ĐẶT VẤN ĐỀ Bìm ba răng (BBR) – Merremia tridentata (L.) thuộc họ Khoai lang - Convolvulaceae. Phân bố rộng từ Nam Trung Bộ đến Tây Nam Bộ. Cây có vị đắng, se. Ở Ấn Độ, cây và rễ sắc uống dùng chữa thấp khớp, liệt nửa người, trĩ, sưng phù và các rối loạn đường tiết niệu.
Ở Campuchia, nhân dân một số nơi sử dụng toàn cây để chế một loại thuốc dùng trị đau mình mẩy. Ở Việt Nam, nhân dân sử dụng BBR phối hợp với các vị thuốc khác dùng chữa sốt rét và chữa ban xuất huyết. Thành phần hóa học chính trong phần cây trên mặt đất của BBR là flavonoid, polyphenol, saponin. Các công trình nghiên cứu trên thế giới cho thấy BBR có một số tác dụng sinh học như chống oxy hóa, giảm đau, kháng viêm, làm lành vết thương.
Các tác dụng này có được chủ yếu là nhờ nhóm flavonoid [5]. Năm 2019, nhóm tác giả đã xác định được một số flavonoid có mặt trong BBR như apigenin, luteolin, quercitrin, apigetrin, cynarosid, trong đó cynarosid là chất có hàm lượng cao nhất [4]. Năm 2020, BBR được chứng minh có tác dụng hạ đường huyết trên mô hình chuột gây tăng đường huyết bằng alloxan [3]. Với các tác dụng dược lý đã được chứng minh cho thấy BBR có tiềm năng lớn để ứng dụng vào trị liệu.
Tuy nhiên, những nghiên cứu về độc tính của cao toàn phần BBR phân bố tại Việt Nam chưa được thực hiện. Để dược liệu BBR được sử dụng an toàn và hiệu quả. Đề tài: “Nghiên cứu độc tính cấp và độc tính bán trường diễn của cao toàn phần Bìm ba răng (Merremia tridentata L.)” được thực hiện với mong muốn làm rõ về tính an toàn của BBR trên cơ thể sống để tạo cơ sở cho việc ứng dụng cao toàn phần BBR trong định hướng hỗ trợ điều trị bệnh đái tháo đường. Đề tài được thực hiện với các mục tiêu sau: - Chiết cao từ dược liệu BBR; - Đánh giá một số tiêu chuẩn của cao BBR; - Xác định độc tính cấp của cao BBR trên chuột nhắt; - Xác định độc tính bán trường diễn của cao BBR trên chuột nhắt.
2 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 2. TỔNG QUAN VỀ DƯỢC LIỆU BÌM BA RĂNG 2. Mô tả thực vật Tên Việt Nam: Bìm ba răng, Dây lưỡi đòng,dây Thuyền chài Tên khoa học: Merremia tridentata L. Theo hệ thống phân loại của Armen Takhtajan, cây BBR có vị trí sắp xếp như sau: Hình 2.
Vị trí phân loại loài Merremia tridentata L. Theo sách Từ điển cây thuốc Việt Nam xuất bản năm 2018, TS. Võ Văn Chi mô tả BBR: cây leo thuộc thảo, không quấn. Thân mịn, không lông.
Lá hẹp, gốc hình tim và có 2 tai ở hai bên, mỗi tai có 3 răng. Cụm hoa gồm 1-2 hoa. Hoa màu vàng sữa, với trung tâm đỏ; lá đài bằng nhau; nhị dính gần gốc. Quả nang cao 7 mm.
Hạt không có lông [8]. Bìm ba răng theo từ điển cây thuốc Việt Nam. Bìm ba răng (Merremia tridentata L. Phân bố sinh thái Cây mọc rải rác ven rừng, ven đường, trên sân cỏ, trên cát từ vùng thấp đến độ cao 500 m.
Ra hoa hầu như quanh năm. Phân bố ở Việt Nam, có gặp từ Cao Bằng, Quảng Ninh, Bắc Giang, Hải Phòng, Ninh Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng vào Khánh Hòa, thành phố Hồ Chí Minh. Còn có ở Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Indonesia [8]. Thành phần hóa học BBR được báo cáo có chứa một số flavonoid quinon, phenolic acids, tanins, saponins, p-hydroxy benzoic acid, vanillic acid, và syringic acid [15].
