) với đầu dò DAD ở bước sóng 300 nm được lựa chọn nhờ độ nhạy vượt trội, giới hạn phát hiện thấp và khả năng định lượng chính xác chất độc CS. Đường chuẩn định lượng đạt hệ số hồi quy tuyến tính R2 = 0,99999 theo phương trình y = 37,52647x + 4,9881. Phương pháp sắc ký khí khối phổ (GC-MS) được kết hợp để xác định chính xác các sản phẩm phân hủy hữu cơ trung gian.
  • Timeline nghiên cứu: Toàn bộ quá trình thu thập tài liệu, khảo sát thực địa và phân tích thực nghiệm diễn ra trong 7 tháng, từ tháng 10/2018 đến tháng 4/2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  • Hiện trạng tồn lưu tại Thao trường Thanh Phong: Đoàn khảo sát phát hiện điểm ô nhiễm CS với diện tích khoảng 1.000 m2 ở độ cao 10 - 15 m. Khối lượng ước tính gồm 1,0 - 2,0 tấn CS trong vỏ đạn dược và thùng chứa, 15 tấn đất nhiễm và 30 - 50 m3 nước mặt bị ô nhiễm.
  • Hàm lượng CS cao trong nước mặt thực địa: Kết quả phân tích cho thấy mẫu N2 (lấy tại hố thu gom nước mưa chảy tràn và nước thải hủy nổ) có nồng độ CS cao nhất, đạt 9,21 mg/L. Mẫu rãnh nước lân cận N1 và N3 ghi nhận nồng độ thấp hơn, trong khi mẫu hồ tự nhiên N4 đạt 0 mg/L, chứng minh ô nhiễm chưa phát tán ra diện rộng.
  • Hiệu suất phân hủy tuyệt đối của hệ UV-Fenton: Với nồng độ ban đầu 20 mg/L ở pH = 2,67 và tỷ lệ mol H2O2/Fe2+ là 10:1, hệ quang Fenton sử dụng đèn UV bước sóng 254 nm đạt hiệu suất xử lý 85,03% sau 15 phút, 95,21% sau 45 phút và đạt mức tối đa 100% (Ct = 0 mg/L) chỉ sau 60 phút.
  • So sánh đối chứng với Fenton cổ điển: Quá trình Fenton truyền thống không có bức xạ UV chỉ đạt hiệu suất 79,33% sau 15 phút, 83,26% sau 60 phút và dừng lại ở mức 85,46% sau 105 phút, vẫn còn tồn dư 2,908 mg/L chất độc CS trong nước.

Thảo luận kết quả

Hiệu quả xử lý của UV-Fenton cao hơn 14,54% so với Fenton cổ điển tại thời điểm 60 phút nhờ bức xạ UV bước sóng 254 nm kích hoạt phản ứng quang hóa khử Fe3+ thành Fe2+, liên tục giải phóng các gốc tự do •OH dồi dào. So với phương pháp thủy phân kiềm truyền thống (vẫn tạo ra sản phẩm phụ malononitrile gây độc tế bào) hay phương pháp hấp phụ bằng than hoạt tính (chỉ lưu giữ chất độc mà không phá hủy cấu trúc), công nghệ UV-Fenton giúp khoáng hóa hoàn toàn phân tử CS thành các hợp chất vô cơ thân thiện với môi trường.

Động học phân hủy được trực quan hóa qua biểu đồ tương quan thời gian - nồng độ với độ dốc suy giảm mạnh trong 30 phút đầu và bảng dữ liệu theo dõi 5 mốc thời gian từ 15 đến 90 phút. Các đồ thị và bảng số liệu này phản ánh rõ nét sự vượt trội của hệ xúc tác quang hóa trong việc xử lý triệt để nước mặt nhiễm độc chất quân sự.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết quả nghiên cứu thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 giải pháp mang tính hành động cao:

