Đặt vấn đề: trình bầy về lịch sử, công nghệ, nguồn gây lỗi định vị vệ tinh và mục tiêu của luận văn. • Chương 2 - Cơ sở lý thuyết: trình bầy về hệ thống định vị GPS: tín hiệu GPS,các thành phần của GPS, nguyên lý định vị GPS, kiến trúc bộ thu GPS và công nghệ bộ thu mềm SDR. • Chương 3 - Các tham số giám sát tầng điện ly: trình bầy về tầng điện ly, nhấp nháy tầng điện ly, ảnh hưởng của hiện tượng nhấp nháy tầng điện ly, một vài đặc điểm nhấp nháy tầng điện ly; tính các chỉ số nhấp nháy tầng điên ly S4, σφ; thử nghiệm tính toán và so sánh kết quả tính toán các chỉ số nhấp nháy tầng điện ly. • Chương 4 - Ảnh hưởng của tầng điện ly đến định vị chính xác: trình bầy về các chế độ định vị; công cụ RTKLIB; và đánh giá ảnh hưởng của tầng điện ly đến định vị chính xác RTK.
Sơ lược lịch sử xác định vị trí Lịch sử dẫn đường và xác định vị trí gắn liền với lịch sử dẫn thuyền thám hiểm trên biển trong nhiều thập kỉ trước khi các phương tiện bay trên không như máy bay và vũ trụ ra đời. Những hiểu biết về vị trí thường mang tính sống còn và có sức mạnh kinh tế trong xã hội Đầu thế kỉ 20, người ta đã phát minh ra một số hệ thống dẫn đường vô tuyến điện và sử dụng rộng rãi trong Chiến tranh thế giới thứ 2. Một số hệ thống dẫn đường vô tuyến trên mặt đất vẫn còn đến ngày nay. Một hạn chế của phương pháp sử dụng sóng vô tuyến điện được phát trên mặt đất là chỉ có hai lựa chọn: 1) hệ thống rất chính xác nhưng không bao phủ được vùng rộng lớn: Sóng vô tuyến tần số cao (sóng TV, vệ tinh…); 2) hệ thống bao phủ được một vùng rộng lớn nhưng lại không chính xác: Sóng vô tuyến tần số thấp (sóng đài phát thanh…).
Cách duy nhất bao phủ sóng chính xác trên toàn thế giới là đặt những trạm phát sóng vô tuyến điện cao tần trong không gian và phát sóng xuống Trái Đất. Đây là ý tưởng ban đầu của hệ thống định vị toàn cầu. Một số hệ thống định vị vệ tinh hiện nay Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, có nhiều sản phẩm kỹ thuật cao ứng dụng trong thực tế. Một trong những sản phẩm đó là máy định vị.
Các hệ thống dẫn đường toàn cầu sử dụng vệ tinh (GNSS) được phát triển mạnh mẽ. Cùng với sự thành công của hệ thống GPS (Global Positioning System) của Mỹ, quốc gia đi đầu trong nghiên cứu hệ thống định vị, đã và đang thúc đẩy sự ra đời của các hệ thống tương tự ở quy mô toàn cầu. Nhiều hệ thống định vị mới đã và đang được xây dựng có thể kể đến: • GPS [5]: hệ thống định vị vệ tinh của Hoa Kỳ, thành phần không gian gồm 30 vệ tinh (24 vệ tinh hoat đông, 6 vệ tinh dự phòng). Vệ tinh đầu tiên được phóng vào năm 1978, hệ thống hoàn chỉnh với vệ tinh số 24 được phóng vào năm 1994.
GPS đã trải qua nhiều thế hệ vệ tinh. • GLONASS: hệ thống định vị vệ tinh của Nga, bắt đầu xây dựng năm 1976. Với việc khởi động lại chương trình không gian của Nga, hệ thống tiếp tục được phát triển và nâng cấp. Kết thúc quá trình phục hồi và nâng cấp, tháng 2, 2016 hệ thống GLONASS với 24 vệ tinh có khả năng bao phủ toàn cầu.
