Đặt vấn đề Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới với nguồn dược liệu phong phú và đa dạng. Hệ thực vật Việt Nam có trên 10000 loài trong đó có khoảng 3200 loài cây thuốc. Thuốc chữa bệnh là một thành phần không thể thiếu được trong cuộc sống. Từ xa xưa cho đến hiện nay, con người đã biết sử dụng các cây cỏ vào điều trị bệnh.
Mặc dù các loại thuốc tây y chiếm một phần lớn trong phương pháp điều trị nhưng thuốc có nguồn gốc thảo dược vẫn đứng một vị trí hết sức quan trọng. Trên thế giới, nguồn thực vật vô cùng phong phú và là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều tác giả trong mục đích tìm kiếm chất mới có hoạt tính sinh học cũng như tìm ra các nguyên liệu chữa bệnh [21]. Việc nghiên cứu thuốc ở nước ta những năm gần đây đã có nhiều bước phát triển. Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của các loài thực vật giúp các nhà khoa học tìm hiểu sâu hơn và sử dụng hiệu quả hơn nguồn dược liệu sẵn có đồng thời góp phần thúc đẩy ngành công nghiệp hóa dược trong nước phát triển, khoa học hóa nền Y học Cổ truyền.
Diếp cá là một loại thực vật được trồng rất phổ biến ở Việt Nam và một số nước châu Á. Trong đông y, diếp cá được sử dụng trong các bài thuốc để trị bệnh trĩ, mụn nhọt, lên sởi, đau mắt [12]. Diếp cá là đối tượng nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau và đã được báo cáo là có khả năng kháng khuẩn, kháng viêm, tăng cường đáp ứng miễn dịch do chứa nhiều thành phần có hoạt tính sinh học cao, đặc biệt là các hợp chất thuộc nhóm flavonoid như rutin, quercetine [6]. Các hợp chất có hoạt tính sinh học hiện nay được nghiên cứu rất nhiều, đặc biệt hướng tách chiết chúng từ các loại cây cỏ, thảo dược và ứng dụng vào trong y học.
Từ thực tế đó chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu điều kiện tách chiết cao rau diếp cá” là một hướng nghiên cứu cần thiết. Mục đích - Nghiên cứu tối ưu hóa các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tách chiết cao rau diếp cá dựa trên khả năng chống oxy hóa. - Khảo sát một số thông số vật lý và thành phần hóa học có trong cao chiết rau diếp cá. Yêu cầu - Lựa chọn được phương pháp trích ly dịch chiết + Phương pháp tách chiết bằng sóng siêu âm.
+ Phương pháp tách chiết bằng bể ổn nhiệt. - Xác định được các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng chống oxy hóa của cao chiết: Nhiệt độ, thời gian, nồng độ cồn, tỷ lệ nguyên liệu/dung môi. - Khảo sát khả năng chống oxy hóa của cao rau diếp cá. - Xác định một số thành phần hóa học trong cao rau diếp cá.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Tối ưu hóa được quá trình tách chiết cao rau diếp cá dựa trên khả năng chống oxy hóa. Kết quả nghiên cứu thu được sẽ là nguồn tư liệu bổ sung cho các nhà nghiên cứu các hoạt tính sinh học của thực vật. Giúp sinh viên có cơ hội tiếp cận với các thao tác kỹ thuật trong thực tế, củng cố các kiến thức đã học.
Ý nghĩa thực tiễn Nhằm giúp cho việc ứng dụng rau diếp cá ở phạm vi rộng một cách khoa học hơn trong vấn đề chăm sóc sức khỏe. Giải thích một cách khoa học một số kinh nghiệm dân gian về ứng dụng của rau diếp cá. Là cơ sở cho các thử nghiệm sử dụng các hoạt chất có tính chống oxy hóa sử dụng trong y học, dược học và đời sống con người, góp phần nâng cao giá trị sử dụng của rau diếp cá. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Khái quát chung về cây rau diếp cá 2. Nguồn gốc và đặc điểm thực vật Cây diếp cá còn có tên là cây giấp cá, lá giấp, ngư tinh thảo. Tên khoa học là Houttuynia cordata Thunb. Giới: Plantae Bộ: Piperales Họ: Saururacea Chi: H.
