Tổng quan nghiên cứu

Biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn biến phức tạp và tác động trực tiếp đến hệ thống khí hậu khu vực Đông Nam Á, trong đó Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tổn thương nặng nề nhất. Theo các báo cáo khí hậu quốc tế, nhiệt độ trung bình tại khu vực gió mùa nhiệt đới có xu hướng gia tăng rõ rệt kèm theo sự gia tăng tần suất và cường độ của các hiện tượng thời tiết cực đoan. Vấn đề cốt lõi đặt ra là các mô hình khí hậu toàn cầu và khu vực đơn lẻ luôn chứa đựng độ bất định vật lý rất lớn, với mức sai lệch nhiệt độ cực đại hoặc cực tiểu có thể dao động từ 4,0°C đến hơn 5,0°C tùy theo địa hình và mùa.

Luận văn thạc sĩ khoa học chuyên ngành Khí tượng và khí hậu học của tác giả Nguyễn Xuân Diện, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Vũ Thanh Hằng tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội, tập trung giải quyết bài toán dự tính tổ hợp nhằm giảm thiểu độ bất định trong mô phỏng khí hậu. Mục tiêu cụ thể của đề tài là đánh giá năng lực mô phỏng trường nhiệt độ của 5 mô hình khí hậu khu vực, xây dựng phương trình tổ hợp tối ưu và dự tính chi tiết sự biến đổi của các yếu tố nhiệt độ tại Việt Nam cho giai đoạn tương lai 2020–2039 so với thời kỳ chuẩn 1980–1999.

Nghiên cứu được triển khai trên phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam thông qua chuỗi số liệu thực đo tại 80 trạm khí tượng đại diện cho 7 vùng khí hậu đặc trưng. Về mặt học thuật và thực tiễn, việc ứng dụng kỹ thuật tổ hợp hồi quy tuyến tính nhiều biến giúp giảm sai số tuyệt đối trung bình xuống dưới 1,2°C, đồng thời cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng phục vụ công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và chiến lược quốc gia về ứng phó biến đổi khí hậu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết khí động lực học khí quyển, lý thuyết hạ thấp quy mô động lực và nguyên lý siêu tổ hợp đa mô hình trong dự báo khí hậu. Khái niệm dự báo tổ hợp được đề xuất từ những năm 1974 bởi Leith và tiếp tục phát triển mạnh mẽ thông qua các dự án so sánh đa mô hình khí hậu quốc tế như CMIP3 và CMIP5 của Ban Liên Chính Phủ về Biến đổi Khí hậu. Nguyên lý nền tảng chỉ ra rằng không có bất kỳ một mô hình số trị đơn lẻ nào là hoàn hảo tuyệt đối; khi coi sai số mô phỏng của các mô hình là độc lập, việc tích hợp kết quả từ nhiều mô hình sẽ triệt tiêu các sai số ngẫu nhiên và đem lại kết quả tiệm cận giá trị thực tế nhất.

Hệ thống nghiên cứu sử dụng 5 mô hình khí hậu khu vực có cấu trúc động lực và sơ đồ tham số hóa vật lý đa dạng: mô hình RegCM của Trung tâm Vật lý Lý thuyết Quốc tế ICTP, mô hình trung mô phi thủy tĩnh MM5, mô hình khí hậu khu vực REMO của Viện Khí tượng Max Planck, mô hình CCAM với lưới biến đổi đồng nhất và mô hình phân giải cao MRI của Viện Nghiên cứu Khí tượng Nhật Bản. Các khái niệm trung tâm bao gồm: nhiệt độ trung bình tháng mực 2 mét, nhiệt độ cực đại trung bình, nhiệt độ cực tiểu trung bình, nhiệt độ cực đại tuyệt đối tháng, nhiệt độ cực tiểu tuyệt đối tháng, cùng các chỉ số cực đoan như số ngày rét có nhiệt độ dưới 15,0°C và số ngày nắng nóng có nhiệt độ trên 35,0°C.

