Tổng quan nghiên cứu

Theo thống kê của Hiệp hội Du lịch Châu Á – Thái Bình Dương (PATA), du lịch sinh thái và du lịch mạo hiểm đang có tốc độ tăng trưởng ấn tượng trên 20% mỗi năm, vượt xa mức tăng trưởng 5% của các loại hình du lịch đại chúng truyền thống. Riêng trong năm 2009, nhóm du khách mạo hiểm toàn cầu đã chi tiêu tới 89 tỷ USD cho các chuyến hành trình khám phá tự nhiên. Tại Việt Nam, công tác quản lý tài nguyên và hoàn thổ phục hồi môi trường sau khai thác khoáng sản thường chỉ dừng lại ở việc san gạt mặt bằng và trồng cây đơn thuần, chưa khai phóng được giá trị kinh tế và cảnh quan tiềm năng của các vùng mỏ.

Nghiên cứu được thực hiện tại khu mỏ Kẽm – Chì Chợ Điền thuộc địa bàn xã Bản Thi, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn trong giai đoạn 2006–2010. Mục tiêu trọng tâm của đề tài là phân tích hiện trạng tài nguyên tự nhiên, môi trường và nhân văn tại khu mỏ có tổng diện tích 1.640 ha (trong đó diện tích khai trường thực tế chỉ chiếm 10 ha, tương đương 0,6%), từ đó đề xuất mô hình phát triển du lịch sinh thái kết hợp du lịch mạo hiểm bền vững. Nghiên cứu mang ý nghĩa chiến lược khi tạo tiền đề chuyển đổi mô hình kinh tế xanh cho các vùng khai khoáng, góp phần nâng cao thu nhập cho 1.901 người dân bản địa xã Bản Thi (vốn có thu nhập bình quân khoảng 100 USD/năm và tỷ lệ nghèo 22,4%), đồng thời bảo vệ 58,9% độ che phủ rừng tự nhiên và duy trì nhiệt độ bình quân mát mẻ 20,9°C tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Đề tài vận dụng hai lý thuyết nền tảng trong khoa học môi trường hiện đại là Lý thuyết sinh thái học nhân văn (Human Ecology) và Lý thuyết hệ thống (System Theory).

Lý thuyết sinh thái học nhân văn tập trung phân tích sự tương tác hai chiều giữa hệ tự nhiên (hệ sinh thái rừng ẩm thường xanh, núi đá vôi Karst, khí hậu á nhiệt đới) và hệ xã hội (hoạt động khai thác mỏ của 700 cán bộ công nhân viên cùng nếp sống văn hóa của các cộng đồng dân tộc bản địa). Các dòng năng lượng, vật chất và thông tin giữa hai hệ thống được mô hình hóa nhằm định hướng các giải pháp cân bằng sinh thái.

Lý thuyết hệ thống nhìn nhận khu mỏ Chợ Điền như một hệ thống mở có khả năng tự điều chỉnh và tiếp nhận các yếu tố đầu vào từ quy hoạch du lịch để tạo ra sản phẩm dịch vụ mới. Khung nghiên cứu tích hợp bốn khái niệm cốt lõi: Du lịch sinh thái (Ecotourism), Du lịch mạo hiểm (Adventure Tourism), Hoàn thổ phục hồi môi trường (HTPHMT) và Đánh giá tài nguyên du lịch theo từng dạng tài nguyên (địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật, di tích lịch sử và văn hóa bản địa).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp đa tầng, bao gồm dữ liệu thứ cấp từ Công ty TNHH Nhà nước MTV Kim loại màu Thái Nguyên, các báo cáo quan trắc môi trường giai đoạn 2006–2008, số liệu kiểm kê rừng năm 2009 của Cục Kiểm lâm và niên giám thống kê huyện Chợ Đồn.

Về phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu sử dụng kỹ thuật Đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng (PRA) với cỡ mẫu khảo sát gồm 30 đối tượng được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling). Cỡ mẫu được chia thành 2 nhóm chuyên biệt: Nhóm nội bộ (15 người, gồm cán bộ quản lý mỏ, trưởng các thôn bản và đại diện hộ dân cư) và Nhóm bên ngoài (15 người, gồm cán bộ kiểm lâm, lãnh đạo UBND xã Bản Thi và chuyên viên phòng ban huyện Chợ Đồn). Việc lựa chọn phương pháp PRA kết hợp phỏng vấn bán chính thức giúp lượng hóa chính xác sự đồng thuận và kỳ vọng của các bên liên quan.