• Beidu (Bắc Đẩu): hệ thống định vị vệ tinh của Trung Quốc. Theo kế hoạch hệ thống sẽ hoàn thành vào năm 2020, sau khi sở hữu 35 vệ tinh. Phổ tín hiệu của các hệ thống vệ tinh định vị Bên cạnh đó còn có nhiều hệ thống vệ tinh định vị cấp vùng (QZSS của Nhật, IRNSS của Ấn Độ,…) cung cấp dịch vụ cục bộ cũng như hỗ trợ các hệ thống lớn. Nguồn gây lỗi trong các hệ thống định vị sử dụng vệ tinh • Sai số quĩ đạo vệ tinh Vị trí của các vệ tinh coi như đã được xác định chính xác từ trước, và được tính làm mốc để xác định vị trí vật thể dưới mặt đất.
Tuy nhiên trong thực tế, khi vận hành sẽ có sự sai lệch giữa tọa độ vệ tinh tính toán theo lịch thiên văn - Ephemeris và tọa 4 độ thực tế của nó. Đây là nguyên nhân trực tiếp và cũng có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả định vị. • Sai số đồng hồ vệ tinh Đồng hồ được sử dụng trong các vệ tinh là đồng hồ nguyên tử. Tuy nhiên, nó vẫn bị ảnh hưởng từ nhiễu và lỗi trượt thời gian.
Sóng điện từ truyền đi trong không gian xấp xỉ vận tốc ánh sáng nên chỉ cần một sai số cỡ ns sẽ gây ra sai số cm trên khoảng cách. Để giải quyết vấn đề này các đồng hồ vệ tinh sẽ được theo dõi liên tục từ các trạm mặt đất và được so sánh với đồng hồ trung tâm điều khiển. Sai số và độ trôi đồng hồ vệ tinh được kèm vào bản tin định vị do vệ tinh phát. • Sai số đồng hồ bộ thu Ảnh hưởng của đồng hồ bộ thu cũng tương tự như đồng hồ vệ tinh.
Tuy nhiên, bộ thu không thể trang bị đồng hồ nguyên tử do khối lượng lớn và giá thành rất cao và chịu ảnh hưởng mạnh bởi nhiệt độ. Nguồn gây lỗi trong quá trình truyền tín hiệu 5 • Sai số trong quá trình truyền tín hiệu Với các hệ thống truyền thông khác, nguồn gây sai số phổ biến là nhiễu, thường rất nhỏ so với tín hiệu hữu ích, nên việc xử lý không đặt ra phức tạp như trong hệ thống định vị vệ tinh. Việc các vệ tinh ở quá xa mặt đất ( lên đến 36.000 km) và tín hiệu phải vượt qua rất nhiều môi trường khác nhau, làm cho năng lượng và chất lượng tín hiệu truyền về bị suy hao đi rất nhiều. • Sai số tầng đối lưu Lớp thấp hơn của khí quyển chứa phần lớn hơi nước được gọi là tầng đối lưu gây ra trễ trên cả tín hiệu mã trải phổ lẫn tín hiệu sóng mang.
Các chất trong khí quyển hấp thụ năng lượng sóng điện từ có tần số xấp xỉ bằng tần số dao động của chúng khi sóng điện từ truyền qua nó, chính sự hấp thụ này làm cho sóng điện từ bị suy yếu và sinh ra nhiễu. Điều kiện thời tiết cũng là nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín hiệu. Trong điều kiện có mưa, sóng điện từ không chỉ bị suy hao mà còn cộng thêm nhiễu sinh ra do các bức xa siêu cao của mưa, thêm vào đó nhiệt độ nước mưa cũng là nguồn gây nhiễu nhiệt. • Sai số tầng điện ly Lớp trên cùng của tầng khí quyển là tầng điện ly bao gồm các hạt mang điện gây ra hiện tượng chậm tín hiệu mã trải phổ và tín hiệu sóng mang.
