CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Bệnh căn học, chẩn đoán và đặc điểm hình thái sọ mặt của sai hình xương hạng III 1. Bệnh căn học của sai khớp cắn loại III Trước thế kỷ 20, tất cả các dạng sai khớp cắn được cho là kết quả của bất thường chức năng hoặc do các vấn đề thói quen tại chỗ liên quan đến khoang miệng [14]. Tuy nhiên, các nghiên cứu về phả hệ khẳng định vai trò quan trọng của di truyền đối với sai hình xương hạng III [1],[15].
Tuy có nhiều thay đổi về quan niệm cho đến nay, nhiều tác giả CHRM cận đại vẫn nhấn mạnh vai trò tối quan trọng của môi trường đến sự hình thành SKC. Tác giả Michel Langlade [16] và Zaheira Benhabib-Damerdji [17] đề cập đến các vấn đề như khí hậu, dinh dưỡng, bất thường chức năng hay dị tật lưỡi, bất thường quá trình mọc răng, các vấn đề cận chức năng, chấn thương, dị tật bẩm sinh (hở môi – hàm ếch) hay mắc phải (tật khúc xạ bất cân xứng và gù vẹo cột sống…) Tác giả Ricketts [14] và Profitt [18] cùng cho rằng có sự tác động tương hỗ giữa di truyền và môi trường. Ricketts nhấn mạnh vai trò của vòng điều khiển học thần kinh và cơ chế hồi đáp thần kinh của vùng miệng - mặt với tầm quan trọng của dây thần kinh V điều khiển quá trình tương tác đa chiều giữa môi trường và di truyền trong quá trình tăng trưởng sọ mặt. Có nhiều bằng chứng cho thấy các trường hợp nhô hàm dưới nhiều (hạng III xương) thường do rối loạn hóc-môn hoặc do di truyền.
Tác giả Sadao Sato đưa ra giả thuyết về bệnh căn của SKC hạng II và III [5],[19],[20]: trong quá trình thay đổi tư thế dần đứng thẳng trên 2 chân từ vượn người sang người thông minh (homosapien), khối xương sọ mặt cũng chịu sự thay đổi đáng kể với sự gập góc nhiều hơn của nền sọ và sự tăng trưởng theo chiều dọc nhiều hơn. Sato và cộng sự thực hiện nhiều nghiên cứu chứng minh sự gập góc nền sọ đặc biệt ở vùng khớp bướm chẩm thông qua trung gian xương lá miá gây nên sự phát triển theo chiều đứng của khối XHT và XOR trên sau, 4 làm mặt phẳng nhai răng cối trên phẳng hơn và dẫn đến sự phát triển của SKC hạng III (hình 1.1A); ngược lại, có mối liên quan giữa: sự duỗi nền sọ, sự phát triển mạnh theo chiều trước sau, kém phát triển theo chiều đứng của khối XHT và khối XOR trên làm cho MPN răng sau dốc hơn và sự phát triển của SKC hạng II (hình 1.1 Mối liên hệ giữa động học hàm – sọ và các dạng SKC A. Chen chúc vùng răng sau hàm trên làm trồi răng cối HT và HD, làm phẳng MPN răng sau phẳng và gây hiệu ứng chèn ép (squeezing effect), kích thích XHD phát triển ra trước gây nên sai hình xương – sai khớp cắn hạng III (hình 1. Chen chúc răng sau và sự phát triển SKC hạng III cắn hở (Nguồn: Sato (2007) [5]) 1.
Đặc điểm hình thái sọ mặt và chẩn đoán sai hình xương – sai khớp cắn hạng III 1. Định nghĩa sai hình xương – sai khớp cắn hạng III Ballard: Sai hình xương hạng III thường được nhắc đến với thuật ngữ NHÔ HÀM DƯỚI (mandibular prognathism – lấy từ tiếng Hy Lạp: tiếp đầu ngữ pro đồng nghĩa với nhô ra trước và gnathos là hàm), sai hình xương này có thể là kết quả của nhô hàm dưới đơn thuần, ngắn/lùi hàm trên đơn thuần hoặc kết hợp cả 2 [18]. Angle: Sai khớp cắn hạng III (Class III malocclusion): Tương quan giữa 2 cung răng bất thường, với tất cả các răng của cung hàm dưới cắn khít về phía gần so với vị trí bình thường [18]. Tương quan khớp cắn hạng I và hạng III A.
