CHƯƠNG 1: NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN Bài báo nói về khả năng kết hợp các hệ thống định vị vệ tinh đã được phát triển và các hệ thống hỗ trợ, nhằm tìm ra giải pháp định vị vệ tinh chính xác mà không phải sử dụng từng hệ thống riêng lẻ. Hệ thống GPS của Mỹ đã rất thành công trong lĩnh vực định vị GNSS trên toàn thế giới trong suốt thời gian qua. Hệ thống GLONASS của Nga đã ngày càng được hoàn chỉnh và đảm bảo độ tin cậy tương ứng sau nhiều thời gian dán đoạn. Các hệ thống tăng cường dựa trên cơ sở các vệ tinh (SBAS) chỉ mới được phát triển trong thập niên gần đây nhưng cũng đã chứng tỏ được hiệu quả trong việc hỗ trợ, tăng cường độ chính xác định vị điểm ứng dụng trong các lĩnh vực quan trọng như hàng không và hàng hải.
Bài báo tập trung vào hướng khảo sát ban đầu việc xử lý kết hợp các tín hiệu thu được từ các hệ thống nói trên. Kết quả đạt được cho tín hiệu tốt khi kết hợp trị đo GPS, trị đo GLONASS và các số hiệu chỉnh bổ sung từ các vệ tinh địa tĩnh SBAS. Anja Heßelbarth, Lambert Wanninger - SBAS Orbit and Satellite Clock Corrections for Precise Point Positioning - GPSSolutions 17:465-473, October 2013 [6]. Nội dung bài viết đề cập đến vấn đề.
Chất lượng của việc định vị điểm tuyệt đối độ chính xác cao phụ thuộc rất lớn vào độ chính xác quỹ đạo vệ tinh và số hiệu chỉnh đồng hồ. Nghiên cứu thực hiện một cuộc khảo sát độ chính xác do các tín hiệu hiệu chỉnh từ các vệ tinh SBAS mang lại với số hiệu chỉnh từ các nguồn khác. Cũng như so sánh hiệu quả khả năng cải thiện độ chính xác của các hệ thống thuộc SBAS (WAAS, EGNOS, MSAS). Kết quả tối ưu cho phép đạt đến cm đối với hệ thống WAAS.
Đây là một vấn đề đáng quan tâm đối với hướng nghiên cứu của đề tài, vì khả năng cải thiện độ chính xác của các trị đo từ vệ tinh SBAS còn phụ thuộc rất lớn vào độ chính xác các tham số quỹ đạo vệ tinh địa tĩnh cũng như số hiệu chỉnh đồng hồ vệ tinh. -9- CHƯƠNG 1: NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN 5. IGS-MGEX, Preparing the Ground for Multi-Constellation GNSS Science. Nhóm tác giả trình bày các vấn đề về việc xây dựng các nền tảng trạm tham khảo mặt đất nhằm xử lý cung cấp các bản lịch chính xác cao cho tất cả các hệ thống định GNSS.
Bao gồm cả các hệ thống định vị khu vực và các hệ thống tăng cường như SBAS trong tương lai. * Kết chương Từ những nghiên cứu trong và ngoài nước nêu trên ta nhận thấy phần lớn các nghiên cứu đều tập trung vào độ chính xác nhờ số cải chính cung cấp từ vệ tinh SBAS cũng như các hướng phát triển trong tương lai của hệ thống SBAS. Chỉ có vài nghiên cứu trên thế giới liên quan đến vai trò của các trị đo giả cự ly từ các vệ tinh địa tĩnh đến độ chính xác định vị. Đặc biệt, chưa có nghiên cứu nào trong nước về lĩnh vực này.
Đó cũng là lý do học viên thực hiện đề tài này, nhằm đánh giá một cách cơ bản về trị đo của các vệ tinh địa tĩnh thuộc hệ thống SBAS. Nếu việc khảo sát cho kết quả tốt, đây sẽ là nguồn trị đo bổ sung quan trọng giúp tăng cường độ chính xác định vị. Nội dung thực hiện của đề tài được trình bày trong các chương tiếp theo của luận văn. -10- CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN HỆ THỐNG GPS VÀ SBAS -11- CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là trị đo của các hệ thống GPS và SBAS.
Trong chương này, học viên sẽ giới thiệu cơ bản về hệ thống định GPS và trình bày các vấn đề hệ thống tăng cường SBAS đang hoạt động hiện nay.1 HỆ THỐNG GPS 2.1 Sự ra đời và vai trò của GPS. Hệ thống Định vị Toàn cầu (Global Positioning System - GPS) là hệ thống xác định vị trí dựa trên các vệ tinh nhân tạo, do Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ thiết kế, xây dựng, vận hành và quản lý. Hệ thống này luôn sẵn sàng trên phạm vi toàn cầu và trong mọi điều kiện thời tiết. Ban đầu, hệ thống GPS được xây dựng với mục đích chính là phục vụ cho các hoạt động hải quân.
Tên đầy đủ của hệ thống GPS là NAVSTARGPS (Navigation Satellite with Time and Ranging Global Positioning System), hệ thống radio hàng hải dựa vào các vệ tinh để cung cấp thông tin về vị trí 3 chiều và thời gian chính xác (hình 2.1: Hệ thống GPS Tuy được quản lý bởi Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ nhưng chính phủ Hoa Kỳ cho phép mọi người trên thế giới sử dụng một số chức năng của GPS miễn phí, bất kể quốc tịch nào. Hệ thống GPS hoạt động theo nguyên tắt, các vệ tinh GPS bay vòng quanh Trái Đất hai lần trong một ngày theo một quỹ đạo rất chính xác và phát tín hiệu có -12- CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN thông tin xuống Trái Đất. Các máy thu GPS nhận thông tin này và bằng phép tính lượng giác tính được chính xác vị trí của người dùng. Về bản chất máy thu GPS so sánh thời gian tín hiệu được phát đi từ vệ tinh với thời gian nhận được chúng.
Sai lệch về thời gian cho biết máy thu GPS ở cách vệ tinh bao xa. Với nhiều khoảng cách đo được tới nhiều vệ tinh, máy thu có thể tính được vị trí của người dùng. Sự ra đời của công nghệ GPS và những hữu ích vượt trội đã làm thay đổi mạnh mẽ các phương pháp dẫn đường hàng hải và phương pháp định vị truyền thống. Đáp ứng khả năng ứng dụng rộng rải cho nhiều lĩnh vực, nhiều ngành và nhiều mục đích khác nhau như: Giám sát phương tiện giao thông đường bộ.
Định vị, dẫn đường hàng hải, hàng không. Giám sát quản lý môi trường. Các ứng dụng trong lĩnh vực Trắc địa, Bản đồ… 2.2 Quá trình phát triển. Quá trình phát triển của hệ thống định vị GPS bao gồm các mốc thời gian chính sau [8]: Năm 1973, hệ thống GPS được thiết kế (là sự kết hợp của Chương trình TIMENTION và Đề án 621B) nhằm thay thế hệ thống TRANSIT.
Năm 1974, vệ tinh NAVSTAR đầu tiên được phóng vào quỹ đạo (Vệ tinh dẫn đường số 1). Năm 1978, vệ tinh Block I đầu tiên được phóng. Giai đoạn 1978-1985 có 11 vệ được phóng lên quỹ đạo mang tính chất thực nghiệm. Đến năm 1990, 9 vệ tinh thuộc khối Block II được đưa lên quỹ đạo.
Cả vệ tinh khối Block I và II đều phát tín hiệu có nhiễu cố ý SA và có kỹ thuật bảo mật AS. -13- CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN Từ năm 1990-1994, hệ thống có thêm 15 vệ tinh thế hệ II-A có khả năng liên lạc vơi nhau. Từ năm 1996, các vệ tinh thế hệ II-R được bổ sung. Các vệ tinh này có khả năng đo khoảng cách giữa các vệ tinh lân cận.
