MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Lao động di cư là một hiện tượng tất yếu trong sự phát triển của nền kinh tế thế giới trong đó có Việt Nam. Lao động di cư, một mặt góp phần vào sự tăng trưởng của nền kinh tế, giảm tỉ lệ lao động thất nghiệp, tăng chỉ số GDP… nhưng mặt khác, nó cũng khiến nhiều hệ lụy cần đặc biệt quan tâm. Các cuộc khảo sát dân số trước đây cho thấy lao động di cư phần lớn tập trung về các thành phố, trung tâm công nghiệp lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Biên Hòa.vì đây là những địa phương tập trung nhiều nhà máy, khu công nghiệp cao, thiếu lao động.
Những lao động di cư đến những địa phương này có nhiều cơ hội kiếm việc làm và thu nhập cao hơn các địa phương khác. Bên cạnh đó người lao động di cư lên thành phố đang phải đối mặt với hàng loạt vấn đề về công việc cũng như trong đời sống, thiếu thông tin về pháp luật, về lao động dẫn đến họ có nhiều nguy cơ bị bóc lột sức lao động, họ dễ bị rơi vào tình trạng tuyển dụng trái phép hoặc thậm chí lao động với những công việc nằm ngoài sự bảo vệ của luật. Trong đời sống, họ phải đối mặt với mức sống thấp và họ khó tiếp cận hoặc bị hạn chế tiếp cận với các dịch vụ giáo dục, y tế, nhà ở. Chính vì vậy, theo quan điểm của các nhà xã hội học Lao động nhập cư ở đô thị là đối tượng thuộc nhóm yếu thế.
Điều đó được thể hiện qua những đặc điểm sau: Hầu hết làm nhiều nghề hoặc việc làm nặng nhọc, độc hại, trong điều kiện tồi tệ, bằng sức lao động giản đơn (làm thuê trong các công trường xây dựng, các cơ sở sản xuất/tái chế nhựa, may mặc, da giày…), bán hàng rong, giúp việc gia đình… Đa phần là các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc khu vực kinh tế phi chính thức (tư nhân, kinh tế gia đình hoặc tự làm việc). Hầu như họ không được ký hợp đồng lao động, hoặc nếu có hợp đồng lao động thì thường không được tham gia BHXH, BHYT. Thu nhập LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thấp và không ổn định (có thể bị mất việc làm bất cứ lúc nào), đi đôi với tay nghề thấp. Đa số phải sống trong những khu nhà trọ rẻ tiền, với điều kiện ở tạm bợ và tồi tệ (thiếu điện, thiếu nước sạch, điều kiện vệ sinh kém …).
Họ cũng rất ít tham gia vào các tổ chức đoàn thể và các tổ chức xã hội tự nguyện tại nơi đến (ở thành phố). Địa vị pháp lý của người di cư tại nơi đến là yếu tố quan trọng quyết định đến khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Địa vị này gắn liền việc họ có được đăng ký hộ khẩu thuộc loại nào. Ở Hà Nội, người lao động nhập cư từ nông thôn thường không đủ điều kiện để có hộ khẩu thường trú (KT1, KT2, KT3).
Trong trường hợp tốt nhất, họ có thể đăng ký tạm trú ngắn hạn (KT4) với các điều kiện rất hạn chế. Vì vậy, khả năng hòa nhập vào cộng đồng dân cư nơi đến cũng thường rất hạn chế. Họ thường được bình đẳng so với người dân đô thị trong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Mặt khác, bản thân cơ sở hạ tầng cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân đô thị như y tế, giáo dục, nhà ở, vệ sinh môi trường…cũng đang bị quá tải.
Các chính sách quản lý lĩnh vực này cũng còn nhiều bất cập. Trong bối cảnh đó, người lao động nhập cư và gia đình họ gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, cụ thể là việc làm và các nhu cầu về dịch vụ xã hội cơ bản. Những nghiên cứu gần đây về lao động nhập cư thường theo 2 hướng chính: Một là, nghiên cứu về quá trình hội nhập, khả năng thích ứng, những khó khăn, rào cản…. người nhập cư gặp phải tại điểm đến, thường chủ yếu tập trung vào nghiên cứu lao động nhập cư theo diện cá nhân, đơn lẻ, ít tính đến những nhóm lao động nhập cư dưới dạng hộ gia đình.
Hướng thứ 2 là nghiên cứu về tích chất, cách thức tổ chức đời sống gia đình của lao động nhập cư cả ở điểm đi và điểm đến. Cả 2 hướng nghiên cứu này hiện đang dừng lại ở tính chất nhận diện vấn đề từ đó đề xuất những kiến nghị về mặt chính sách bảo trợ xã hội cấp vĩ mô đối với người lao động nhập cư. Đồng thời, qua tìm hiểu thực tế cho thấy, những nghiên cứu chuyên đề làm thông 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tin nền tảng, dữ liệu cho những hoạt động của các mô hình CTXH can thiệp/hