Chương 1 trình bày một số kết quả nghiên cứu về hệ thống định vị sử dụng vệ tinh bao gồm cấu trúc hệ thống, nguyên lý hoạt động, các nguyên nhân gây sai số và cách khắc phục từ đó phục vụ cho việc thiết kế hệ thống định vị tích hợp trong chương 3.1 Khái quát về hệ thống định vị sử dụng vệ tinh Hệ thống định vị sử dụng vệ tinh hay còn gọi là hệ thống định vị toàn cầu (Global Positioning System – GPS) là một hệ thống xác định vị trí ở bất cứ đâu trên bề mặt trái đất dựa vào việc tính toán khoảng cách từ điểm đó tới các vệ tinh trong không gian. Hệ thống này được thiết kế và vận hành bởi bộ quốc phòng Mỹ ban đầu cho mục đích quân sự nhưng hiện nay đã được ứng dụng rất nhiều trong dân sự.2 Hệ trục toạ độ liên quan Hệ WGS84: Vấn đề cần phải xác định đầu tiên đối với bất cứ hệ thống định vị dẫn đường nào là hệ trục toạ độ quy chiếu của nó. Đối với hệ thống GPS người ta thường sử dụng hệ WGS 84. Hệ trục toạ độ WGS 84 là một mô hình trái đất quy chuẩn được ấn định năm 1984 và hiện nay được dùng rất phổ biến Hình 1.1 Hệ toạ độ WGS84 và hệ toạ độ tâm trái đất Oxyz Mai Đức Thông Cao học ĐKTĐ 2006-2008 8 Hệ thống này xấp xỉ bề mặt trái đất bằng một hình elip quay với trục quay của nó trùng khớp với trục quay của trái đất, tâm là tâm của trái đất và kinh tuyến 0 đi qua đài thiên văn Greewich.
Trục chính của elip được định nghĩa có độ dài khoảng 6.137 m và trục phụ là 6. Vị trí của một điểm trên trái đất được xác định theo kinh độ, vĩ độ và độ cao (Φ,λ,h). Hệ trục toạ độ tâm trái đất: Hệ trục này có gốc là tâm trái đất, 3 trục x,y, z là 3 trục vuông góc sao cho mặt phẳng Oxy là mặt phẳng chứa đường xích đạo. Trục x đi qua đường kinh tuyến gốc và trục z đi qua cực bắc như hình 1.
Các công thức liên hệ giữa hệ toạ độ WGS84 (Φ,λ,h) với hệ trục toạ độ tâm trái đất (x,y,z): x = (Rn + h) cos φ cos λ y = (Rn + h) cos φ sin λ z = (Rn (1 – e2) + h) sin φ Hệ trục toạ độ này thường được sử dụng để xác định vị trí của các vệ tinh vì quỹ đạo của các vệ tinh là cố định so với hệ trục này.3 Cấu trúc của một hệ định vị sử dụng vệ tinh Một hệ thống định vị sử dụng vệ tinh (GPS) đầy đủ bao gồm ba phần chính sau: • Các vệ tinh trong không gian • Các trạm điều khiển mặt đất • Bộ thu tín hiệu trong các ứng dụng của người sử dụng Hình 1.2 minh hoạ ba thành phần chính của một hệ thống định vị toàn cầu sử dụng vệ tinh. Mai Đức Thông Cao học ĐKTĐ 2006-2008 9 Hình 1.2 Hệ thống định vị sử dụng vệ tinh 1.1 Vệ tinh GPS sử dụng một hệ thống 28 vệ tinh (bao gồm cả các vệ tinh dùng để dự phòng) phân tán trên 6 quỹ đạo tròn trong không gian, như vậy trung bình sẽ có 4 vệ tinh trên 1 quỹ đạo (hình 1. Quỹ đạo của vệ tinh có bán kính khoảng 26.560 km và vệ tinh bay quanh quỹ đạo với chu kì là nửa ngày - xấp xỉ 11. Theo lý thuyết, các quỹ đạo được tính toán sao cho ở bất cứ đâu trên trái đất thì một bộ thu tín hiệu vệ tinh có thể nhận được tín hiệu của ít nhất 3 vệ tinh cùng một lúc nếu không có gì ngăn cản tín hiệu.
