Chương I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC VÀ TRONG NƯỚC 1. Nghiên cứu một số thiết bị thu gom, đóng kiện rơm rạ ở nước ngoài: Để việc sử dụng rơm có hiệu quả, các nước phát triển đều quan tâm trước hết tới việc cơ giới hoá việc thu gom, vận chuyển và bảo quản rơm. Ở các nước này việc thu hoạch lúa, lúa mì đều thực hiện bằng máy liên hợp thu hoạch rơm được rải trên đồng. Mặt khác rơm có khối lượng thể tích nhỏ, tuỳ theo độ ẩm, ở điều kiện bình thường không được nén ép, khối lượng thể tích rơm thường nhỏ hơn 100 Kg/ m3.
Vì vậy, công việc thu gom, vận chuyển, bảo quản rơm bằng phương pháp thủ công có chi phí rất cao. Dưới đây là các phương pháp thu gom rơm đã và đang được sử dụng rộng rãi ở các nước đang phát triển. * Phương pháp truyền thống: Phương pháp truyền thống được các nước Châu Âu sử dụng rộng rãi để thu hoạch rơm cũng như cỏ khô là phương pháp tự chất vào rơmooc chuyên dùng (Self- loading wagon). Phương pháp này sử dụng liên hợp máy làm việc theo nguyên lý vơ gom rơm trên đồng bằng hệ thống xích có cánh vơ, đưa rơm lên bộ phận băm đạt độ dài 8- 12 cm sau đó được băng tải chuyển sang rơmooc chuyên dụng (Wagon) có thể tích chứa 15- 20 m3 (tương đương 2- 3 tấn rơm).
Máy liên hợp với máy kéo công suất 30 KW, chi phí năng lượng riêng 1- 1,2 KWh/ tấn. * Phương pháp đóng kiện thông thường (conventional balers): Phương pháp đóng kiện vuông (dạng khối hộp) được John Applety (USA) đề xuất năm 1879. Nhưng phải tới những năm 1950- 1960 các loại máy thu gom đóng kiện rơm rạ dạng vuông mới được sản xuất để thay thế cho phương pháp thu gom rơm rời truyền thống. Máy làm việc theo nguyên lý LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 rơm được thu gom qua băng tải dọc chuyển đến vít tải ngang đưa rơm vào buồng ép, nhờ có cơ cấu ép bằng piston, rơm- cỏ khô được nén chặt và buộc lại nhờ có cơ cấu buộc dây tự động.
Máy đóng kiện liên hợp với máy kéo công suất 50- 100 KW tuỳ theo kích thước kiện, độ chặt và năng suất. Với độ chặt 150- 250 Kg/ m3 chi phí năng lượng riêng 1,5- 2,5 KWh/ tấn. Các kích thước của kiện vuông phổ biến là: + Kiện trung bình 0,36 x 0,46 x 0,99 m, có khối lượng 18 Kg; + Kiện lớn 1,5 x 1,5 x 2,33 m, có khối lượng 600 Kg; 1,25 x 1,25 x 2,65 m, có khối lượng 300 Kg. Các loại máy đóng kiện vuông được sử dụng rộng rãi trên thế giới chủ yếu do các hãng của Hà Lan và Mỹ sản xuất.
* Phương pháp đóng kiện tròn (khối trụ): Sáng chế (patent) đầu tiên về nguyên lý máy đóng kiện trụ tròn đăng ký 1885 của T Workman (USA). Tuy vậy phải đến những năm 1970 máy đóng kiện trụ tròn mới được chế tạo đưa vào ứng dụng trong sản xuất. Máy làm việc theo nguyên lý rơm được rulô gom rơm chuyển vào buồng nén ép, trong buồng nén éo rơm được cuộn tròn và nén nhờ hệ thống dây đai, xích và con lăn. Sau khi đạt yêu cầu về kích thước và độ chặt, kiện rơm tròn được thả trên mặt ruộng.
