Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm xử lý gỗ bằng phương pháp nhiệt - cơ Xử lý gỗ bằng phương pháp nhiệt - cơ là kỹ thuật làm tăng mật độ hay nói cách khác là tăng khối lượng riêng của gỗ dưới tác động của nhiệt độ, độ ẩm và nén cơ học [26]. Trong quá trình nén ép, gỗ được gia ẩm, gia nhiệt để đạt trạng thái dẻo khi nhiệt độ gỗ lớn hơn trị số nhiệt độ chuyển trạng thái (Tg) sau đó được nén cơ học với mức độ nén nhất định. Yêu cầu của gỗ xử lý bằng phương pháp nhiệt - cơ là tăng độ bền cơ học, tăng độ ổn định kích thước song không làm phá huỷ cấu trúc gỗ và mức độ đàn hồi trở lại nhỏ nhất [67].
Như vậy, xử lý nhiệt - cơ học cũng là một giải pháp để chuyển đổi các loại gỗ mềm và xốp thành các loại cứng hơn và đặc hơn, có thể được sử dụng trong các trường hợp cần độ bền lớn hơn. Độ bền cơ học tăng cũng là yếu tố góp phần tăng độ bền sinh học. Kỹ thuật tăng khối lượng riêng của gỗ có hai phương thức: Tăng khối lượng riêng cho toàn bộ khối gỗ và tăng khối lượng riêng cho phần bề mặt của khối gỗ. Phương thức nén gỗ với mục tiêu chỉ tăng khối lượng riêng phần bề mặt đã được nhiều tác giả nghiên cứu thành công.
Với công nghệ này, các loại gỗ có khối lượng riêng thấp sau khi nén tăng khối lượng riêng bề mặt, độ cứng, độ bền cơ học, độ nhẵn bề mặt được tăng lên rõ rệt. Sản phẩm gỗ nén ép bề mặt được sử dụng để sản xuất ván sàn, mặt bàn… [59]. Phương thức tăng khối lượng riêng cho toàn bộ khối gỗ được sử dụng tạo gỗ và sản phẩm gỗ dùng trong xây dựng, các chi tiết đồ mộc và nội thất chịu lực. Phương thức này có nhược điểm là tổn hao khối lượng gỗ lớn (lượng gỗ phôi/ lượng gỗ sau biến tính).
Để khắc phục hiện tượng này, một số công trình nghiên cứu đã tạo gỗ ghép kết cấu tổ hợp, bằng cách dán ép các tấm gỗ nén lên bề mặt của tấm gỗ không nén ép, sản phẩm tạo ra có độ bền cơ học được cải thiện đáng kể trong khi khối lượng riêng trung bình của sản phẩm không quá cao. Tổng quan về nghiên cứu xử lý gỗ bằng phương pháp nhiệt – cơ Xử lý nhiệt - cơ giúp cải thiện đáng kể độ bền của gỗ. Đặc biệt gỗ xử lý nhiệt - cơ rất thân thiện với môi trường. Với những ưu điểm mà nó mang lại, xử lý nhiệt – cơ cho gỗ đã được các nhà khoa học trên thế giới cũng như Việt Nam quan tâm nghiên cứu.
Tình hình nghiên cứu ngoài nước Biến tính gỗ đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và đưa vào ứng dụng trong nhiều lĩnh vực công nghiệp tại nhiều nước trên thế giới. Các tham số chủ yếu của công nghệ biến tính nhiệt - cơ, gồm: Nhiệt độ, độ ẩm, thời gian hoá dẻo và chế độ nén ép (nhiệt độ, tỷ suất nén, thời gian nén), chế độ xử lý sau nén (nhiệt độ, thời gian). Nghiên cứu về hóa dẻo gỗ trước khi nén ép Nhiệt độ xử lý hoá dẻo cho gỗ là một tham số công nghệ quan trọng, để cấu trúc không bị phá huỷ khi nén ép gỗ phải được xử lý làm mềm, hoá dẻo tới nhiệt độ lớn hơn nhiệt độ để chuyển trạng thái của gỗ từ đàn hồi (rắn) sang biến dạng dẻo. Quá trình chuyển hoá này phụ thuộc vào loại gỗ, độ ẩm gỗ và nhiệt độ xử lý [27].