+-----------------------------------------------------------------------------+
|                      KHUNG PHƯƠNG PHÁP DỰ TÍNH TỔ HỢP                        |
+-----------------------------------------------------------------------------+
|  [Đầu ra 5 Mô hình Khu vực]           [Chuỗi Số liệu Quan trắc Thực tế]     |
|  RegCM, MM5, REMO, CCAM, MRI            80 Trạm Khí tượng (1980 - 1999)      |
|  (Miền tính 88x45 - 105x144 lưới)       (Đại diện cho 7 Vùng Khí hậu)       |
+------------------------------------+----------------------------------------+
                                     |
                                     v
+-----------------------------------------------------------------------------+
|  Nội suy không gian về vị trí trạm & Đánh giá sai số đơn mô hình (ME, MAE)  |
+------------------------------------+----------------------------------------+
                                     |
                                     v
+-----------------------------------------------------------------------------+
|  Thuật toán Tổ hợp Tuyến tính Đa biến (MLR) & Tổ hợp Trung bình Đơn giản    |
+------------------------------------+----------------------------------------+
                                     |
                                     v
+-----------------------------------------------------------------------------+
|  Dự tính Biến đổi Nhiệt độ Tương lai Giai đoạn 2020 - 2039 (Kịch bản A1B)    |
|  (Phân tích độ lệch chuẩn T2m, Tx, Tn trên toàn bộ 80 trạm khí tượng)       |
+-----------------------------------------------------------------------------+

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu đầu vào bao gồm bộ số liệu quan trắc khí tượng bề mặt thu thập trong 20 năm liên tục thuộc thời kỳ chuẩn 1980–1999 tại 80 trạm khí tượng trải dài từ Bắc vào Nam. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu cụm theo phân vùng địa lý khí hậu, đảm bảo mỗi vùng trong số 7 vùng khí hậu của Việt Nam đều có đủ các trạm đại diện từ vùng núi cao, trung du, đồng bằng đến duyên hải hải đảo. Các trạm có tỷ lệ khuyết số liệu lớn được sàng lọc và loại bỏ nghiêm ngặt để đảm bảo độ tin cậy thống kê của chuỗi thời gian. Dữ liệu mô hình được trích xuất từ các miền tính có độ phân giải từ 88x45 điểm lưới đến 105x144 điểm lưới bao phủ tọa độ từ 5°N đến 27°N và 84°E đến 132°E, sau đó sử dụng thuật toán nội suy song tuyến tính để đưa về tọa độ chính xác của từng trạm quan trắc.

Hai phương pháp tổ hợp được so sánh và đánh giá song song gồm:

  1. Phương pháp trung bình tổ hợp đơn giản gán trọng số đồng đều cho tất cả các mô hình thành phần.
  2. Phương pháp hồi quy tuyến tính nhiều biến xác định trọng số tối ưu cho từng mô hình dựa trên ma trận hiệp phương sai và mối tương quan giữa số liệu mô phỏng với quan trắc thực tế.

Lý do lựa chọn phương pháp hồi quy tuyến tính nhiều biến là khả năng tự động gán trọng số lớn hơn cho những mô hình có kỹ năng mô phỏng vượt trội tại từng trạm địa phương, từ đó triệt tiêu độ lệch hệ thống tốt hơn hẳn so với việc lấy trung bình số học thông thường. Để kiểm định mức độ chuẩn xác, nghiên cứu áp dụng bộ ba chỉ số thống kê tiêu chuẩn gồm sai số trung bình nhằm xác định xu hướng thiên lệch âm hay dương, sai số tuyệt đối trung bình nhằm đo lường biên độ sai số tuyệt đối, và hệ số tương quan tuyến tính Pearson nhằm đánh giá mức độ đồng pha không gian và thời gian giữa chuỗi dự tính với số liệu quan trắc.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình mô phỏng đơn mô hình cho thời kỳ chuẩn 1980–1999 cho thấy sự phân hóa sai số rất lớn giữa các mô hình khí hậu khu vực. Mô hình CCAM và REMO luôn có xu hướng mô phỏng thiên dương rõ rệt đối với trường nhiệt độ trung bình và nhiệt độ cực đại, trong khi mô hình RegCM và MM5 lại có xu hướng thiên âm trên diện rộng. Mô hình MRI thể hiện tính ổn định cao nhất trong số 5 mô hình với sai số trung bình và sai số tuyệt đối trung bình thấp nhất, duy trì hệ số tương quan trên 0,72 đối với nhiệt độ trung bình mực 2 mét.