Theo một nghiên cứu khác cho thấy sự hiện diện của ergosin phân lập từ hạt và các pyrolidin alkaloid như hygrin và nicotin phân lập từ rễ và phần trên mặt đất của BBR [17]. Arunachalam và cộng sự (2012), dùng phương pháp sắc ký lớp mỏng, đã chỉ ra rằng có sự tồn tại của sáu hợp chất phenol và hai hợp chất flavonoid trong dịch chiết aceton từ rễ cây BBR [14]. Một nghiên cứu, đã phân lập được 5 flavonoid, trong đó có 3 flavonoid lần đầu tiên được 4 phân lập từ dược liệu BBR đó là apigenin, quercitin-3-O-L-rhamnosid (quercitrin) và apigenin-7-O-β-D-glucosid (apigetrin); 2 flavonoid còn lại là luteolin và luteolin-7-O- D-glycosid (cynarosid) [4]. Từ đó có thể thấy flavonoid là nhóm chất chính hiện diện trong cây.
Đánh giá một số tiêu chuẩn của cao BBR. Luteolin-7-O-D-glycosid Quercitin-3-O-L-rhamnosid Apigenin-7-O-β-D-glucosid Luteolin Apigenin Hình 2. 5 flavonoid được phân lập từ BBR 2. Tác dụng dược lý Dược liệu BBR đã được ứng dụng rất rộng rãi trong y học dân gian trong và ngoài nước, sử dụng như một bài thuốc dân gian từ rất xa xưa.
Ở Ấn Độ, BBR được dùng để chữa thấp khớp, liệt nửa người, trĩ; người dân Campuchia dùng BBR để chữa đau nhức xương khớp [8]. Ở Nigeria, BBR được dùng để chữa bệnh lậu; ở một số vùng của Châu Phi, người dân dùng nước ngâm của lá BBR để chống nọc độc của rắn; BBR còn là thành phần trong nước sắc để súc miệng chống nhiễm khuẩn Candida ở miệng và ống tiêu hóa tại Togo; ở Malaysia, người dân dùng lá BBR đắp lên đầu khi bị sốt. BBR còn được sử 5 dụng làm thức ăn bổ sung protein cho cừu lùn Tây Phi [9]. Ở nước ta, nhân dân An Giang sử dụng BBR phối hợp với các vị thuốc khác dùng chữa sốt rét và chữa ban xuất huyết, người Bình Định sử dụng lá tươi BBR để trị bệnh dời leo.
Từ những tác dụng theo dân gian, các nhà khoa học cũng đã nghiên cứu bằng thực nghiệm và cho những kết quả rất khả quan về tác dụng sinh học của BBR [8]. Tác dụng giảm đau, kháng viêm Năm 2013, Mohamed, S. chiết xuất Soxhlet bột dược liệu BBR bằng ete dầu hỏa, chloroform, acetone, và methanol. Các dịch chiết sau đó được cô đặc bằng máy cô quay chân không.
Các cắn được hòa tan lại với dung môi tương ứng để được nồng độ 1 mg/ml và mang đi thử tác dụng giảm đau trên mô hình “hot plate test” và “Writhing test” trên chuột, thử tác dụng kháng viêm trên mô hình phù chân cấp gây ra bởi histamin trên chuột nhắt. Kết quả cho thấy dịch chiết acetone của rễ M. tridentata cho tác dụng giảm đau và kháng viêm tốt nhất. Bằng phương pháp HPTLC phát hiện được 6 hợp chất phenolic và 2 hợp chất flavonoid trong dịch chiết acetone [4].
Năm 2015, Ganesan, V và các cộng sự cũng đã nghiên cứu tổng hợp các hạt nano bạc bằng cách sử dụng dịch chiết từ lá của BBR [16]. Syed Ismail tiến hành chiết bột dược liệu BBR với petroleum ether, benzen, cloroform, ethanol và nước. Thử tác dụng kháng viêm của các dịch chiết với 2 mô hình là gây phù bởi Carrageenan trên chuột và gây viêm khớp bởi chất phụ trợ của Freund. Indomethacin (10 mg/kg) được sử dụng làm thuốc đối chứng.
Kết quả, các dịch chiết cồn của BBR đã cho thấy tác động đáng kể trong thử nghiệm viêm cấp tính, ở liều 100 mg/kg và 200 mg/kg dẫn đến sự ức chế tương ứng là 38,3% và 42,8% sau 3 giờ so với thuốc chứng là 48,5%. Trong mô hình viêm khớp, dịch chiết ethanol với liều 100 mg/kg và 200 mg/kg cho thấy sự ức chế tương ứng là 49% và 51,7% sau 19 ngày khi so sánh với thuốc đối chứng (55,5%). Cả hai liều dịch chiết cồn của M. tridentata đều cho tác dụng kháng viêm và điều trị viêm khớp rất tốt [18].