Ngoài ra các vệ tinh được bố trí trong không gian để có thể thoả mãn yêu cầu về vị trí hình học tương đối để có thể tính ra vị trí chính xác nhất Mai Đức Thông Cao học ĐKTĐ 2006-2008 10 Hình 1.3 Quỹ đạo các vệ tinh Cấu tạo một vệ tinh gồm ba phần: • Máy tính điều khiển quỹ đạo bay và một số chức năng khác • Đồng hồ nguyên tử đảm bảo thời gian chính xác với sai số là 3 nano giây • Bộ phận phát sóng radio phát tín hiệu radio xuống trái đất, tín hiệu này chứa đựng các thông tin cần thiết để xác định vị trí, thời gian Tín hiệu từ vệ tinh GPS Tín hiệu GPS là một loại tín hiệu phức tạp bởi vì nó cần phải chứa đựng rất nhiều thông tin. Các vệ tinh GPS đều chứa đồng hồ nguyên tử có khả năng cung cấp thông tin chính xác cho tín hiệu truyền đi từ vệ tinh. Mỗi vệ tinh GPS cùng một lúc sẽ truyền hai tín hiệu L1 với tần số f1 = 1575.42 Mhz và tín hiệu L2 với tần số f2 =1227. Hai tần số f1 và f2 là bội số của tần số cơ bản f0 =1023 Mhz.
Tín hiệu L1 sử dụng phương pháp mã hoá dịch pha nhị phân (Binary phase-shift keying – BPSK), điều biến bởi hai mã giả ngẫu Mai Đức Thông Cao học ĐKTĐ 2006-2008 11 nhiên là mã C/A và mã P. Tín hiệu L2 cũng là BPSK và được điều biến bởi mã P. Mã C/A thường được sử dụng bởi các bộ thu GPS, nó kém chính xác hơn mã P nhưng có ưu điểm là tính toán đỡ phức tạp hơn. Mã P cung cấp thông tin về vị trí chính xác hơn và rất khó bị nhiễu.4 Cấu trúc tín hiệu GPS Một ưu điểm nổi bật của việc phát cùng lúc 2 tín hiệu trên hai tần số khác nhau là có thể bù được thời gian trễ do truyền.
Vì độ trễ tỉ lệ nghịch với bình phương tần số nên có thể đo độ trễ giữa hai tần số để bù vào thời gian trễ của mỗi tần số Việc sử dụng mã giả ngẫu nhiên (Pseudorandom Code Noise) cho phép bộ thu có thể truy nhập vào tín hiệu từ nhiều vệ tinh khác nhau trên cùng một tần số. Tín hiệu truyền bởi một vệ tinh xác định sẽ được lựa chọn bằng cách máy thu cũng sẽ phát mã giả ngẫu nhiên giống với mã từ vệ tinh. Tất cả các mã giả ngẫu nhiêu đều đã được định trước và lưu trữ trong các thiết bị thu GPS. Loại mã giả ngẫu nhiên thứ nhất của mỗi v ệ tinh là P-Code là một loại mã dài có tần số điều biến - chip rate là 10f0 = 10.
Loại mã giả thứ hai thường được gọi là C/A – code là một loại mã ngắn với chip rate là f0 = 1023 Mai Đức Thông Cao học ĐKTĐ 2006-2008 12 MHz. Một mã P-code đầy đủ có chu kỳ 259 ngày, trong khoảng thời gian đó mỗi vệ tinh sẽ phát một phần xác định của P-code. Phần mã của P-code sử dụng cho vệ tinh phát đi có độ chính xác một tuần -7 ngày cho đến khi phần mã này được lặp lại. Phương pháp sử dụng mã giả ngẫu nhiên được thiết kế và phát triển từ năm 1991 1.2 Các trạm điều khiển mặt đất Các trạm mặt đất là bộ phận điều khiển của GPS.