Tháng 9 năm 2005, các vệ tinh II-RM phát thêm tín hiệu L2C cho phép sử dụng rộng rãi trong dân sự. Năm 2008, các vệ tinh thế hệ II-F sẽ phát thêm sóng tải L5. Từ năm 2009, số lượng vệ tinh GPS hoạt động trên quỹ đạo đã đạt được 30 vệ tinh. Với những bước phát triển công nghệ tiên tiến này, hệ thống GPS ngày càng cung cấp các dịch vụ dẫn đường và độ chính xác cao hơn.3 Các bước cải tiến quan trọng.
Trong quá trình phát triển, hệ thống GPS cũng từng bước được cải tiến nhằm nâng cao độ chính xác định vị. Có thể kể đến các nội dung cơ bản sau [9]: Đồng thời với sự thay đổi trong công nghệ chế tạo vệ tinh và tín hiệu phát sóng, các kỹ thuật định vị, phương pháp xử lý cũng như các hệ thống hỗ trợ tăng cường đều được phát triển và cải tiến đáng kể làm cho các ứng dụng của dịch vụ dẫn đường ngày càng thuận tiện và độ chính xác ngày càng cao hơn. Năm 1992, người ta áp dụng kỹ thuật giao thoa cạnh đáy dài VLBI, kỹ thuật đo khoảng cách Laser đến Mặt trăng và các vệ tinh để xác định tọa độ các trạm theo dõi vệ tinh GPS (thuộc mảng điều khiển) với sai số tương đối khoảng 10-9. Số lượng trạm quan sát thường trực ở các châu lục trong hệ thống trạm IGS không ngừng tăng lên.
Khung tham chiếu WGS-84 cũng định kỳ được nâng cấp. Trong lĩnh vực chế tạo máy thu tín hiệu vệ tinh cũng có nhiều cải tiến. Từ máy thu ban đầu hoạt dộng hoàn toàn theo nguyên tắt các bộ phận tách rời: Nguồn phát – lịch vệ tinh – máy thu, hiện nay nhờ sự phát triển của kỹ thuật mã (code) nên các máy thu chỉ còn 2 thành phần là nguồn phát có lịch và máy thu tín hiệu. Ngoài -14- CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN ra, còn có các máy thu hoạt động theo cơ chế thu song song cùng lúc nhiều kênh, chúng nhanh chóng khóa vào các vệ tinh khi mới bật lên và chúng duy trì kết nối bền vững, thậm chí trong tán lá rậm rạp hoặc thành phố với các toà nhà cao tầng.
Hiện nay, sự ra đời các máy thu có khả năng thu được tín hiệu của các hệ thống tăng cường từ các vệ tinh địa tĩnh làm cho độ chính xác định vị tăng lên đáng kể. Về kỹ thuật định vị và độ chính xác định vị cũng liên tục có sự phát triển. Năm 1983, GPS được áp dụng vào xây dựng lưới khống chế nhà nước hạng I đạt độ chính xác chiều dài cạnh với sai số trung phương tương đối cỡ 10-6. Năm 1985 ra đời kỹ thuật đo GPS động đạt độ chính xác cm.
Năm 1989 ra đời cách giải số nguyên đa trị trên đường đo OTF, cũng trong thời gian này ra đời kỹ thuật đo GPS vi phân (DGPS) làm tăng đáng kể độ chính xác nhờ loại bỏ nhiễu cố ý SA. Năm 1993, người ta đề xuất phương pháp đo dộng tức thời (RTK). Đáng chú ý là sự ra đời của các hệ thống tăng cường dựa trên các vệ tinh địa tĩnh từ cuối năm 2003, nhằm nâng cao độ chính xác định vị trong các dịch vụ dẫn đường. Châu Âu có hệ thống EGNOS, Mỹ có hệ thống WAAS và Nhật Bản có hệ thống tương tự là MSAS.
Ngoài ra còn có các hệ thống khác có tính năng tương tự đang hoàn thiện của Nga (SDCM), Ấn Độ (GAGAN) … Các hệ thống này kết hợp tạo nên một hệ thống tăng cường độ chính xác dựa trên các vệ tinh (SBAS) cung cấp khả năng định vi tức thời trên toàn cầu với sai số không lớn hơn 3m.