Đối với các chỉ số nhiệt độ cực trị, sai lệch giữa mô phỏng và quan trắc tăng lên đáng kể. Mô hình CCAM mô phỏng nhiệt độ cực đại của cực đại tháng cao hơn số liệu quan trắc thực tế từ 5,0°C đến 8,0°C tại hầu hết các trạm phía Bắc và Bắc Trung Bộ, trong khi MM5 và RegCM lại thấp hơn thực tế khoảng 5,0°C. Đối với số ngày rét có nhiệt độ dưới 15,0°C, mô hình RegCM và MM5 mô phỏng vượt mức quan trắc lên đến gần 90 ngày tại khu vực Tây Bắc, trong khi CCAM và REMO hầu như chỉ ghi nhận dưới 10 ngày.

Ứng dụng phương pháp hồi quy tuyến tính nhiều biến mang lại bước đột phá về độ chính xác so với từng mô hình thành phần và phương pháp trung bình đơn giản. Sai số trung bình tuyệt đối của tổ hợp hồi quy đối với nhiệt độ trung bình, nhiệt độ cực đại và nhiệt độ cực tiểu đều giảm từ 35% đến 50% so với mô hình đơn lẻ tốt nhất, đưa hệ số tương quan với quan trắc vượt ngưỡng 0,85 trên đa số các trạm. Kết quả dự tính giai đoạn tương lai 2020–2039 theo kịch bản phát thải A1B chỉ ra rằng nhiệt độ trung bình và nhiệt độ cực đại trên toàn bộ 80 trạm đều có xu thế tăng phổ biến từ 1,0°C đến 3,0°C so với thời kỳ chuẩn 1980–1999.

Yếu tố khí hậu phân tích Mô hình đơn lẻ tốt nhất (MRI) Trung bình tổ hợp đơn giản (SEM) Tổ hợp hồi quy tuyến tính (MLR) Mức độ cải thiện độ chính xác
Nhiệt độ trung bình ($T_{2m}$) MAE: 1,42°C | $r = 0,74$ MAE: 1,28°C | $r = 0,79$ MAE: 0,86°C | $r = 0,88$ Giảm sai số tuyệt đối 39,4%
Nhiệt độ cực đại ($T_x$) MAE: 2,15°C | $r = 0,68$ MAE: 1,94°C | $r = 0,72$ MAE: 1,12°C | $r = 0,85$ Giảm sai số tuyệt đối 47,9%
Nhiệt độ cực tiểu ($T_n$) MAE: 1,65°C | $r = 0,76$ MAE: 1,48°C | $r = 0,81$ MAE: 0,94°C | $r = 0,89$ Giảm sai số tuyệt đối 43,0%
Cực đại của cực đại ($TX_x$) MAE: 3,40°C | $r = 0,55$ MAE: 2,85°C | $r = 0,63$ MAE: 1,68°C | $r = 0,78$ Giảm sai số tuyệt đối 50,6%

Thảo luận kết quả

Sự khác biệt mang tính hệ thống giữa các mô hình số trị bắt nguồn từ cấu trúc động lực học, độ phân giải miền tính và cách thức thiết lập sơ đồ tham số hóa mây, bức xạ và quá trình trao đổi bề mặt đất - khí quyển. Khi biểu diễn kết quả trên biểu đồ phân bố không gian và biểu đồ biến thiên theo 80 trạm trải dài từ vĩ độ 8°N đến 23°N, đường mô phỏng của phương pháp tổ hợp hồi quy tuyến tính bám sát gần như hoàn hảo đường số liệu thực đo. Phương pháp trung bình đơn giản không thể hiện được hiệu quả tối ưu vì coi trọng số của mọi mô hình là ngang bằng, dẫn đến việc các mô hình có sai số cục bộ lớn làm suy giảm chất lượng chung của toàn bộ tổ hợp.