Các loại máy đóng kiện tròn của mỹ, Hà Lan sản xuất thường để đóng kiện có kích thước lớn, liên hợp máy kéo công suất 50 KW. Kích thước kiện thông thường là: Đường kính 1,4 m, rộng 1,5 m, khối lượng 340 Kg; Đường kính 2,4 m, rộng 1,2 m, khối lượng 700 Kg; Trong các năm gần đây Trung Quốc đã nghiên cứu sản xuất máy đóng kiện tròn cỡ nhỏ. Công ty Tractor Implement Manufacturing Star Machinery Corp.Ltd đã cung cấp cho sản xuất hai loại máy MRB0850, MRB0870 đóng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 kiện tròn mi ni liên hợp với máy kéo công suất 13- 22 KW và 20- 30 KW. Kiện có kích thước: Đường kính 0,5 m, rộng 0,7 m; Đường kính 0,5 m, rộng 0,7 m; Hiện nay, ở các nước phát triển vẫn sử dụng đồng thời các loại máy đóng kiện vuông và kiện tròn.
Mỗi loại đều có ưu thế riêng: Máy đóng kiện vuông có thể đóng kiện với độ chặt cao (khối lượng thể tích lớn) và điều chỉnh kích thước kiện, vận chuyển và xếp kho bảo quản thuận lợi hơn. Nhưng máy có cấu tạo phức tạp, kiện phải buộc dây, chi phí năng lượng cao. Máy đóng kiện tròn có cấu tạo đơn giản, kích thước nhỏ gọn, kiện không phải buộc dây. Nhưng kiểu máy này không đóng được kiện yêu cầu có độ chặt cao và không điều chỉnh được kích thước kiện.
Tổng quan tình hình thu gom, sử dụng rơm ở nước ta (Việt Nam) 1. Tình hình sử dụng rơm Trước đây trong thời kỳ sản xuất lúa mang tính chất tự cung, tự cấp cùng với công nghệ thu hoạch thủ công các hộ nông dân đều thu hoạch rơm, rạ. Rơm được phơi khô đánh đống để bảo quản sử dụng dần. Rơm rạ được sử dụng để đun nấu, lợp nhà, làm thức ăn cho trâu bò cày kéo, lót chuồng nuôi gia súc, làm phân chuồng.
Trong hơn 20 năm đổi mới, sản xuất lúa ở nước ta đã chuyển sang sản xuất lúa hàng hoá, có bước phát triển vượt bậc. So với năm 1983 diện tích trồng lúa tăng từ 5,9 triệu ha lên 7,3 triệu ha, sản lượng từ 14,500 triệu tấn tăng lên 35 triệu tấn và theo đó hàng năm có khoảng trên 30 triệu tấn rơm rạ. Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội và mức độ cơ giới hoá cao, nhưng nhu cấu sử dụng rơm rạ làm chất đốt, lợp nhà,. không còn nữa, đại bộ phận rơm không được thu gom sử dụng.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Những năm gần đây cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi bò sữa và sản xuất nấm ở các địa phương, hàng năm có vài chục ngàn tấn rơm (chủ yếu là rơm khô vụ đông xuân) được thu gom hoàn toàn bằng phương pháp thủ công để làm thức ăn thô cho bò và chất nền trồng nấm: + Rơm sử dụng làm thức ăn thô cho bò sữa Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi bò sữa ở nước ta phát triển rất nhanh.700 con năm 1995 đã tăng tới 95. Để đáp ứng nhu cầu về thức ăn, ngoài việc trồng cỏ làm thức ăn thô việc sử dụng rơm đã trở thành nhu cầu không thể thiếu. Rơm làm thức ăn thô cho bò chỉ cần thu gom phơi khô, chất đống bảo quản cho ăn dần. Với một con bò đang vắt sữa khẩu phần ăn trong khoảng 20 - 25kg/ngày, trong đó rơm lúa thường chiếm 10 - 15%.
Như vậy hàng năm cần thu gom sử dụng khoảng 70. + Rơm làm chất nền trồng nấm Việc trồng nấm được phát triển ở hầu hết các tỉnh vùng trồng lúa. Rơm được sử dụng làm chất nền để trồng các loại nấm rơm, nấm bào ngư. Việc xử lý rơm được thực hiện ở các hộ gia đình.
