ĐẶT VẤN ĐỀ Việc sử dụng hợp lý tài nguyên nhằm bảo vệ môi trường và phát triển bền vững là một vấn đề nóng bỏng đối với các nước trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam. Trong bối cảnh dân số không ngừng gia tăng, đô thị hóa và tập trung công nghiệp, tập trung dân cư, ô nhiễm môi trường gia tăng thì nhu cầu tìm về tự nhiên là một tất yếu. Do đó, du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng đang nhận được sự quan tâm đáng kể. Theo đánh giá của Hiệp hội Du lịch Châu Á – Thái Bình Dương (PATA), Du lịch sinh thái đang có chiều hướng phát triển và trở thành một bộ phận có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất về tỉ trọng trong ngành du lịch [1].
Ngoài ý nghĩa góp phần bảo tồn tự nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học và văn hóa cộng đồng; sự phát triển du lịch sinh thái đã và đang mang lại những nguồn lợi kinh tế to lớn, tạo cơ hội tăng thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho quốc gia cũng như cộng đồng người dân các địa phương, nhất là người dân ở các vùng sâu, vùng xa - nơi có các khu bảo tồn tự nhiên, các khu mỏ và các cảnh quan hấp dẫn. Ngoài ra, du lịch sinh thái còn góp phần vào việc nâng cao dân trí và sức khỏe cộng đồng thông qua các hoạt động giáo dục môi trường, văn hóa lịch sử và nghỉ ngơi giải trí. Chính vì vậy ở nhiều nước trên thế giới và trong khu vực, bên cạnh các lợi ích về kinh tế, du lịch sinh thái còn được xem như một giải pháp hữu hiệu để bảo vệ môi trường thông qua quá trình làm giảm sức ép khai thác nguồn lợi tự nhiên phục vụ nhu cầu của khách du lịch, của người dân địa phương khi tham gia vào các hoạt động du lịch [10]. Tại Việt Nam, du lịch sinh thái còn tương đối mới mẻ.
Mặc dù nước ta có nhiều tiềm năng tự nhiên và văn hóa phù hợp để phát triển ngành công nghiệp không khói này nhưng phần lớn các hoạt động du lịch sinh thái thường chỉ được tiến hành tại các Vườn Quốc gia, các Khu Bảo tồn và vùng đệm. Một xu hướng phát triển du lịch sinh thái tại các khu vực có cảnh quan đẹp tại các khu mỏ đã hoàn thổ phục hồi môi trường (HTPHMT) hoặc du lịch mạo hiểm ở các khu mỏ đang khai thác nhưng có cảnh quan đẹp, thiên nhiên kỳ thú, địa hình hiểm trở. Việc kết hợp du lịch sinh thái và du lịch mạo hiểm là một trong những ưu tiên phát triển trong 1 Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Trung du miền núi Bắc Bộ đến năm 2020 [32]. Khu mỏ Kẽm – Chì Chợ Điền, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn là khu vực có cảnh quan đẹp, địa hình hiểm trở và đặc trưng của vùng trung du miền núi Bắc Bộ.
Bên cạnh hoạt động khai thác khoáng sản diễn ra trên một diện tích rất nhỏ, khu vực này có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái kết hợp với du lịch mạo hiểm. Phát triển du lịch sinh thái kết hợp với du lịch mạo hiểm tại khu mỏ này sẽ mở ra một hướng mới cho khu mỏ trong việc tăng thu nhập cho cán bộ mỏ, cho người dân trong khu vực đồng thời góp phần làm đẹp cảnh quan khu mỏ sau khi hoàn thổ và quá trình bảo tồn các hệ sinh thái nguyên sơ của khu vực này. Chính vì những lý do trên, tác giả đề xuất luận văn “Nghiên cứu tài nguyên du lịch sinh thái – du lịch mạo hiểm tại khu mỏ Kẽm – Chì Chợ Điền, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn” nhằm làm sáng tỏ các vấn đề trên. Việc nghiên cứu các tài nguyên du lịch sinh thái và du lịch mạo hiểm tại khu mỏ này có thể mở ra triển vọng đầu tư các khu du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch mạo hiểm ngay tại khu mỏ này và các khu mỏ khác có điều kiện tương tự ở Việt Nam, giúp cho các xí nghiệp khai thác mỏ định hướng cải tạo, phục hồi môi trường sau khai thác theo hướng phát triển du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm thay vì chỉ trồng cây, hoàn thổ theo phương thức cũ.
Điều này vừa hợp với nguyện vọng của công ty, xí nghiệp khai thác mỏ vừa hợp với các yêu cầu pháp lý hiện nay đối với bảo vệ môi trường trong lĩnh vực khoáng sản. 2 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm và thuật ngữ Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định [29]. Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác.
o Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch o Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch [29]. Đánh giá tài nguyên du lịch là một loại đánh giá kỹ thuật mà nhiệm vụ của nó là phân loại tài nguyên du lịch theo mức độ thuận lợi của chúng cho các hoạt động du lịch – nghỉ dưỡng của con người. Đánh giá tài nguyên du lịch cũng chính là đánh giá tổng thể tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường và nhân văn có khả năng khai thác cho du lịch [11]. Du lịch sinh thái (DLST) là một lĩnh vực còn mới do đó có nhiều định nghĩa khác nhau về DLST.