Có 5 trạm trên trái đất dùng để giám sát hoạt động của vệ tinh, các trạm này có nhiệm vụ điều khiển vệ tinh không bị lệch quỹ đạo, hiệu chỉnh đồng hồ, theo dõi đường bay của vệ tinh, cung cấp dữ liệu dẫn đường… Dữ liệu được gửi tới vệ tinh mỗi ngày một lần để đảm bảo vệ tinh chuyển động chính xác theo quỹ đạo.5 Hoạt động của các trạm điều khiển Mai Đức Thông Cao học ĐKTĐ 2006-2008 13 1.3 Thiết bị thu tín hiệu từ vệ tinh Người dùng sẽ sử dụng thiết bị thu tín hiệu từ vệ tinh để xác định vị trí của mình. Chuỗi tín hiệu từ vệ tinh chứa đựng thông tin dẫn đường về quỹ đạo di chuyển của vệ tinh đang phát, thời gian hiện tại trên vệ tinh và một số tham số để hiệu chỉnh gần đúng những sai lệch do ảnh hưởng của tầng khí quyển hoặc thời gian lệch giữa đồng hồ vệ tinh và thời gian đúng thực sự của hệ thống GPS. Sơ đồ cấu trúc của một bộ thu tín hiệu vệ tinh được thể hiện trên hình 1.6 bao gồm các khối lọc, tiền xử lý dữ liệu, đồng hồ, vi xử lý tính toán. Một bộ thu GPS cần ít nhất thông tin từ 4 vệ tinh để có thể tính toán ra vị trí bao gồm: kinh độ, vĩ độ, độ cao và tính chính xác sẽ phụ thuộc vào vị trí của bộ thu cũng như các vật ngăn cản tín hiệu vệ tinh.
Bộ thu GPS cung cấp thông tin về vị trí và nhiều thông tin hữu ích khác như sau: • Thời gian: bộ thu GPS sẽ nhận được thông tin về thời gian từ đồng hồ nguyên tử nên rất chính xác • Vị trí: GPS mang đến thông tin về vị trí theo ba trục o Vĩ độ (trục x) o Kinh độ (trục y) o Độ cao h • Tốc độ: Khi di chuyển, bộ thu GPS còn cung cấp thông tin về tốc độ • Hướng chuyển động: Một bộ thu GPS có thể hiển thị hướng chuyển động khi đang di chuyển Thời gian quy chuẩn trong hệ GPS:Hệ GPS sử dụng hệ thống “Giờ phối hợp quốc tế” (Coordinate Universal Time – UTC) là một chuẩn quốc tế về ngày giờ thực hiện bằng phương pháp nguyên tử. Nó được dựa trên chuẩn cũ là giờ trung bình Greenwich (GMT, tiếng Anh: Greenwich Mean Time) do hải quân Anh đặt ra vào thế kỷ thứ 19, sau đó được đổi tên thành giờ quốc tế (UT, Mai Đức Thông Cao học ĐKTĐ 2006-2008 14 tiếng Anh: Universal Time). Múi giờ trên thế giới được tính bằng độ lệch âm hay dương so với giờ quốc tế.6 Sơ đồ cấu trúc của một bộ thu tín hiệu GPS 1.4 Nguyên lý hoạt động Nguyên lý cơ bản của hệ thống này là xác định vị trí của một điểm chưa biết thông qua khoảng cách tới 4 vị trí đã biết. Khoảng cách ở đây được tính toán dựa trên thời gian sóng radio truyền từ vệ tinh đến vị trí hiện thời theo công thức: Khoảng cách = Vận tốc * Thời gian Trong đó vận tốc của sóng radio chính là vận tốc ánh sáng (c = 300000 km/s).
Khoảng thời gian truyền sóng sẽ được xác định như sau: Mỗi vệ tinh sẽ có một mã giả ngẫu nhiên (Pseudo Random Noise – code) đặc trưng, khi máy thu nhận được tín hiệu từ vệ tinh xác đinh nào đó, nó sẽ phát mã giả ngẫu Mai Đức Thông Cao học ĐKTĐ 2006-2008 15 nhiên giống với mã từ vệ tinh. Từ đó sẽ xác định cần phải dịch mã như thế nào (sử dụng nguyên lý dịch Doppler) để hai chuỗi gặp nhau. Độ dịch chính là khoảng thời gian truyền từ vệ tinh đến máy thu Thời gian chênh lệch Satellite PRN Receiver PRN Hình 1.