Tổng quan nghiên cứu

Khu vực Tây Bắc Việt Nam sở hữu địa hình hiểm trở với hơn 85% diện tích là núi cao chia cắt sâu, đồng thời là nơi giao cắt của nhiều cấu trúc địa chất phức tạp. Đới đứt gãy Mường La - Bắc Yên là đứt gãy kiến tạo bậc II có quy mô lớn, kéo dài khoảng 114 km từ xã Tà Gia thuộc huyện Than Uyên chạy về phía Đông Nam qua các huyện Mường La, Bắc Yên đến huyện Phù Yên thuộc tỉnh Sơn La. Về mặt cấu trúc mảng, đới đứt gãy này đóng vai trò ranh giới chuyển tiếp trọng yếu giữa khối nâng Tú Lệ ở cánh Đông Bắc và trũng sụt võng Sông Đà ở cánh Tây Nam.

Trong giai đoạn Tân kiến tạo và Hiện đại, đới đứt gãy Mường La - Bắc Yên thể hiện mức độ hoạt động địa động lực rất tích cực. Lịch sử địa chấn khu vực từng ghi nhận nhiều tai biến nghiêm trọng, tiêu biểu là trận động đất Tạ Khoa năm 1991 có độ lớn M = 4,8 gây chấn động cấp 6 đến cấp 7 thang MSK và trận động đất Bắc Yên năm 2009 đạt độ lớn M = 3,9. Những sự kiện rung chấn này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của hơn 400.000 cư dân sinh sống trên địa bàn 8 huyện vùng dự án mà còn tiềm ẩn nguy cơ tác động tới các công trình năng lượng quốc gia trọng điểm nằm liền kề.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là làm sáng tỏ bản chất hình thái học, cơ chế biến dạng động học hiện đại, tính phân đoạn cấu trúc và quy luật phân bố hoạt động địa chấn của đới đứt gãy Mường La - Bắc Yên. Trên cơ sở chuỗi số liệu quan trắc từ năm 1900 đến tháng 10 năm 2011 cùng dữ liệu gia tăng vi chấn sau khi hồ thủy điện Sơn La tích nước lên cao trình 215 m, luận văn tiến hành đánh giá nguy cơ động đất kích thích và dự báo độ lớn động đất cực đại có thể xảy ra. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ chuẩn xác cho công tác phân vùng rủi ro địa chấn và đảm bảo an toàn tuyệt đối cho Nhà máy Thủy điện Sơn La có công suất 2400 MW cùng Thủy điện Huổi Quảng có công suất 520 MW.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết kiến tạo mảng hiện đại kết hợp mô hình biến dạng đẩy trượt Kainozoi khu vực Đông Nam Á của nhóm nghiên cứu Tapponnier. Mô hình này chỉ rõ sự đụng độ giữa lục địa Ấn Độ và mảng Á - Âu đã làm biến dạng thạch quyển, gây ra chuyển dịch trượt bằng dọc các đứt gãy lớn và làm xoay khối Indosini theo chiều kim đồng hồ khoảng 24 ± 12 độ. Kết hợp với đó là lý thuyết hồi phục biến dạng đàn hồi của Reid, giải thích cơ chế tích tụ ứng suất dọc ranh giới các khối kiến tạo bất đồng nhất và phát sinh động đất khi vượt quá giới hạn bền của đất đá.

Nghiên cứu làm rõ 5 khái niệm chuyên ngành nền tảng gồm: chuyển động kiến tạo hiện đại hình thành từ kỷ Holocen; đới đứt gãy trượt bằng phải kết hợp nghịch; trường ứng suất kiến tạo với trục nén ép cực đại phương á kinh tuyến; cơ cấu chấn tiêu trong đới chuyển tiếp dòn - dẻo ở độ sâu 10 đến 25 km; và hiện tượng động đất kích thích hồ chứa sinh ra do tải trọng nước cùng sự gia tăng áp lực nước lỗ rỗng làm suy giảm sức kháng cắt của mặt trượt.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu được xây dựng từ hệ thống tài liệu đa nguồn gồm: mô hình số độ cao SRTM độ phân giải 30 m của NASA, ảnh vệ tinh viễn thám quang học độ phân giải cao ASTER, không ảnh tỷ lệ 1:33.000, hệ thống 4 tờ bản đồ địa chất và khoáng sản tỷ lệ 1:200.000 (gồm các tờ Mường Kha - Sơn La, Phong Sa Lỳ - Điện Biên Phủ, Yên Bái, Vạn Yên) và danh mục động đất lưu trữ tại Viện Vật lý Địa cầu.