Các biểu đồ sai số dạng thanh và ma trận so sánh các chỉ số thống kê minh chứng rõ nét rằng khu vực miền Nam có độ hội tụ mô hình cao hơn và mức độ sai số thấp hơn so với khu vực đồi núi phức tạp phía Bắc và dải hẹp ven biển miền Trung. Sự biến đổi nhiệt độ trong giai đoạn tương lai 2020–2039 tại các trạm miền Trung diễn ra đồng đều và ổn định nhất, dao động trong biên độ tăng từ 0,8°C đến 2,2°C. Trong khi đó, nhiệt độ cực tiểu thể hiện xu thế phân hóa không gian mạnh mẽ, đòi hỏi các nghiên cứu tiếp theo cần tích hợp thêm dữ liệu địa hình siêu phân giải nhằm nắm bắt trọn vẹn hiệu ứng tiểu khí hậu cục bộ.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Tích hợp thuật toán tổ hợp hồi quy đa biến vào quy trình dự báo khí hậu nghiệp vụ quốc gia nhằm giảm ít nhất 30% sai số biên độ nhiệt độ cực đoan, hoàn thành triển khai thử nghiệm tại Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia trong giai đoạn 2024–2025.
  2. Nâng cấp và số hóa đồng bộ cơ sở dữ liệu quan trắc khí tượng bề mặt tại hơn 80 trạm trên toàn quốc theo chuẩn thời gian thực, đạt tỷ lệ phủ kín dữ liệu 100% không khuyết thiếu trước quý 4 năm 2025 do Cục Khí tượng Thủy văn chủ trì thực hiện.
  3. Cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu chi tiết cấp tỉnh theo thế hệ mô hình đối sánh CMIP6 và kịch bản phát thải mới SSPs với độ phân giải lưới 10x10 km, thực hiện định kỳ chu kỳ 5 năm một lần trong giai đoạn 2025–2030 dưới sự điều phối của Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu.
  4. Xây dựng quy chuẩn kỹ thuật và điều chỉnh tiêu chuẩn thiết kế công trình xây dựng, hạ tầng giao thông đô thị và hệ thống tưới tiêu nông nghiệp nhằm thích ứng với ngưỡng nhiệt độ cực đại gia tăng trên 40,0°C tại các vùng kinh tế trọng điểm, do Bộ Xây dựng phối hợp cùng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành áp dụng trong giai đoạn 2026–2028.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Nhà nghiên cứu và giảng viên chuyên ngành Khí tượng, Khí hậu học và Khoa học Môi trường: Sử dụng khung phương pháp luận siêu tổ hợp đa mô hình và hệ thống công thức hồi quy làm tài liệu giảng dạy, tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về mô hình hóa khí quyển.
  • Chuyên viên dự báo khí tượng thủy văn tại các đài khu vực và trung ương: Ứng dụng kỹ thuật tổ hợp 5 mô hình khí hậu khu vực để hiệu chỉnh độ lệch sản phẩm dự báo mùa và dự tính khí hậu hạn dài phục vụ công tác nghiệp vụ hàng ngày.
  • Các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý tài nguyên môi trường: Khai thác chuỗi số liệu dự tính nhiệt độ tương lai tại 80 trạm khí tượng để xây dựng kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu cấp địa phương và đánh giá rủi ro thiên tai.
  • Kỹ sư quy hoạch đô thị, giao thông và nông nghiệp bền vững: Tham khảo các ngưỡng nhiệt độ cực trị dự tính giai đoạn 2020–2039 để tính toán tải trọng nhiệt cho công trình kiến trúc, lựa chọn giống cây trồng thích ứng và quy hoạch lịch thời vụ hợp lý.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao việc sử dụng một mô hình khí hậu đơn lẻ không đủ tin cậy để dự tính nhiệt độ tương lai?
Mỗi mô hình khí hậu đơn lẻ đều dựa trên các giả định vật lý và phương pháp số trị riêng, dẫn đến sai lệch hệ thống từ 2,0°C đến 5,0°C tùy theo địa hình và mùa. Việc dựa vào một mô hình duy nhất sẽ tạo ra rủi ro sai số lớn, trong khi kỹ thuật tổ hợp giúp triệt tiêu các sai số ngẫu nhiên độc lập này.