  1. Xây dựng công trình thu gom và ngăn chặn dòng chảy tràn: Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Nghệ An phối hợp với Sư đoàn 324 đào đắp hệ thống mương bao và hố thu gom kín có dung tích 50 - 100 m3 tại Thao trường Thanh Phong nhằm giữ lại 100% lượng nước mưa cuốn trôi chất độc CS, hoàn thành trong thời hạn 3 tháng đầu triển khai.
  2. Triển khai mô hình module UV-Fenton di động xử lý tại chỗ: Viện Hóa học - Vật liệu phối hợp chế tạo thiết bị phản ứng oxy hóa nâng cao công suất 5 - 10 m3/ngày. Vận hành module tại pH = 2,67, tỷ lệ mol H2O2/Fe2+ duy trì ở mức 10:1 dưới đèn UV 254 nm, cam kết đưa nồng độ CS về 0 mg/L trước khi xả thải, thực hiện thử nghiệm trong vòng 6 tháng.
  3. Thiết lập mạng lưới quan trắc và giám sát môi trường định kỳ: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nghệ An cùng lực lượng quân y địa phương tổ chức lấy mẫu kiểm tra 2 tuần một lần tại 19 huyện thị có nguy cơ ô nhiễm bom mìn, kiểm soát 100% các điểm nóng trong giai đoạn 2020 - 2025.
  4. Chuẩn hóa quy trình kỹ thuật tẩy độc quốc gia: Bộ Quốc phòng cần rà soát Quyết định 255/2003/QĐ-BQP để bổ sung công nghệ UV-Fenton vào quy trình chính thức, thay thế phương pháp thủy phân kiềm đơn thuần nhằm xử lý triệt để 100% nước thải sinh ra trong hoạt động tiêu hủy vũ khí, ban hành hướng dẫn trong 12 tháng tới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị học thuật và thực tiễn sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  1. Lực lượng Hóa học và Công binh thuộc Bộ Quốc phòng: Cán bộ chỉ huy và kỹ thuật viên có thể ứng dụng trực tiếp các thông số công nghệ tối ưu (pH = 2,67, tỷ lệ H2O2/Fe2+ = 10:1, bước sóng UV 254 nm) để thiết kế quy trình xử lý an toàn cho hơn 400 tấn chất độc CS và đạn dược tồn lưu trên các thao trường quân sự toàn quốc.
  2. Giảng viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành Khoa học Môi trường, Hóa học: Sử dụng nguồn dữ liệu thực nghiệm về động học phản ứng AOPs, cơ chế tạo gốc tự do •OH và phương pháp sắc ký HPLC có độ tin cậy R2 = 0,99999 làm học liệu nghiên cứu chuyên sâu về xử lý các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy.
  3. Cơ quan quản lý nhà nước và Ban chỉ đạo 701: Sở Tài nguyên và Môi trường cùng Trung tâm Hành động bom mìn quốc gia (BOMICEN) có thêm cơ sở dữ liệu về 278.528,2 ha đất ô nhiễm bom mìn tại Nghệ An để xây dựng kế hoạch quản lý rủi ro và bố trí ngân sách tẩy độc giai đoạn 2020 - 2030.
  4. Kỹ sư vận hành hệ thống xử lý nước thải công nghiệp: Tiếp cận giải pháp kỹ thuật tích hợp bức xạ UV vào phản ứng Fenton để ứng dụng xử lý các dòng nước thải đặc thù chứa hóa chất độc hại với hiệu suất phân hủy đạt 100%.

Câu hỏi thường gặp

Chất độc kích thích CS tồn lưu trong nước có gây nguy hại lâu dài cho sinh thái không?

Có. Mặc dù độ tan của CS trong nước chỉ đạt 2 - 3%, quá trình thủy phân tự nhiên sinh ra malononitrile có độc tính cấp tính cao với LD50 đạt 19 mg/kg trên chuột. Tại Thao trường Thanh Phong, mẫu nước hố hủy nổ có nồng độ CS tới 9,21 mg/L, đe dọa trực tiếp đến hệ sinh thái thủy sinh và nguồn nước sinh hoạt nếu không được xử lý triệt để.

Vì sao phương pháp Fenton cổ điển không thể phân hủy hoàn toàn chất độc CS?