Tác giả đã kết luận: Nhiệt độ gỗ khi được làm nóng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng rõ nét đến trị số Tg [48]. và cộng sự (2005) nghiên cứu công nghệ hoá mềm gỗ Thông (Pinus radiata) trên máy ép nhiệt. Tác giả đã nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian hoá mềm đến trị số nhiệt độ tại các lớp khác nhau theo chiều dày ván; khi hoá mềm tấm gỗ Thông có chiều dày 40 mm, thời gian hoá mềm 25 phút, nhiệt độ tại tâm tấm ván đạt 70 oC (tương đương với Tg của gỗ), khi đó bắt đầu quá trình nén ép [24]. Bruno Esteves và cộng sự (2007) đã chứng minh, ảnh hưởng của độ ẩm và nhiệt độ khi hấp gỗ lên cấu trúc tế bào không phải là lớn, không phá huỷ vách tế bào, song có tác động đến 2 thành phần chính của vách tế bào là lignin và 5 hemicellulose.
Sự phụ thuộc của tính chất vật liệu thành tế bào vào độ ẩm và nhiệt độ được thể hiện thông qua sự đàn dẻo của vật liệu [31]. Jiali Jiang và cộng sự (2009) đã nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ hấp đến một số tính chất của gỗ Sa mộc (Cunninghamia lanceolata). Kết quả nghiên cứu cho thấy: (1) Nhiệt độ tăng làm giảm khối lượng của mẫu. Khoảng 4% và 9% khối lượng bị mất do sự thoái hóa nhiệt xảy ra sau khi gia nhiệt đẳng hướng ở 180 oC và 200 oC trong 550 phút, làm cho độ cứng của gỗ giảm 35% và 85%.
(2) Mô đun đàn hồi khi uốn tĩnh gần như không thay đổi trong quá trình xử lý ở nhiệt độ ở 25 oC và 40 oC, trong khi ở nhiệt độ lớn hơn 60 oC, và kéo dài thời gian xử lý, trị số MOE giảm rõ rệt. Kristiina Laine (2014) đã nghiên cứu quá trình hoá mềm gỗ cho mục đích nén lớp gỗ bề mặt. Tác giả cho rằng, ở điều kiện thường gỗ được coi là vật liệu cứng và dòn, nhưng khi tăng nhiệt độ hoặc tăng độ ẩm gỗ sẽ chuyển sang trạng thái dẻo và dão. Nhiệt độ chuyển trạng thái Tg của cellulose, hemicellulose và lignin là khác nhau.
Tg của gỗ khi độ ẩm cao phụ thuộc chủ yếu vào cấu trúc lignin, đặc biệt phụ thuộc vào số lượng nhóm methoxyl có khả năng tham gia phản ứng [57] 1. Nghiên cứu tác động của quá trình nén ép đến tính chất cơ lý của gỗ Trong những năm gần đây, xử lý gỗ theo phương pháp nhiệt – cơ đã được nghiên cứu và dần thương mại hoá kết quả nghiên cứu. Parviz Navi và Fred Girardet (2005) Nghiên cứu làm đặc gỗ bằng phương pháp nhiệt – cơ. Mẫu gỗ gồm: Sồi, Vân sam và Thông, được nén ép theo hướng xuyên tâm dưới hơi bão hòa ở nhiệt độ 150 °C.
Các nghiên cứu chỉ ra rằng xử lý gỗ theo phương pháp nhiệt - cơ, gỗ ít hút ẩm hơn và có các tính chất cơ lý vượt trội khi so sánh với gỗ chưa qua xử lý [68]. Oleksandr Skyba và cộng sự (2008) đã nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ ép tới chất lượng gỗ nén. Tác giả đã thực nghiệm cho 02 loại gỗ Vân sam Na Uy (Picea abies Karst.) và Dẻ gai (Fagus sylvatica L.), với 03 mức nhiệt độ 140 oC, 6 160 oC và 180 oC và thời gian ép 20 phút, tác giả đã chứng minh nhiệt độ nén ép ảnh hưởng rõ nét tới mức độ đàn hồi trở lại sau khi nén, ảnh hưởng đến độ cứng và mô đun đàn hồi của gỗ. Ở nhiệt độ ép 180 oC, độ đàn hồi trở lại của gỗ sau nén ép là nhỏ nhất [71].