Phương pháp tổ hợp hồi quy tuyến tính nhiều biến vượt trội hơn phương pháp trung bình đơn giản ở điểm nào?
Phương pháp hồi quy tuyến tính nhiều biến gán trọng số thống kê tối ưu cho từng mô hình dựa trên khả năng mô phỏng thực tế của mô hình đó tại từng trạm đo. Ngược lại, phương pháp trung bình đơn giản coi mọi mô hình có vai trò ngang nhau, làm giảm độ chính xác khi có mô hình thành phần sai số quá lớn.

Dữ liệu thực nghiệm của luận văn được thu thập từ những nguồn nào và độ tin cậy ra sao?
Nghiên cứu sử dụng chuỗi số liệu thực đo liên tục 20 năm từ 1980 đến 1999 tại 80 trạm khí tượng bề mặt chuẩn quốc gia thuộc 7 vùng khí hậu Việt Nam. Dữ liệu đầu ra của 5 mô hình khu vực RegCM, MM5, MRI, CCAM, REMO được nội suy trực tiếp về vị trí các trạm này để so sánh đồng bộ.

Xu thế biến đổi nhiệt độ nổi bật nhất tại Việt Nam trong giai đoạn 2020–2039 là gì?
Theo kết quả dự tính tổ hợp kịch bản A1B, nhiệt độ trung bình và nhiệt độ cực đại tại hầu hết các trạm quan trắc đều tăng từ 1,0°C đến 3,0°C so với thời kỳ chuẩn 1980–1999. Khu vực miền Trung thể hiện mức tăng nhiệt tương đối đồng đều nhất với biên độ phổ biến từ 0,8°C đến 2,2°C.

Kết quả của luận văn có thể chuyển giao và mở rộng cho bài toán dự báo lượng mưa không?
Hoàn toàn có thể chuyển giao khung phương pháp luận tổ hợp hồi quy đa biến cho biến lượng mưa. Tuy nhiên, do lượng mưa có tính gián đoạn không gian và phi tuyến tính cao hơn nhiệt độ, mô hình cần bổ sung các hàm lọc phi tuyến hoặc phân phối xác suất phù hợp trước khi thiết lập phương trình tổ hợp.

Kết luận

  • Đã đánh giá toàn diện độ bất định và sai lệch hệ thống của 5 mô hình khí hậu khu vực (RegCM, MM5, MRI, CCAM, REMO) đối với trường nhiệt độ tại Việt Nam thời kỳ chuẩn 1980–1999.
  • Chứng minh phương pháp tổ hợp hồi quy tuyến tính nhiều biến cho kết quả vượt trội so với các mô hình đơn lẻ và phương pháp trung bình đơn giản, giúp hạ thấp sai số MAE xuống dưới 1,2°C và nâng hệ số tương quan $r > 0,85$.
  • Xây dựng thành công bộ phương trình tổ hợp chi tiết cho các yếu tố nhiệt độ trung bình, cực đại, cực tiểu và các chỉ số cực trị trên 80 trạm khí tượng thuộc 7 vùng khí hậu.
  • Đưa ra bức tranh dự tính định lượng cho giai đoạn 2020–2039 theo kịch bản A1B với mức tăng nhiệt độ trung bình và cực đại phổ biến từ 1,0°C đến 3,0°C trên toàn lãnh thổ.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho việc cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu quốc gia và định hướng mở rộng nghiên cứu sang thế hệ kịch bản CMIP6 giai đoạn 2025–2030. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cơ quan chuyên môn quan tâm có thể tiếp cận toàn văn công trình để ứng dụng vào công tác dự báo và quy hoạch thích ứng khí hậu tại địa phương.