Tương quan khớp cắn bình thường, B. SKC hạng III. Đặc điểm lâm sàng của sai hình xương – sai khớp cắn hạng III: • Đặc điểm thẩm mỹ mặt của sai hình xương hạng III: Việc đánh giá thẩm mỹ được thực hiện trực tiếp qua khám lâm sàng hay gián tiếp qua phân tích hình chụp mặt thẳng và mặt nghiêng. 6 Đánh giá thẩm mỹ mặt bao gồm phân tích sự cân xứng tỉ lệ các tầng mặt, sự cân xứng tỉ lệ các phần mặt qua đường giữa (hình 1.4), độ nhô cằm, độ nhô tầng mặt dưới so với các đường đánh giá thẩm mỹ (hình 1.5), vị trí 2 môi so với cằm và mũi khi nhìn nghiêng (hình 1.6), thẩm mỹ nụ cười (hình 1.
Đánh giá thẩm mỹ mặt A. Sự cân xứng các phần mặt, B. Tỉ lệ các tầng mặt nhìn thẳng, C. Tỉ lệ các tầng mặt nhìn nghiêng, D.
(Nguồn: Profitt (2019) [18]) BN kém phát triển XHT thường có mặt nhìn nghiêng lõm, vùng dưới mắt và cạnh mũi phẳng. Cằm ở vị trí bình thường, nghĩa là ở phía sau đường thẳng đứng đi qua điểm Na mô mềm [1]. Ngược lại, BN quá triển XHD có tầng mặt giữa bình thường, cằm ở vị trí ra trước so với đường thẳng đứng qua điểm Na mô mềm. Các bệnh nhân có sai hình hạng III kết hợp có cả hai biểu hiện trên [1].
Độ nhô môi trên và cằm so với đường đứng dọc qua điểm dưới ổ mắt và điểm Na mô mềm (phân tích Schwarz) A. Khuôn mặt hài hòa với môi trên và cằm nằm trong giới hạn 2 đường thẩm mỹ; B, C, D: Các biểu hiện sai hình xương hạng III với độ nhô môi trên và cằm khác nhau so với 2 đường thẩm mỹ Schwarz. (Nguồn: Jacobson (2006) [21]) 7 Độ nhô môi trên và môi dưới so với các đường thẩm mỹ phụ thuộc vào vị trí xương nền, độ nhô răng, bề dày mô mềm và trương lực cơ môi. Trong các trường hợp sai hình xương hạng III nặng, môi trên thường ở vị trí lùi và môi dưới nhô nhiều so với các đường thẩm mỹ (hình 1.6), thường biểu hiện tương quan môi đảo ngược (hình 1.
Các đường đánh giá thẩm mỹ A. Đường thẩm mỹ Steiner (S-line) qua điểm giữa cánh mũi và Pog mô mềm, B. Đường thẩm mỹ Ricketts (E-line) qua đỉnh mũi và Pog mô mềm, C. Đường thẩm mỹ Holdaway (H- line) qua điểm nhô nhất môi trên và Pog’, D.
Đường thẩm mỹ Arnett (True vertical line – TVL) – trục đứng dọc qua chân mũi. 1 trường hợp hạng III xương nặng thể hiện tương quan môi 2 môi đảo ngược (Nguồn:Posnick J. (2014)[23]) Cần đánh giá sự cân xứng của miệng (khi không cười/cười) và cằm so với đường giữa mặt qua sống mũi và nhân trung. Sai hình xương hạng III kết hợp với lệch cằm hoặc lệch MPN làm phức tạp quá trình điều trị (hình 1.