Dữ liệu lý hóa môi trường được phân tích đối chiếu với QCVN 05:2009/BTNMT (không khí xung quanh), QCVN 02:2009/BYT (nước sinh hoạt) và QCVN 09:2008/BTNMT (nước ngầm). Cuối cùng, ma trận phân tích SWOT (Điểm mạnh, Điểm yếu, Cơ hội, Thách thức) được ứng dụng để định hình các phương án khai thác tài nguyên trong khung thời gian nghiên cứu 2006–2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tài nguyên địa hình và sinh thái mang đặc trưng vượt trội cho du lịch mạo hiểm và nghỉ dưỡng. Khu mỏ nằm trên dãy núi Sam Sao với đỉnh Lũng Lỳ cao trên 1.000 m (độ cao tuyệt đối toàn vùng đạt 1.172 m), địa hình chia cắt mạnh với độ dốc trên 40 độ tạo thành các vách đá cheo leo xen lẫn thảm cỏ xanh và bãi đá tai mèo kỳ vĩ. Toàn xã Bản Thi sở hữu 3.839 ha đất có rừng trên tổng diện tích tự nhiên 6.513 ha, đạt tỷ lệ che phủ 58,9%; trong đó rừng tự nhiên nguyên sinh chiếm tới 3.712 ha (chiếm 96,7% tổng diện tích đất rừng). Nền nhiệt độ trung bình năm đạt 20,9°C, mùa sương mù kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau tạo cảnh quan tương tự Sa Pa hay Tam Đảo.

Thứ hai, chất lượng môi trường khu mỏ duy trì ở mức an toàn tuyệt đối cho hoạt động du lịch nhờ hình thức khai thác hầm lò chiếm tỷ trọng chủ đạo. Nồng độ khí độc SO2 (0,20–0,29 mg/m3) và NO2 (0,10–0,17 mg/m3) đều thấp hơn giới hạn quy định tại QCVN 05:2009/BTNMT. Hàm lượng bụi lơ lửng tại khu vực văn phòng đạt 0,059–0,10 mg/m3, thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn cho phép (0,30 mg/m3). Chất lượng nước suối tự nhiên và nước ngầm có độ pH ổn định từ 6,60 đến 7,03; hàm lượng kim loại nặng rất thấp với Asen dao động 0,0012–0,0030 mg/l (chuẩn cho phép 0,05 mg/l), Chì đạt 0,0001–0,0005 mg/l (chuẩn cho phép 0,01 mg/l), Kẽm đạt 0,455–0,623 mg/l (chuẩn cho phép 3,0 mg/l), đáp ứng đầy đủ tiêu chí theo Quyết định số 02/2003/QĐ-BTNMT về bảo vệ môi trường du lịch.

Thứ ba, giá trị tài nguyên nhân văn và liên kết không gian du lịch đặc sắc. Khu mỏ lưu giữ dấu ấn lịch sử khai thác từ cuối thế kỷ 18 của người Trung Hoa và công nghệ đường ray goòng treo đầu thế kỷ 20 của người Pháp. Khu vực này nằm ở vị trí tâm điểm kết nối giao thông qua 3 tuyến đường bộ (cự ly 140–240 km từ Thái Nguyên), liền kề Vườn Quốc gia Ba Bể, Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang, Khu bảo tồn Kim Hỷ và Quần thể di tích lịch sử An toàn khu (ATK) Chợ Đồn.

Thảo luận kết quả

Sở dĩ khu mỏ Chợ Điền bảo tồn được cảnh quan nguyên sơ và chất lượng môi trường vượt trội là do diện tích khai thác thực tế chỉ chiếm 0,6% tổng diện tích được giao quản lý, các khu vực hầm lò phân bố rải rác và doanh nghiệp đã áp dụng quy trình phun sương dập bụi định kỳ.

Khi đối chiếu với các mô hình quốc tế như Khu bảo tồn Clearwater Sanctuary (320 ha) hay Khu đô thị sinh thái mỏ thiếc Putrajaya (400 ha hồ nhân tạo) tại Malaysia, cũng như mô hình phục hồi mỏ sa khoáng titan Cửa Hội (Nghệ An) trồng thành công 31 ha rừng phi lao đạt doanh thu lưu niệm 170 triệu đồng/năm, mô hình tại Chợ Điền có lợi thế lớn về hệ sinh thái núi cao tự nhiên. Dữ liệu giám sát môi trường và hiện trạng đất đai khi được trình bày qua các bảng đối chiếu thông số đa năm (2006–2008) kết hợp biểu đồ cơ cấu độ che phủ rừng (58,9% đất có rừng so với 16,3% đất trống) đã minh chứng rõ rệt tính khả thi của việc thiết lập các sản phẩm du lịch như việt dã (trekking), lái xe địa hình vượt dốc (off-road), thám hiểm hầm lò lịch sử và nghỉ dưỡng sinh thái.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, quy hoạch chi tiết các phân khu chức năng du lịch sinh thái và tuyến thể thao mạo hiểm. Xây dựng tuyến đi bộ dã ngoại leo núi (trekking) cự ly 3–5 km từ chân mỏ lên đỉnh Lũng Lỳ, đồng thời cải tạo tuyến đường dốc phục vụ đua xe ô tô, mô tô địa hình. Thiết lập bảo tàng di sản địa chất và công nghiệp khai khoáng tại khu văn phòng mỏ cũ nhằm bảo tồn hệ thống xe goòng treo thời Pháp thuộc. Chủ thể thực hiện: Xí nghiệp Kẽm Chì Chợ Điền phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Kạn. Timeline: Giai đoạn 2011–2013. Chỉ số mục tiêu: Thu hút 5.000–10.000 lượt khách du lịch trải nghiệm mỗi năm.