Tác động của tầng điện ly đối với tín hiệu điện tử phụ thuộc vào tần số của nó. Tần số càng cao thì ảnh hưởng càng ít. Do đó ta có thể sử dụng hai tần số sóng mang khác nhau thu đồng thời để đo độ sai lệch giữa hai tín hiệu và từ đó có thể loại bỏ được ảnh hưởng của tầng điện ly. Bộ thu GPS hai tần có độ chính xác cao sử dụng cả hai tín hiệu L1 và L2 để loại bỏ ảnh hưởng của tần điện ly.
• Hiện tượng đa đường-Multipath Trong điều kiện lí tưởng, tín hiệu được truyền thẳng từ vệ tinh tới bộ thu. Tuy nhiên trong thực tế, ngoài tín hiệu chính là tín hiệu truyền thẳng, anten bộ thu còn nhận được nhiều tín hiệu phản xạ của tín hiệu chính qua mặt đất và các bề mặt các 6 vật thể xung quanh anten như như xe cộ, nhà cửa,… gây ra các hiện tượng như phản xạ, nhiễu xạ hay tán xạ. Hiện tượng đa đường dẫn tới suy giảm cường độ tín hiệu. • Sự giảm tín hiệu vệ tinh một cách cố ý – Selective Availability (SA) Là một sự suy giảm tín hiệu có chủ ý đã từng được áp đặt bởi Bộ Quốc phòng Mỹ.
SA dự định ngăn chặn kẻ thù quân sự từ việc sử dụng tín hiệu GPS có độ chính xác cao. Chính phủ Mỹ đã dừng SA vào tháng 5 năm 2000, cải thiện đáng kể tính chính xác của các máy thu GPS dân sự. Mục tiêu của luận văn Ngày nay, định vị chính xác đóng vai trò ngày càng quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam. Như trình bầy ở trên, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả định vị vệ tinh.
Một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến độ tin cậy của dữ liệu định vị vệ tinh là tầng điện ly. Đối với các lĩnh vực đòi hỏi độ chính xác định vị cao như trắc địa bản đồ, việc loại bỏ được các nhiễu do tầng điện ly gây ra là hết sức quan trọng. Việt Nam nằm ở khu vực vĩ độ thấp, cận xích đạo, là khu vực tầng điện ly hoạt động mạnh. Việc nghiên cứu về ảnh hưởng tầng điện ly đến định vị vệ tinh phải dùng các bộ thu chuyên dụng, rất tốn kém.
Hiện Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của tầng điện ly đến định vị chính xác. Với công nghệ bộ thu mềm và sức mạnh tính toán ngày càng tăng, với giá thành ngày càng giảm của các bộ xử lý là tiền đề thuận lợi cho việc ứng dụng bộ thu mềm vào sử dụng vào các bài toán định vị từ đó dễ dàng nghiên cứu về ảnh hưởng của tầng điện ly. Mục tiêu của luận văn là sử dụng công nghệ bộ thu mềm tính các tham số nhấp nháy tầng điện ly. Trên cơ sở phát hiện có nhấp nháy tầng điện ly trong dữ liệu định vị, tiến hành các thử nghiệm kết quả định vị chính xác RTK khi có nhấp nháy tầng điện ly và so sánh kết quả với trường hợp không có nhấp nháy tầng điện ly.
Các phương pháp dẫn đường • Phương pháp dẫn đường bằng mục tiêu: dẫn đường và xác định vị trí bằng những mục tiêu nhìn thấy (đỉnh ngọn núi, hải đăng, cọc tiêu v.v…) • Phương pháp dẫn đường dự đoán: dựa vào vị trí xuất phát ban đầu, tốc độ di chuyển và hướng di chuyển để dự đoán vị trí của phương tiện. • Phương pháp dẫn đường thiên văn học: dựa vào việc quan sát các thiên thể đã biết trên bầu trời như Mặt Trời, Mặt Trăng và các vì sao, sử dụng sextant để đo độ cao và góc độ giữa các thiên thể, dùng đồng hồ (thời kế) để đo thời gian và dùng lịch thiên văn để tính toán vị trí.