Thunb Loài: Houttuynia Cordata [13]. Diếp cá là một loại cây thảo, sống lâu năm, cao 20 - 40cm. Thân ngầm mọc bò ngang trong đất, màu trắng, hơi có lông, bén rễ ở các mấu. Thân đứng, nhẵn, màu lục hoặc tím đỏ.
Lá mọc so le hình tim, đầu nhọn, mặt trên màu lục sẫm, mặt dưới màu tím, hơi có lông dọc theo gân lá của cả hai mặt, gân chính 7; cuống lá dài, có bẹ; lá kèm có lông ở mép. Cụm hoa hình bông dài 2 – 2.5cm, mọc ở ngọn thân, mang nhiều hoa nhỏ màu vàng nhạt; dài 4-6cm, rộng 3-4cm, có 5-7 gân gốc [3]. Hoa và lá diếp cá Hoa nở vào tháng 5 - 8. Cụm hoa hình bông dài 2.5cm bao bởi 4 lá bắc màu trắng, trong chứa nhiều hoa nhỏ màu vàng nhạt.
Trông toàn bộ bề ngoài của cụm n 4 hoa và lá bắc giống như một cái hoa đơn độc. Quả nang mở ở đỉnh, hạt hình trái xoan, nhẵn [13]. Rau diếp cá phân bố từ Nhật Bản, Trung Quốc tới Nêpan, Ấn Độ, các nước Đông Dương và Indonesia. Ở nước ta, cây mọc rất phổ biến.
Thường gặp mọc hoang nơi ẩm ướt trên các bãi ven suối, bờ sông. Cũng thường được trồng làm rau ăn và làm thuốc. Diếp cá là loại rau rất quen thuộc trong các bữa ăn hàng ngày của các gia đình Việt Nam, thường dùng làm rau ăn sống, làm gia vị cùng các loại rau khác [18]. Thành phần hóa học Bảng 2.
Thành phần hóa học của rau diếp cá [4]. STT Thành phần hóa học Hàm lƣợng Đơn vị 1 Nước 91.8 g% 6 Dẫn xuất không protein 2.2 g% 7 Kháng toàn phần 1.1 g% 8 Vitamin C 68 mg% 9 Carotene 1.3 mg% Trong diếp cá có khoảng 0.0049% tinh dầu và một ít chất alcaloid gọi là cordalin. Thành phần chủ yếu của tinh dầu là metylnonylxeton CH 3CO(CH2)8CH3 (có mùi rất khó chịu), chất myrcene C10H46, caprinic acid C9H19COOH và laurinaldehyde. Hoa và quả chứa chất isoquercitin và không chứa quercitin.
Độ tro trung bình là 11.4%, tro không tan trong HCl là 2. n 5 Thành phần hóa học của diếp cá gồm có: flavonoid, tinh dầu, alcaloid và một số thành phần khác [13]. Flavonoid Diếp cá có chứa thành phần flavonoid hết sức phong phú. Các flavonoid đáng chú ý trong diếp cá có thể kể đến như phloretin, afzelin, rutin, quercitrin, isoquercitrin [4].
Trong đó quercitrin, isoquercitrin và phloretin được coi là những hợp chất có tác dụng chống ung thư, tác dụng ngăn chặn gốc tự do và được dùng để điều trị. Ngoài ra còn một số flavonoid khác cũng không kém phần quan trọng: hyperin, avicularin [2]. H H O O O O H H O O H O O H O O O O O H O H H O O O H H O H Quercetin Quercitrin Tinh dầu Toàn thân diếp cá chứa tinh dầu, đây là thành phần làm cho dược liệu có mùi đặc biệt. Thành phần chủ yếu của tinh dầu diếp cá là các nhóm aldehyde và các dẫn xuất ceton như methyl n-nonyl ceton (đây là chất làm cho Diếp cá khi vò có mùi tanh), L-decanal, L-dodecanal.
