ĐẶT VẤN ĐỀ Đầu năm 2023, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã cảnh báo về tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng nhân viên y tế liên quan tới đại dịch Covid-19. Theo báo cáo của WHO cho hay, không dưới 55 quốc gia trên thế giới đang phải chật vật đối phó với tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng nhân viên y tế, trong bối cảnh lực lượng lao động này có xu hướng tìm kiếm các cơ hội việc làm thu nhập cao hơn ở những nước phát triển hơn. Ngoài ra, các nước giàu có đã gia tăng nỗ lực tuyển dụng nhân viên y tế trong giai đoạn đại dịch Covid- 19 [46]. Nghiên cứu về động lực của nhân viên y tế tại Benin, Kenya của hai nhà khoa học Inke Mathauer, Ingo Imhoff năm 2006 đã chỉ ra rằng nhân viên y tế thiếu động lực làm việc vì không thể thỏa mãn lương tâm nghề nghiệp và bị cản trở trong việc theo đuổi công việc của mình do thiếu phương tiện, vật tư và do các công cụ quản lý nhân lực không được áp dụng đầy đủ hoặc không phù hợp [40].
Tại Việt Nam, kết quả các nghiên cứu cũng cho thấy, động lực làm việc của nhân viên y tế tại các đơn vị cũng khác nhau, chịu sự chi phối của nhiều nguyên nhân như đặc thù ngành, đặc điểm vùng miền, các yếu tố bên ngoài và bên trong cơ quan…[12] Có không ít các đề tài nghiên cứu về động lực làm việc của nhân viên y tế trên thế giới cũng như tại Việt Nam, cho thấy động lực làm việc của các bác sỹ chưa cao [5]. Từ kết quả của các nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố liên quan đến động lực làm việc của các bác sĩ bao gồm tuổi, mức thu nhập, thâm niên công tác, vị trí công việc, trình độ chuyên môn và chức vụ quản lý [22]; loại hợp đồng, cơ họi đào tạo và phát triển, ghi nhận thành tích [1]. Năm 2006 Inke Mathauer và Ingo Imhoff cũng đã đưa ra đánh giá nhân viên y tế không có động lực làm việc do không thể thỏa mãn mong muốn bản thân và bị kìm hãm trong việc công việc do thiếu trang thiết bị, phương tiện [40]. Trong thời gian vừa qua, bên cạnh sự phát triển hệ thống y tế công cũng có nhiều hệ thống bệnh viện tư nhân mở ra với quy mô lớn, trang thiết bị hiện đại và chế độ đãi ngộ tốt, cũng đã thu hút số lượng nhân viên y tế lớn từ các cơ sở y tế công lập.
Tình trạng này đã phản ánh ngoài nhiệm vụ chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, nhân viên y tế còn có các mục đích và nhu cầu riêng của họ. Bệnh viện Đa khoa đa quốc tế Vinmec Times City là bệnh viện tư nhân trực thuộc Sở Y tế Hà Nội. Bệnh viện đã và đang thực hiện nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ nhân dân 2 trên địa thành phố Hà Nội và những vùng lân cận. Bệnh viện đã luôn hướng tới cải thiện chất lượng dịch vụ chăm sóc y tế với nhiều dự án cải tiến chất lượng liên tục.
Một trong các mục tiêu cải tiến chất lượng mang tính gốc rễ của chất lượng dịch vụ của bệnh viện là ban lãnh đạo bệnh viện là phải làm thế nào tạo ra được động lực cho đội ngũ cán bộ y tế có thể làm việc với chất lượng dịch vụ và hiệu quả cao nhất cho tổ chức. Ngoài ra, với các yếu tố môi trường công việc đặc thù của ngành y đầy áp lực về tâm lý, thời gian làm việc và khối lượng công việc cần giải quyết thì động lực của cán bộ y tế lại càng cần phải chú trọng, đặc biệt đối với các nhân viên y tế các khoa lâm sàng. Vậy, vấn đề đặt ra là các nhân viên y tế đang công tác tại một số khoa lâm sàng - Bệnh viện Đa khoa quốc tế Vinmec Times City có động lực làm việc thế nào? Những yếu tố liên quan nào giúp cho cán bộ nhân viên ở đây có động lực gắn bó và làm việc tại đây? Để có thể trả lời những câu hỏi này và cũng giúp các cán bộ lãnh đạo có thêm thông tin giúp duy trì và không ngừng tạo động lực cho đội ngũ nhân viên y tế gắn bó và đạt mục tiêu chất lượng dịch vụ cao của bệnh viện, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Động lực làm việc của nhân viên y tế tại Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Times City, Hà Nội năm 2024 và một số yếu tố liên quan”. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả động lực làm việc của nhân viên y tế tại một số khoa lâm sàng - Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Times City, Hà Nội năm 2024. Phân tích một số yếu tố liên quan đến động lực làm việc của nhân viên y tế tại một số khoa lâm sàng - Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Times City, Hà Nội năm 2024. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1.