Thứ hai, nâng cấp hạ tầng giao thông và mạng lưới an toàn kỹ thuật. Tiến hành rải nhựa và gia cố hệ thống hộ lan an toàn trên 3 tuyến đường kết nối liên tỉnh từ Thái Nguyên, Tuyên Quang về Bản Thi; xây dựng trạm cứu hộ y tế và trạm dừng nghỉ ngắm cảnh trên các cung đèo dốc hiểm trở. Chủ thể thực hiện: UBND huyện Chợ Đồn phối hợp Sở Giao thông Vận tải Bắc Kạn. Timeline: Giai đoạn 2012–2015. Chỉ số mục tiêu: Giảm 30% thời gian di chuyển liên vùng, đảm bảo an toàn tuyệt đối 100% cho các hoạt động thể thao mạo hiểm.

Thứ ba, phát triển mô hình du lịch cộng đồng (homestay) gắn với bảo tồn văn hóa Tày, Dao. Tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng nghiệp vụ du lịch, vệ sinh an toàn thực phẩm và chế tác hàng lưu niệm truyền thống cho 50–100 hộ dân xã Bản Thi; lồng ghép các lễ hội dân gian như Lễ hội Lồng Tồng, trò chơi ném còn và ẩm thực rượu ngô men lá vào hành trình tour. Chủ thể thực hiện: UBND xã Bản Thi kết hợp các tổ chức phi chính phủ và hiệp hội du lịch. Timeline: Giai đoạn 2011–2014. Chỉ số mục tiêu: Nâng mức thu nhập bình quân đầu người từ 100 USD lên 300–500 USD/năm, kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo của xã xuống dưới 15%.

Thứ tư, thiết lập cơ chế giám sát môi trường định kỳ và quy chế hoàn thổ xanh. Ban hành quy chế phối hợp quan trắc chất lượng nước ngầm, nước mặt và không khí với tần suất 4 lần/năm; thực hiện hoàn thổ cuốn chiếu tại các moong khai thác đã đóng cửa bằng cách tái phủ xanh thực vật bản địa (cây nghiến, sến). Chủ thể thực hiện: Chi cục Bảo vệ Môi trường Bắc Kạn phối hợp với Ban Quản lý mỏ. Timeline: Thực hiện thường niên từ năm 2011. Chỉ số mục tiêu: 100% các chỉ tiêu As, Pb, Zn và bụi duy trì đạt ngưỡng quy chuẩn QCVN 05:2009/BTNMT và QCVN 02:2009/BYT.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường và du lịch (Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Du lịch các tỉnh trung du miền núi phía Bắc): Sử dụng luận văn làm tài liệu tham khảo khoa học để xây dựng bộ tiêu chí thẩm định các dự án đóng cửa mỏ, cải tạo phục hồi môi trường gắn với quy hoạch không gian kinh tế xanh.

Thứ tư, các doanh nghiệp khai thác khoáng sản và tập đoàn công nghiệp luyện kim: Ứng dụng mô hình hoàn thổ tích hợp để chuyển đổi công năng các khai trường, nhà xưởng sau khai thác thành điểm tham quan du lịch công nghiệp, tối ưu hóa chi phí ký quỹ bảo vệ môi trường và tạo dựng hình ảnh doanh nghiệp phát triển bền vững.

Thứ ba, các công ty lữ hành và đơn vị tổ chức du lịch chuyên đề: Khai thác tài liệu để thiết kế các tuyến tour mạo hiểm mới lạ như trekking đường rừng, cắm trại săn sương mù, đua xe vượt địa hình hiểm trở, kết nối liên hoàn tuyến du lịch Ba Bể – Bản Thi – ATK Chợ Đồn.

Thứ tư, các viện nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên, Địa lý Du lịch: Tham khảo phương pháp luận sinh thái học nhân văn, công cụ PRA và ma trận đánh giá SWOT trong việc giải quyết bài toán dung hòa giữa khai thác khoáng sản và bảo tồn đa dạng sinh học.