Nhóm terpen bao gồm các chất : α-pinen, camphen, myrcene, limonene, linalol, bornyl acetate, geraniol và caryophyllene [3]. Ngoài ra, tinh dầu còn chứa acid caprinic, lauryl aldehyd, benzamid, acid hexadecanioc, acid decanoic, acid palmitic, acid linoleic, acid oleic, acid stearic, aldehyd capric, acid clorogenic, lipid và vitamin K [3]. n 6 Alcaloid Từ diếp cá đã phân lập được β-sitosterol, một số alcaloid có hoạt tính sinh học được tìm thấy trong cây diếp cá là: aristolactam A, aristolactam B, piperolactam A, norcepharadion B, cepharadion A, cepharadion B, splendidin [2]. Các thành phần khác Trong cây diếp cá còn có nhiều thành phần như: nước 91.8%, dẫn xuất không protein 2.2%, khoáng chất toàn phần 1.
Người ta còn tìm thấy trong thành phần diếp cá có chứa Fe, Mg, Mn đây là những khoáng chất rất cần thiết cho cơ thể, không tìm thấy các kim loại nặng như Asen, Cadimi, Chrom, hay Chì trong mẫu phân tích [4]. Hoạt tính sinh học Tác dụng kháng virus Theo Kyoko Hayashi và cộng sự diếp cá ức chế trực tiếp virus herpes chủng 1 (HSV-1), virus cúm, virus gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người loại 1 (HIV-1) mà không biểu hiện độc tính, nhưng không chống lại poliovirus và coxsackie virus. Mức độ giảm virus liên quan đến thời gian xử lý bằng thuốc. Ba thành phần chính có tác dụng là: xeton methyl n-nonyl, aldehyde lauryl và aldehyde capryl [26].
Tác dụng chống ung thƣ máu Công trình nghiên cứu của Chang Jung-San và cộng sự, mục đích để đánh giá tác dụng chống ung thư máu của H. Cordata và Bidens pilosa. Năm dòng tế bào ung thư máu, theo thứ tự là L1210, U937, K562, Raji và P3HR1 được nuôi cấy với chất chiết xuất của H. Cordata và Bidens pilosa.
Kết quả cho thấy chiết xuất từ các dược liệu trên có tác dụng ngăn chặn 5 dòng tế bào này [24]. Tác dụng chống viêm tuyến vú Công trình nghiên cứu được thực hiện tại trường Đại học Thú y, thuộc Viện đại học Nông nghiệp Zbejiang, Hangzbou, Trung Quốc. Cordata, các nhà nghiên cứu đã chiết xuất được chất Houttuynia, sau đó cho Houttuynia phản ứng với n 7 bisulphat natri để có được chất Houttuynin bisulphat natri. Từ chất này, họ đã chế biến được một dung dịch tiêm vào vú để điều trị bệnh viêm tuyến vú ở bò.
Thử nghiệm trên 52 trường hợp viêm tuyến vũ ở bò được chia làm 2 nhóm: nhóm 1 tiêm 80mg dung dịch H. bisulphat Na và nhóm 2 tiêm 800.000 đơn vị Penicillin kết hợp với 1g Streptomycin. Kết quả cho thấy 88.2% viêm tuyến vú đã điều trị khỏi với H. bisulphat Na, so với 90% được chữa lành với Penicillin + Streptomycin.
Như vậy, không có sự khác biệt đáng kể trong điều trị viêm tuyến vú cấp tính giữa 2 nhóm trên [30]. Tác dụng lợi tiểu Tác dụng này có được có thể là do liên quan đến các chất quercitrin, isoquercitrin và muối kali trong cây diếp cá. Khi dùng dịch chiết nước diếp cá để ngâm tưới trên thận của cóc và chân của ếch thì nhận thấy các vi mạch máu giãn nở, làm gia tăng sự lưu thông của máu và tạo ra sự tăng bài tiết nước tiểu. Chất isoquercitrin còn có tác dụng làm tăng sự bền chắc của các vi mạch máu.
Vì vậy các bệnh nhân cao huyết áp nên ăn thêm diếp cá để giúp lợi tiểu, hạ huyết áp, đồng thời giúp mạch máu vững chắc hơn [22]. Tác dụng chống oxy hóa Diếp cá có tác dụng kháng bleomycin (chất gây ra sự xơ hóa phổi ở chuột). Mặc dù dịch chiết nước diếp cá có tác dụng dọn sạch gốc tự do và tác dụng ức chế oxy hóa xanthin yếu hơn vitamin E nhưng hoạt tính ức chế sự peroxide hóa lipid tế bào gan ở chuột tương đương với vitamin E.