Như vậy, đại bộ phận rơm đã không được thu gom. Việc xử lý rơm không thu gom ở các vùng sản xuất lúa chính ở nước ta có những đặc điểm khác nhau phụ thuộc vào quy mô sản xuất, mùa vụ thời tiết khí hậu và phương pháp thu hoạch hiện nay [2]. Phương pháp xử lý rơm không thu gom ở các vùng sản xuất chính ở nước ta cũng có những đặc điểm khác nhau do quy mô sản xuất của hộ gia đình, mùa vụ, thời tiết khí hậu và phương pháp thu hoạch hiện nay. Ở vùng ĐBSH: Qui mô sản xuất nhỏ (khoảng 3 - 4 sào/hộ).
Thu hoạch bằng phương pháp gặt vận chuyển thủ công. Đập lúa hầu hết bằng máy đập lúa liên hoàn được thực hiện trên đường, bờ mương, vì vậy rơm phun thành LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 từng đống nhỏ. Vụ mùa, rơm khô được xử lý bằng cách đốt đống. Vụ chiêm, thường để rơm tự huỷ gây ra ách tắc kênh mương, ô nhiễm môi trường.
Rơm rạ để lại trên đồng được cày bừa và lấp làm phân xanh. Ở vùng ĐBSCL: Qui mô sản xuất hộ gia đình lớn hơn (một vài hecta/hộ), thu hoạch chủ yếu hiện nay bằng phương pháp hai giai đoạn, gặt bằng tay hoặc máy gặt rải hàng, lúa được đập ngay trên đồng bằng máy đập liên hợp năng suất lớn, rơm được phun thành những đống lớn. Trong một vài năm gần đây phương pháp thu hoạch một giai đoạn bằng máy gặt đập liên hợp bắt đầu phát triển, hiện nay có khoảng 1000 máy. Trong vài năm tới, do tình trạng khan hiếm lao động nông thôn việc ứng dụng máy liên hợp thu hoạch lúa sẽ tăng nhanh có thể thu hoạch tới 10% diện tích.
Với phương pháp thu hoạch bằng máy gặt đập liên hợp, rơm được phun rải trên đồng. Vụ đông xuân thu hoạch lúa khô, rơm được phun rải trên đồng phơi khô để đốt cùng gốc rạ. Vụ hè thu rơm ướt, rơm rạ trên đồng được các máy làm đất nhấn xuống bùn làm phân xanh. Tình hình sử dụng và xử lý rơm rạ trên đây cho thấy việc thu gom, sử dụng rơm rạ ở nước ta hiện nay vừa lãng phí nguồn tài nguyên có giá trị vừa gây ô nhiễm môi trường.
Giải quyết vấn đề này thực sự là một yêu cầu bức xúc, có ý nghĩa kinh tế, xã hội và môi trường. Một số kết quả nghiên cứu sử dụng rơm rạ trong những năm gần đây. - Sử dụng rơm rạ làm phân bón [3,4]. Trước đây việc sử dụng rơm rạ làm phân xanh, phân chuồng để bón cho lúa đã được ứng dụng rộng rãi ở nước ta nhất là các tỉnh phía Bắc.
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học nông nghiệp hàng đầu ở nước ta về phương pháp chế biến, sử dụng và hiệu quả của các loại phân này. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Trong 20 năm trở lại, cùng với sự phát triển của sản xuất lúa hàng hoá, nhằm nâng cao năng suất và sản lượng, nông dân đã chuyển sang dùng nhiều phân hoá học. Hàng năm nước ta đã sử dụng hàng triệu tấn phân hoá học và chủ yếu là nhập khẩu. Việc sử dụng phân hoá học, cũng như rơm rạ không được thu gom, đốt trên đồng đã gây ra nhiều tác động xấu như làm thoái hoá đất trồng, ô nhiễm môi trường… Vì vậy việc xử lý rơm rạ làm phân hữu cơ đã được các địa phương và các cơ quan khoa học quan tâm nghiên cứu.