Cỡ mẫu địa chấn gồm toàn bộ 112 trận động đất ghi nhận trong giai đoạn từ năm 1900 đến tháng 10 năm 2011 trên phạm vi tọa độ đới đứt gãy, kết hợp đo vẽ thực địa chi tiết tại 15 điểm lộ địa chất cấu trúc đặc trưng dọc tuyến Mường La - Bắc Yên. Phương pháp chọn mẫu áp dụng là chọn mẫu địa chất đại diện theo tuyến cắt ngang các thành tạo cổ từ Đevon đến Kainozoi và chọn mẫu toàn bộ các chấn tâm địa chấn có tọa độ chuẩn hóa.

Lý do lựa chọn tích hợp phương pháp giải đoán viễn thám, phân tích biến dạng địa mạo và thống kê phân bố cực trị Gumbel kết hợp mô hình thực nghiệm của Donald L. Wells - Kevin J. Coppersmith (năm 1994) và Nguyễn Đình Xuyên (năm 1996) là nhằm chuẩn hóa mối tương quan định lượng giữa chiều dài đoạn đứt gãy hoạt động (114 km) với năng lượng giải phóng động đất cực đại. Cách tiếp cận này giúp khắc phục triệt để hạn chế của chuỗi dữ liệu lịch sử địa chấn đo bằng máy vốn có thời gian quan trắc ngắn hơn chu kỳ lặp lại của đứt gãy bậc II.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, đới đứt gãy Mường La - Bắc Yên có tổng chiều dài 114 km, được phân chia thành 2 phân đoạn cấu trúc rõ rệt với cơ chế trượt bằng phải kết hợp nghịch. Đoạn phía Tây Bắc từ xã Tà Gia đến xã Chim Vàn kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam, mặt trượt cắm dốc đứng từ 70 đến 85 độ; đoạn phía Đông Nam từ xã Chim Vàn qua huyện Bắc Yên đến xã Gia Phù chuyển hướng sang á vĩ tuyến. Hoạt động trượt bằng phải trong giai đoạn Đệ tứ đã làm xê dịch ngang các thung lũng sông suối như suối Sập, sông Nậm Mu với biên độ uốn lệch địa mạo đo đạc được từ 150 m đến 500 m.

Thứ hai, hoạt động địa chấn lịch sử phản ánh tính phân dị mạnh mẽ theo không gian và độ sâu. Khoảng 80% chấn tâm động đất tập trung tại các nút giao cắt kiến tạo và đoạn uốn cong đổi phương đứt gãy. Chấn tiêu phân bố chủ yếu ở độ sâu từ 5 km đến 15 km trong tầng vỏ kết tinh trên, tiêu biểu là chấn tiêu trận động đất Tạ Khoa năm 1991 nằm ở độ sâu 7 km với M = 4,8.

Thứ ba, sự kiện tích nước hồ chứa thủy điện Sơn La lên cao trình 215 m trong giai đoạn từ tháng 11 năm 2011 đến tháng 01 năm 2012 đã làm gia tăng đột biến tần suất xuất hiện các chấn động vi mô. Số lượng vi động đất có độ lớn M dưới 3,0 ghi nhận trong khu vực lòng hồ tăng hơn 300% so với tần suất nền trung bình trước thời điểm tích nước.

Thứ tư, tính toán định lượng chấn cấp cực đại tiềm năng trên cơ sở chiều dài phân đoạn đứt gãy cho thấy giá trị cực đại có khả năng phát sinh dao động trong khoảng từ 5,7 đến 6,1 Richter. Trong kịch bản cực hạn khi toàn bộ chiều dài 114 km bị phá hủy đồng thời, độ lớn chấn cấp tối đa có thể đạt ngưỡng 6,3 Richter.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự tập trung ứng suất và giải phóng năng lượng dạng động đất dọc đới đứt gãy Mường La - Bắc Yên bắt nguồn từ trường ứng suất kiến tạo hiện đại khu vực Đông Nam Á với trục nén ép cực đại phương á kinh tuyến (Bắc - Nam). Dưới tác động của trường lực này, các cấu trúc phương Tây Bắc - Đông Nam bị cưỡng bức trượt bằng phải. Sự tương phản độ cứng giữa khối nâng Tú Lệ cấu tạo từ đá núi lửa ryolit hệ tầng Suối Bé dày 1350 đến 1550 m với trũng sụt Sông Đà gồm đá trầm tích lục nguyên, đá vôi hệ tầng Mường Trai dày 1600 đến 2100 m đã tạo nên điều kiện kẹp giữ ứng suất lý tưởng.

Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua sơ đồ phân bố chấn tâm dạng tuyến dọc theo các mặt cắt địa chất tỷ lệ 1:200.000, kết hợp đồ thị hồi quy lặp lại động đất logN = a - bM thể hiện hệ số b đặc trưng cho độ dòn thạch quyển. Bên cạnh đó, bảng tổng hợp phân đoạn kiến tạo phản ánh mối tương quan thuận giữa chiều dài phân đoạn từ 30 km đến 114 km với các mức độ chấn cấp cực đại tương ứng từ 5,2 đến 6,3 Richter.

So sánh với các nghiên cứu tiền đề trên đới đứt gãy Sông Hồng và đới đứt gãy Điện Biên Phủ, đới Mường La - Bắc Yên có tốc độ tích lũy biến dạng chậm hơn nhưng mức độ dập vỡ kiến tạo tại các họng phun trào cổ lại khiến nguy cơ phát sinh động đất kích thích cao hơn khi môi trường thủy văn thay đổi.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cấp mạng lưới quan trắc địa chấn số hóa tự động xung quanh khu vực lòng hồ thủy điện Sơn La và đới đứt gãy Mường La - Bắc Yên từ 4 trạm hiện hữu lên tối thiểu 8 trạm cố định kết hợp 4 trạm đo biến dạng liên tục; mục tiêu phát hiện và định vị chính xác 100% các rung chấn có độ lớn M từ 1,5 trở lên; thời gian hoàn thiện trong vòng 12 tháng; chủ thể thực hiện là Viện Vật lý Địa cầu phối hợp cùng Tập đoàn Điện lực Việt Nam.

Thứ hai, rà soát và điều chỉnh hệ số gia tốc nền thiết kế kháng chấn cho toàn bộ các công trình thủy công, đập tràn và tuyến năng lượng của Thủy điện Sơn La (2400 MW) cùng Thủy điện Huổi Quảng (520 MW) từ cấp VII lên cấp VIII thang MSK tương ứng với kịch bản động đất cực đại 6,3 Richter; thời gian thực hiện trong 18 tháng; cơ quan chủ trì là Bộ Công Thương và Ban Quản lý Dự án Thủy điện Sơn La.

Thứ ba, thiết lập quy trình điều tiết tích nước và xả lũ hồ chứa linh hoạt, kiểm soát tốc độ dâng mực nước hồ không vượt quá 0,5 mét trong 24 giờ nhằm hạn chế tốc độ khuếch tán áp lực nước lỗ rỗng vào các đới dập vỡ kiến tạo ngầm; áp dụng liên tục từ quý II năm 2013; đơn vị vận hành trực tiếp là Công ty Thủy điện Sơn La.

Thứ tư, triển khai chương trình cắm mốc cảnh báo hành lang an toàn tai biến trượt lở nứt đất dọc 114 km tuyến đứt gãy, đồng thời tổ chức diễn tập ứng phó động đất định kỳ cho 100% cán bộ cơ sở và hơn 50.000 người dân tại các xã trọng điểm thuộc 3 huyện Mường La, Bắc Yên và Phù Yên; lộ trình thực hiện từ năm 2013 đến năm 2016; do Ủy ban Nhân dân tỉnh Sơn La chỉ đạo thực hiện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm kỹ sư tư vấn thiết kế và quản lý công trình thủy điện: Tiếp cận các thông số định lượng về gia tốc nền cực đại và chấn cấp tiềm năng để tối ưu hóa kết cấu bê tông đập dâng cao trên 138 m, đảm bảo an toàn tuyệt đối trước các xung chấn kích thích bất thường.

Nhóm chuyên gia nghiên cứu địa chất cấu trúc và địa chấn học: Khai thác phương pháp luận tích hợp giữa phân tích ảnh viễn thám DEM độ phân giải 30 m, cơ chế dịch trượt địa mạo và giải bài toán phân bố cực trị Gumbel phục vụ đánh giá các đới đứt gãy hoạt động nội mảng khác tại Việt Nam.

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và quy hoạch đô thị tỉnh Sơn La, Lai Châu, Yên Bái: Ứng dụng bản đồ phân đoạn đứt gãy và sơ đồ tai biến địa chất tỷ lệ 1:200.000 để định hướng quy hoạch mạng lưới giao thông, bố trí các điểm tái định cư và xây dựng phương án phòng chống rủi ro thiên tai cấp tỉnh.