Câu hỏi thường gặp

Hoạt động khai thác khoáng sản chì kẽm có gây ô nhiễm cản trở việc phát triển du lịch tại Chợ Điền không? Không cản trở, vì hoạt động khai thác chủ yếu diễn ra trong hầm lò trên diện tích 10 ha (chỉ chiếm 0,6% khu mỏ). Kết quả phân tích các mẫu quan trắc cho thấy nồng độ bụi chỉ đạt 0,059–0,10 mg/m3 và các chỉ tiêu kim loại nặng trong nước như Asen (dưới 0,003 mg/l), Chì (dưới 0,0005 mg/l) đều đạt chuẩn QCVN 02:2009/BYT.

Cảnh quan thiên nhiên tại mỏ Chợ Điền có những yếu tố đặc thù nào thu hút du khách mạo hiểm? Khu mỏ tọa lạc trên dãy Sam Sao với đỉnh Lũng Lỳ cao trên 1.000 m, địa hình đá vôi Karst phân cắt mạnh với độ dốc trên 40 độ, nhiều bãi đá tai mèo, rừng nguyên sinh có độ che phủ 58,9% và các tuyến đường mòn dốc đứng dài hơn 3 km rất lý tưởng cho bộ môn trekking và off-road.

Các giá trị văn hóa lịch sử nổi bật nào có thể kết hợp vào tuyến du lịch sinh thái tại đây? Du khách có thể tham quan hệ thống xe goòng treo và đường ray khai mỏ từ thời Pháp đầu thế kỷ 20, trải nghiệm văn hóa bản địa của người Tày, Dao qua chợ phiên vùng cao, lễ hội Lồng Tồng, đồng thời dễ dàng kết nối với di tích lịch sử quốc gia An toàn khu (ATK) Chợ Đồn.

Khung lý thuyết sinh thái học nhân văn được áp dụng như thế nào trong đề tài này? Lý thuyết tiếp cận khu mỏ như một hệ thống sinh thái nhân văn hoàn chỉnh, phân tích tương tác giữa hệ tự nhiên (rừng, nước, địa hình) và hệ xã hội (cán bộ mỏ, cộng đồng dân cư) nhằm định hướng dòng vật chất và năng lượng phục vụ tái tạo cảnh quan và du lịch bền vững.

Mô hình du lịch sinh thái mỏ mang lại lợi ích kinh tế cụ thể gì cho người dân xã Bản Thi? Dự án giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế thuần nông, tạo sinh kế mới thông qua dịch vụ homestay và hướng dẫn viên bản địa, hướng tới mục tiêu nâng thu nhập bình quân từ 100 USD lên 300–500 USD/người/năm và giảm tỷ lệ nghèo địa phương từ mức 22,4%.

Kết luận

  • Xác lập tiềm năng to lớn của 1.640 ha khu mỏ Chợ Điền với tỷ lệ che phủ rừng đạt 58,9% và nền nhiệt độ trung bình mát mẻ 20,9°C cho phát triển du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng núi cao.
  • Chứng minh cơ sở khoa học về chất lượng môi trường không khí và nguồn nước đạt chuẩn an toàn du lịch theo QCVN 05:2009/BTNMT và QCVN 02:2009/BYT nhờ công nghệ khai thác hầm lò ít xâm hại bề mặt.
  • Tiên phong đề xuất giải pháp hoàn thổ phục hồi môi trường mỏ gắn liền với phát triển du lịch thể thao mạo hiểm (trekking, off-road, thám hiểm di sản khai khoáng), thay thế cách thức hoàn thổ thụ động truyền thống.
  • Thiết lập hành lang kết nối du lịch liên vùng chặt chẽ giữa mỏ Chợ Điền với Vườn Quốc gia Ba Bể, Khu bảo tồn Na Hang và Quần thể di tích lịch sử ATK Chợ Đồn.
  • Đặt nền móng nâng cao sinh kế cộng đồng, hướng tới mục tiêu gia tăng thu nhập cho 1.901 người dân bản địa từ mức 100 USD/năm và bảo tồn vững chắc bản sắc văn hóa các dân tộc vùng cao.

Công trình luận văn là tài liệu khoa học mang tính ứng dụng cao, mở ra hướng đi đột phá cho chiến lược kinh tế tuần hoàn sau khai khoáng. Các cơ quan quản lý và doanh nghiệp lữ hành cần nhanh chóng phối hợp triển khai đề án quy hoạch chi tiết giai đoạn 2011–2015 nhằm biến tiềm năng mỏ Chợ Điền thành điểm đến du lịch sinh thái – mạo hiểm kiểu mẫu của vùng Trung du miền núi Bắc Bộ.