Đánh giá thẩm mỹ mặt thẳng cười giúp phát hiện các vấn đề bất cân xứng của cung R và nền xương (Nguồn:Profit (2019)[18]) • Đặc điểm khớp cắn của sai hình xương hạng III: Đánh giá đặc điểm khớp cắn được thực hiện trực tiếp qua khám lâm sàng trong miệng ở các tư thế chức năng HD và gián tiếp qua phân tích mẫu hàm nghiên cứu. Angle, Tweed, và Moyers phân SKC hạng III thành 3 loại: hạng III giả, hạng III răng – xương ổ răng, và hạng III xương nền. * Các dạng SKC hạng III có nhiều biểu hiện lâm sàng khác nhau trên nền sai hình xương bên dưới (hình 1. Các loại SKC hạng III trên nền sai hình xương khác nhau: A.
XHT bình thường, XHD bình thường, R cửa HT nghiêng trong, R cửa HD nghiêng ngoài; B. XHT lùi, XHD bình thường, R cửa HT nghiêng ngoài, R cửa HD nghiêng trong; C. XHT bình thường, nhô XHD, R cửa HT nghiêng ngoài, R cửa HD nghiêng trong; D. Lùi XHT, nhô XHD, R cửa HT nghiêng ngoài, R cửa HD nghiêng trong.
(2014)[1]) * Quy trình khám lâm sàng chẩn đoán các dạng SKC hạng III 9 Sơ đồ 1. Quy trình khám chẩn đoán phân biệt các dạng SKC hạng III (Nguồn: Ngan P. (2014)[1] Tác giả John Lin [4] nhấn mạnh việc khám chẩn đoán có hay không trượt hàm chức năng nhằm đánh giá chính xác tương quan khớp cắn cũng như mức độ trầm trọng của ca bệnh. * Sai khớp cắn – sai hình xương kết hợp theo chiều dọc, chiều ngang: - Chiều ngang: Cắn chéo răng sau 1 bên/2 bên là do răng khi kích thước nền XHT theo chiều ngang/ kích thước nền XHD theo chiều ngang ³ 80% và có sai lệch trục răng ở vùng SKC hay có trượt HD chức năng sang bên.
Tình trạng này là biểu hiện của hẹp nền XHT thực sự xảy ra trong 1 số hội chứng loạn sản sọ mặt hay do sai biệt chiều trước sau giữa XHT và XHD trong sai hình hạng III nặng. Lệch đường giữa R cửa có thể quan sát thấy trên nền xương bình thường (không có các sai lệch xương hàm theo chiều ngang) nhưng cũng có thể là biểu hiện 10 của lệch XHD (lệch cằm) sang bên do sai lệch chức năng (nhai 1 bên kéo dài / cản trở khớp cắn) hay do sai lệch thực thể thấy trong hội chứng phì đại nửa mặt và các chấn thương vùng mặt. Lệch mặt phẳng nhai thường là biểu hiện của cản trở khớp cắn hoặc các xáo trộn trong quá trình mọc R và hình thành khớp cắn; trong nhiều trường hợp, đó là biểu hiện của sự bất cân xứng nền xương phải và trái theo chiều đứng và tình trạng lệch XHD sang bên. - Chiều dọc: Khi XHD phát triển mở, xoay cùng chiều kim đồng hồ thì tầng mặt dưới dài và thường gây cắn hở R cửa.
Khi XHD phát triển hướng đóng, xoay ngược chiều kim đồng hồ thì tầng mặt dưới ngắn và thường kèm cắn sâu R cửa. Đặc điểm phân tích đo sọ của sai hình xương hạng III Bảng 1.1 Chỉ số đo sọ thông dụng chẩn đoán xác định hạng III xương.1 thể hiện 1 số chỉ số đo sọ thông dụng để chẩn đoán xác định tương quan xương hạng III. * Phân tích mô mềm: 11 Tương quan 2 môi so với các đường thẩm mỹ (hình 1.6) phản ánh phần nào vị trí nền xương và răng. Sai hình xương hạng III thường có tình trạng cắn ngược răng cửa khiến môi dưới nhô ra trước hơn giới hạn bình thường so với các đường thẩm mỹ kèm theo hay không lùi môi trên.
Góc mũi môi cũng là thông số thường được sử dụng trong nhiều phân tích đo sọ để đánh giá độ nhô môi trên so với mũi và được đề cập trong nhiều phân tích đo sọ. Với các trường hợp cắn ngược răng trước, góc này thường nhọn, nhất là trong các trường hợp mặt ngắn.