Tác dụng chống oxy hóa, chống loét, làm lành vết thương Năm 2010, Kandhasamy Sowndhararajan, Jince Mary Joseph, Karuppusamy Arunachalam, Sellamuthu Manian, tiến hành nghiên cứu thành phần polyphenol và thử tác dụng chống oxy hóa từ các dịch chiết của BBR. Kết quả cho thấy dịch chiết aceton 6 của rễ và dịch chiết bằng nước nóng của phần trên mặt đất chứa hàm lượng polyphenol cao và cho tác dụng chống oxy hóa rất rõ [18]. Chin sử dụng rễ tươi của BBR ngâm 3 lần với acetone ở nhiệt độ phòng, rút dịch chiết aceton và bốc hơi thu được cao aceton, bã còn lại tiếp tục chiết với nước, ether dầu hỏa, ethyl acetate, n-butanol, các dịch chiết được cô bằng máy cô quay chân không. Thử tác dụng chống oxy hóa trên mô hình chứa DPPH và mô hình kiểm tra ABTS+.
Kết quả cho thấy dịch chiết ethyl acetate cho tác dụng chống oxy hóa rất tốt [23]. Thử tác dụng chống loét trên chuột bị gây loét bởi ethanol, nồng độ enzym chống oxy hóa của superoxid effutase, catalase và glutathion trong các mô dạ dày đã tăng đáng kể, cho thấy rễ cây BBR có khả năng ngăn ngừa loét dạ dày gây ra bởi ethanol [22]. Năm 2018, theo nghiên cứu của Anitha P. Ambika và Sreesha N.
Nair, BBR có khả năng phục hồi vết mổ, vết cắt và vùng tổn thương trên chuột nhắt trắng. Trên mô hình có vết mổ dài 6 cm với bề dày vết thương là 1,5 cm đã hình thành nên một tổn thương có diện tích là 500 mm2. Điều này tạo một khoảng không gian đủ rộng để ghép các trụ thuỷ tinh tiệt trùng giữa nách và háng, nhằm thúc đẩy việc hình thành các mô hạt và đánh giá sự co kéo giữa các mô. Những chuột được điều trị với ether, butanon hoặc những phần tử hỗn dịch ethyl acetat BBR trong Tween-80 được so sánh với nhóm chuột được kiểm soát.
Cho thấy sự co kéo giữa các mô trên mẫu ethyl acetat BBR đóng vai trò rất quan trọng trong việc làm lành vết thương [10]. Tác dụng hạ đường huyết Năm 2012, Arunachalam, K. Parimelazhagan sử dụng bột rễ của BBR ngâm với nước cất trong 48 giờ ở nhiệt độ phòng, sau đó lọc và lấy dịch. Dùng dịch chiết BBR đường uống ở liều 50 mg/kg, 100 mg/kg và 150 mg/kg cho chuột bình thường, chuột dung nạp glucose và chuột ĐTĐ gây ra bởi streptozocin, mô hình sử dụng glibenclamid (10 mg/kg) làm thuốc đối chứng.
Kết quả cho thấy nồng độ glucose huyết giảm đáng kể ở các lô chuột trên (glucose huyết giảm nhiều hơn ở liều 100 mg/kg và liều 150 mg/kg); có sự gia tăng đáng kể nồng độ insulin trong huyết thanh, trọng lượng cơ thể tăng và hàm lượng glycogen chứa trong gan và cơ tăng; trong khi đó, ở mô hình chuột ĐTĐ gây ra bởi streptozocin có sự giảm đáng kể nồng độ triglycerid huyết và cholesterol toàn phần [14]. 7 Năm 2020, Nguyễn Thị Thùy Trang, Nguyễn Dương Ngọc Thới đã tiến hành nghiên cứu tác dụng hạ đường huyết của cao BBR (Merremia tridentata L.) trên mô hình chuột gây tăng đường huyết bằng alloxan. Kết quả tác động hạ đường huyết của cao nước và cồn từ rễ và thân BBR ở liều 100 mg/kg cho thấy cao T/N và T/C cây BBR có cho tác dụng hạ đường huyết, liều 50 mg/kg cao thân nước BBR cũng cho tác dụng hạ đường huyết nhưng không tốt bằng liều 100 mg/kg [3]. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 2.