Động lực làm việc Khái niệm động lực làm việc: Động lực có thể được định nghĩa là mức độ sẵn sàng của một người để đạt được một mục tiêu cá nhân phù hợp với mục tiêu của tổ chức và những lý do cơ bản của hành vi có thể xuất phát từ bên trong hoặc tác động từ bên ngoài [25], [36]. Động lực làm việc như một chất xúc tác cho từng nhân viên làm việc cho một tổ chức để nâng cao hiệu suất làm việc của họ hoặc để hoàn thành nhiệm vụ bằng nhiều cách tốt hơn họ thường làm. Trong một tổ chức, điều quan trọng là làm cho nhân viên được quý trọng và đánh giá cao bởi vì sẽ giúp nhân viên có động lực làm việc chăm chỉ và trung thành hơn với tổ chức. Cốt lõi của động lực làm việc: Một cá nhân có động lực phụ thuộc vào nhiều yếu tố đồng thời tác động tới từ bên trong con người và môi trường xung quanh.
Do vậy, để thúc đẩy được các hành vị và khuyến khích được cá nhân trong tổ chức thì cần phải kết hợp nhiều yếu tố có thể tác động đồng thời như môi trường làm việc có văn hóa, phong cách lãnh đạo, cấu trúc của tổ chức và cùng với các chính sách về quyền lợi, nghĩa vụ rõ ràng. Với động lực chủ động bên trong của mỗi cá nhân trong công việc cũng rất quan trọng để tạo động lực làm việc cho bản thân như có nhu cầu, mục đích và quan niệm về giá trị. Sự phát triển lớn mạnh của một tổ chức không thể thiếu đội ngũ người lao động nhiệt huyết và có năng lực [16]. Mỗi người lao động trong một hoàn cảnh trách nhiệm và vị trí công việc sẽ cần có động lực khác nhau để bản thân họ làm việc tích cực hơn, chính vì vậy không có một động lực chung cho mọi lao động.
Xét về yếu tố tính cách cá nhân của mỗi người lao động thì động lực không hoàn toàn phụ thuộc vào các đặc điểm tính cách bởi động lực có thể thay đổi theo các yếu tố khách quan trong công việc như trong một ngày làm việc có thời điểm người lao động làm việc với năng suất và hiệu quả rất cao, tuy nhiên tại thời điểm khác thì chưa chắc đã còn nhiệt huyết trong công việc. Với yếu tố bên trong động lực làm việc mang tính tự nguyện, do người lao động làm chủ. Người lao động chỉ làm việc tận tâm với chất lượng tốt nhất và đạt được hiệu suất cao nhất với công việc được giao khi bản thân họ cảm thấy không bị sức ép hay áp lực nào trong công việc. Về bản chất của động lực đóng vai trò rất quan trọng, tạo ra các sức mạnh vô hình 4 từ đó thúc đẩy con người có thể đạt được hiệu quả lớn hơn trong công việc.
Tuy nhiên, động lực cũng không thể hoàn toàn quyết định được khả năng tăng năng suất lao động mà chỉ là nguồn gốc để tạo ra năng suất bởi điều này còn phụ thuộc vào kỹ năng, trình độ của người lao động, vào các ứng dụng khoa học công nghệ được áp dụng trong công việc. Học thuyết động lực làm việc: Có nhiều học thuyết khác nhau về tạo động lực trong lao động và cũng có nhiều hình thức tiếp cận riêng. Tuy nhiên, các học thuyết này đều có chung một kết luận. Với sự không ngừng tăng cường động lực tới người lao động sẽ giúp nâng cao chất lượng và năng suất lao động, cũng như các kết quả vượt sự mong đợi của tổ chức.
Thuyết nhu cầu của Maslow đã cho thấy hành vi của con người bị chi phối bởi nhu cầu chưa được thỏa mãn và luôn hướng tới đòi hỏi nhiều hơn. Ngoài ra, lý thuyết này là cơ sở chính để biết nỗ lực và động lực có tương quan như thế nào tới hành vi con người. Lý thuyết cũng đã chỉ ra các nhu cầu khác nhau của con người với 5 tầng tháp được sắp xếp theo thang bậc từ thấp đến cao. Tầng thứ nhất: các nhu cầu căn bản nhất thuộc về sinh lý (physiological) – thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, bài tiết, thở, nghỉ ngơi.
Đây là những nhu cầu thiết yếu để tồn tại. Tầng thứ hai: Nhu cầu an toàn (safety) - cần có cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo. Tầng thứ ba: Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc (love/belonging) - muốn được trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy. Tầng thứ tư: Nhu cầu được quý trọng, kính mến (esteem) - cần có cảm giác được tôn trọng, kính mến, được tin tưởng.
Tầng thứ năm: Nhu cầu về tự thể hiện bản thân cường độ cao (self - actualization) - muốn sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công nhận là thành đạt. Với cách xây dựng nhu cầu hình tháp A.Maslow thể hiện được nhu cầu của con người với những nhu cầu cơ bản, lớn nhất ở phía dưới và nhu cầu tự thể hiện và siêu việt ở phía trên. Nói cách khác, các nhu cầu cơ bản nhất của cá nhân phải được đáp ứng trước khi họ có động lực để đạt được nhu cầu cấp cao hơn [35]. Herzberg đưa ra lý thuyết hai yếu tố về sự đáp ứng thỏa mãn công việc và tạo động lực.