Tại Australia: “Du lịch sinh thái là du lịch dựa vào thiên nhiên có liên quan đến sự giáo dục và diễn giải về môi trường thiên nhiên, được quản lý bền vững về mặt sinh thái”. Hiệp hội Du lịch quốc tế định nghĩa: “Du lịch sinh thái là việc đi lại có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương”[7]. Định nghĩa cô đọng nhất về Du lịch sinh thái là định nghĩa trong Luật Du lịch: “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào 3 thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững” [29]. Du lịch mạo hiểm (Hardy Tourism, Adventure Tour) là loại hình du lịch rất mới mẻ, du nhập từ nước ngoài vào Việt Nam và hiện chưa có định nghĩa chính thức trong Luật Du lịch.
Theo các chuyên gia về du lịch thì: Du lịch mạo hiểm là dạng hoạt động du lịch diễn ra ngoài trời hay trong những điều kiện đặc biệt nào đó, đòi hỏi sức khỏe, bản lĩnh nhằm khám phá thiên nhiên và vượt qua những thử thách đối với du khách. Có nhiều loại hình du lịch mạo hiểm mang tính thể thao, khám phá như du lịch xe đạp (bicycling) trong điều kiện địa hình phức tạp, du lịch chèo thuyền/xuồng caiac (boasting/ kayaking), du lịch trượt tuyết (skiing), du lịch bơi lội (swimming), du lịch lướt ván (water - skiing), du lịch leo núi (mountain climbing), du lịch lặn biển, du lịch hang động, du lịch đi bộ mạo hiểm (hiking/ trekking)…, trong đó tính tích cực vận động của khách du lịch là đặc điểm lớn nhất, tiếp đó là tính trách nhiệm trong việc tôn trọng và bảo vệ môi trường [5].Hoàn thổ phục hồi môi trƣờng (HTPHMT): Đây là một khái niệm mới, được dùng trong hoạt động khai thác khoáng sản. Hoàn thổ là công tác lấp đất các khu vực đã khai thác để hoàn trả lại trạng thái tự nhiên của nó hoặc để sử dụng cho các mục đích khác [23]. HTPHMT là một tập hợp các biện pháp kỹ thuật để làm hạn chế và khắc phục các tác động của ngành khai thác khoáng sản lên môi trường, chủ yếu tập trung vào các hoạt động tái phủ xanh, thiết kế địa hình đất và khôi phục lại hệ sinh thái tự nhiên của khu mỏ trước khi khai thác [3].
Khai trƣờng: Nơi tiến hành khai thác khoáng sản; khai trường có thể khai thác một hoặc nhiều loại khoáng sản đồng thời trên một phần hay toàn bộ khu vực đó [22]. Xu hướng du lịch thân thiện với môi trường hiện nay Hiện nay, ở nhiều nước, các tour du lịch đại chúng theo những chương trình tham quan ngắm cảnh chung chung đang dần nhường chỗ cho loại hình du lịch chuyên biệt như du lịch thiên nhiên, du lịch thể thao, du lịch mạo hiểm, du lịch sinh thái…[47]. Từ khoảng năm 1990 đến nay, trong khi tốc độ tăng trưởng hằng năm của du lịch đại chúng trên toàn thế giới chỉ đạt 5% thì các loại hình du lịch gắn với thiên 4 nhiên như du lịch mạo hiểm, du lịch quan sát đời sống hoang dã… thường đạt mức trên 20% [19], [20]. Theo kết quả của các nhà nghiên cứu School of Business thuộc Đại học George Washington (Hoa Kỳ), những du khách mạo hiểm trẻ và giàu có đã tiêu 89 tỉ USD trong năm 2009, không tính chi phí vé máy bay và trang thiết bị.
Theo các nhà nghiên cứu, một khách du lịch mạo hiểm điển hình sẽ là người khoảng 36 tuổi, họ sẵn sàng chi 450-800 USD cho mỗi kỳ nghỉ (không bao gồm vé máy bay) và sở hữu một hộ chiếu [12], [20]. Hình thức đi du lịch kết hợp với làm từ thiện và du lịch thân thiện với môi trường hiện nay cũng đang trở thành xu thế. Nhiều du khách phương Tây muốn chuyến du lịch của họ mang lại lợi ích nhiều nhất cho cộng đồng sở tại và gây tác động ít nhất đến môi trường. Do đó, những tour có chương trình ăn, ở, đi lại tiết kiệm nước, nhiên liệu, hạn chế xả chất thải sẽ thu hút đối tượng này.
Hình thức du lịch thể thao cũng là một hướng mới. Tại Thụy Sĩ, những vùng du lịch có hồ nước đẹp thường có câu lạc bộ các môn thể thao mặt nước, thu hút nhiều du khách đến ở cả tuần chỉ để nghỉ ngơi và luyện tập một môn thể thao cho thành thạo. Hiện nay, dân số thế giới không ngừng gia tăng, đô thị hóa và tập trung dân cư, tập trung công nghiệp đã gây ra ô nhiễm môi trường trầm trọng. Nhu cầu tìm về với tự nhiên là một tất yếu.