Phương pháp Fenton truyền thống xảy ra hiện tượng cạn kiệt ion xúc tác Fe2+ do bị oxy hóa một chiều thành Fe3+, làm suy giảm mạnh lượng gốc •OH sinh ra. Thực nghiệm chứng minh sau 105 phút phản ứng, hiệu suất của Fenton cổ điển chỉ đạt 85,46% và vẫn để lại dư lượng CS là 2,908 mg/L trong nước.

Điều kiện tối ưu để hệ UV-Fenton xử lý hoàn toàn 100% nồng độ CS là gì?

Hệ UV-Fenton đạt hiệu suất 100% sau 60 phút ở các điều kiện tối ưu: nồng độ CS ban đầu 20 mg/L, tỷ lệ mol H2O2/Fe2+ là 10:1 (Fe2+ = 0,2 mM, H2O2 = 2,0 mM), môi trường axit pH = 2,67, chiếu xạ đèn UV bước sóng 254 nm tại nhiệt độ phòng 25 độ C.

Nguồn nước mặt nhiễm chất độc CS tại Nghệ An đã lan rộng ra môi trường chưa?

Chưa lan rộng. Dư lượng CS chỉ xuất hiện cục bộ tại hố thu gom (9,21 mg/L) và rãnh thoát nước gần bãi hủy nổ. Mẫu nước hồ tự nhiên N4 hoàn toàn không phát hiện thấy CS (0 mg/L), khẳng định phạm vi ô nhiễm mới dừng lại ở diện tích hẹp khoảng 1.000 m2.

Phương pháp phân tích nào đảm bảo độ chính xác cao nhất để định lượng CS?

Phương pháp HPLC với đầu dò DAD ở bước sóng 300 nm và cột Cosmosil 5C18-MS-II cho độ chính xác cao nhất. Phương trình đường chuẩn y = 37,52647x + 4,9881 đạt hệ số tương quan R2 = 0,99999 trên dải nồng độ 6,25 - 100 mg/L, kết hợp kiểm chứng bằng GC-MS giúp đảm bảo độ tin cậy vượt trội.

Kết luận

  • Xác định điểm nóng ô nhiễm: Đã khảo sát và làm rõ điểm tồn lưu 1,0 - 2,0 tấn chất độc CS cùng 30 - 50 m3 nước mặt nhiễm độc tại Thao trường Thanh Phong (huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An).
  • Đánh giá hiện trạng thực tế: Xác định hàm lượng CS trong nước hố hủy nổ đạt 9,21 mg/L, chứng minh ô nhiễm đang khu trú cục bộ và cần có biện pháp xử lý kịp thời.
  • Tối ưu hóa công nghệ UV-Fenton: Chứng minh hệ UV-Fenton (bước sóng 254 nm, pH = 2,67, tỷ lệ H2O2/Fe2+ = 10:1) đạt hiệu suất phân hủy 100% đối với dung dịch CS 20 mg/L trong 60 phút, vượt trội hoàn toàn so với mức 85,46% của Fenton cổ điển.
  • Chuẩn hóa quy trình phân tích: Xây dựng thành công đường chuẩn định lượng CS trên thiết bị HPLC với độ tin cậy R2 = 0,99999 trong dải nồng độ từ 6,25 đến 100 mg/L.
  • Đề xuất giải pháp khả thi: Kiến nghị mô hình trạm xử lý di động công suất 5 - 10 m3/ngày kết hợp hố thu gom để bảo vệ 278.528,2 ha đất tại tỉnh Nghệ An.

Kế hoạch tiếp theo cần tập trung thử nghiệm module thực địa trong giai đoạn 2020 - 2022 và mở rộng quan trắc tại 19 huyện thị Quân khu 4 đến năm 2025. Các cơ quan quản lý và đơn vị chuyên môn cần khẩn trương phối hợp ứng dụng công nghệ UV-Fenton vào thực tiễn tẩy độc nhằm loại bỏ triệt để mối đe dọa từ chất độc CS, bảo đảm an toàn sinh thái và sức khỏe cho cộng đồng.