Andreja Kutnar và cộng sự (2011) đã nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ ép, phương thức phun ẩm trong quá trình ép và thời gian phun ẩm đến độ đàn hồi trở lại của gỗ nén. Tác giả đã nghiên cứu nén ép cho gỗ Dương lai (Populus deltoides x Populus trichocarpa), đây là loại cây mọc nhanh có khối lượng thể tích thấp. Các mẫu được nén ép bằng cách nén cơ học dưới hơi bão hòa, hơi quá nhiệt ở nhiệt độ 150 oC, 160 oC và 170 °C. Ngoài ra, tác giả cũng nghiên cứu nén gỗ dưới điều kiện hơi nước bão hòa ở 170 °C, sau đó là xử lý sau khi gia nhiệt ở 200°C trong 1 phút, 2 phút và 3 phút để xác định ảnh hưởng của phương pháp nén đối với độ đàn hồi trở lại.
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Các mẫu được nén dưới điều kiện hơi bão hòa bão có lượng phục hồi nhỏ nhất, trong khi các mẫu được nén dưới hơi quá nhiệt có lượng hồi phục lớn nhất ở tất cả các nhiệt độ được kiểm tra sau chu kỳ ngâm - sấy đầu tiên [25]. Todaro và cộng sự (2012) đã nghiên cứu ảnh hưởng của tham số chế độ ép đến độ ổn định kích thước của gỗ Sồi. Tác giả đã thực nghiệm với 4 mức nhiệt độ ép 160 oC, 180 oC, 200 oC và 220 oC với 3 mức thời gian ép là 2 phút, 4 phút và 6 phút; các mẫu được nén ép với 2 mức tỷ suất nén là 20% và 40%. Tác giả đã kết luận: Đối với cả hai tỷ suất nén (20% và 40%), độ ổn định kích thước thấp nhất tương ứng với nhiệt độ 160 °C và thời gian ép là 2 phút [61].G và Del Menezzi C.S (2013) đã nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ ép, thời gian ổn định áp suất đến độ bền cơ học và tính chất bề mặt của gỗ nén.
Tác giả đã kết luận: Thay đổi nhiệt độ và áp suất ép theo 03 giai đoạn đã ảnh hưởng đến độ bền cơ học, độ ổn định kích đước, đổ ẩm thăng bằng và tính chất bề mặt của gỗ. So với phương pháp ép 02 giai đoạn áp suất (tăng và ổn định), độ đàn hồi trở lại sau khi ép giảm, độ ẩm thăng bằng giảm và góc tiếp xúc tăng [84]. 7 Zeki Candan và cộng sự (2013) đã nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ ép và áp suất ép đến tính chất gỗ sau xử lý nhiệt - cơ. Tác giả đã thực nghiệm với gỗ Dương (Populus spp.), các mẫu gỗ được hoá mềm và nén ép trong máy ép nhiệt với 2 mức nhiệt độ ép là 150 oC và 170 oC; với 2 mức áp suất ép là 1,0 MPa và 2,0 MPa trong thời gian ép là 45 phút.
Kết quả nghiên cứu cho thấy: khối lượng riêng và độ cứng tĩnh của gỗ tăng khi áp suất ép tăng. Nhiệt độ ép và áp suất ép ảnh hưởng không rõ nét đến độ trương nở chiều dày của gỗ nén [32]. Misrian de Almeida Costa (2017) đã ghiên cứu ảnh hưởng của chế độ xử lý nhiệt – cơ đến một số tính chất cơ lý của ván ép parica. Các mẫu được xử lý ở nhiệt độ 120 ºC và 150 ºC, tỷ xuất nén 50%, giữ ở áp suất 5,88 MPa trong 7 phút và sau đó, dưới áp suất bằng 0 trong 15 phút.
Kết quả cho thấy sự gia tăng đáng kể về khối lượng riêng, cụ thể từ 0,48 g/m3 lên trung bình 0,56 g/cm3.