Nhóm giảng viên, học viên sau đại học và sinh viên chuyên ngành Khoa học Trái đất: Sử dụng luận văn làm tài liệu học thuật chuyên sâu về kỹ thuật phân tích trường ứng suất nứt nẻ, thạch luận magma Kainozoi vùng Tú Lệ và quy trình xử lý chuỗi số liệu vi địa chấn.

Câu hỏi thường gặp

Đới đứt gãy Mường La - Bắc Yên có thể gây ra động đất mạnh nhất là bao nhiêu độ Richter? Theo các mô hình tính toán thực nghiệm dựa trên kích thước hình học phân đoạn và chuỗi số liệu cực trị, đới đứt gãy có khả năng phát sinh động đất cực đại từ 5,7 đến 6,1 Richter. Trong kịch bản phá hủy cực hạn toàn bộ chiều dài 114 km, rung chấn tối đa có thể đạt khoảng 6,3 Richter.

Hiện tượng tích nước hồ thủy điện Sơn La ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động động đất? Việc tích nước lên cao trình 215 m làm gia tăng tải trọng tĩnh của cột nước và đẩy nhanh quá trình khuếch tán áp lực nước lỗ rỗng vào các đới đá nứt nẻ. Hiện tượng này làm giảm độ bền kháng cắt của mặt trượt đứt gãy, dẫn đến tần suất vi động đất dưới 3,0 độ Richter tăng hơn 300% sau tích nước.

Tại sao động đất trên đới đứt gãy này lại tập trung chủ yếu ở độ sâu từ 5 đến 15 km? Độ sâu từ 5 đến 15 km tương ứng với tầng vỏ kết tinh trên, nơi môi trường đất đá có tính chất cơ lý giòn và đồng nhất cao. Vùng này tích lũy năng lượng biến dạng đàn hồi tối đa dưới trường ứng suất nén ép phương Bắc - Nam trước khi xảy ra hiện tượng đứt vỡ giải phóng năng lượng đột ngột.

Những dấu hiệu địa mạo nào chứng minh đứt gãy vẫn đang hoạt động trong thời kỳ Hiện đại? Hoạt động hiện đại thể hiện rõ nét qua các vách trượt dốc đứng, sự phát triển liên tục của các facet tam giác kiến tạo, các đới đá vôi bị dập vỡ cà nát dạng dăm tại đèo Co Khét và hiện tượng dòng chảy suối Sập, sông Nậm Mu bị uốn cong dịch chuyển ngang từ 150 đến 500 m.

Phương pháp nào được sử dụng để tính toán chu kỳ lặp lại của động đất trong luận văn? Luận văn sử dụng phương pháp thống kê hàm phân bố cực trị Gumbel kết hợp định luật thực nghiệm Gutenberg - Richter trên chuỗi số liệu 112 trận động đất giai đoạn 1900 - 2011 để xác lập tương quan tần suất xuất hiện với độ lớn chấn cấp của từng chu kỳ địa chấn.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập chi tiết đặc điểm hình học, cấu trúc phân đoạn và bản chất động học trượt bằng phải kết hợp nghịch của đới đứt gãy Mường La - Bắc Yên dài 114 km.
  • Làm sáng tỏ quy luật phân bố chấn tiêu động đất tập trung chủ yếu ở độ sâu 5 đến 15 km dọc ranh giới giữa khối nâng Tú Lệ và trũng Sông Đà.
  • Đánh giá định lượng độ lớn động đất cực đại tiềm năng dao động trong khoảng từ 5,7 đến 6,1 Richter, đạt mức cực hạn 6,3 Richter khi xảy ra phá hủy toàn phần.
  • Chứng minh và cảnh báo nguy cơ xuất hiện động đất kích thích sau khi hồ thủy điện Sơn La tích nước lên cao trình thiết kế 215 m.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp công trình và phi công trình đồng bộ nhằm giám sát địa chấn và bảo đảm an toàn cho chuỗi thủy điện sông Đà.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp cơ sở dữ liệu địa động lực và thông số vi địa chấn chính xác phục vụ thiết kế kháng chấn các siêu công trình năng lượng quốc gia.

Kế hoạch tiếp theo cần tập trung mở rộng mạng lưới trạm GPS đo chuyển dịch hiện đại liên tục chu kỳ 2013 - 2020 để cập nhật vận tốc tích lũy biến dạng mặt đất.

Các cơ quan quản lý và đơn vị vận hành thủy điện cần khẩn trương tích hợp các thông số nguy cơ địa chấn của luận văn vào quy trình vận hành hồ đập và kế hoạch phòng ngừa rủi ro thiên tai khu vực Tây Bắc.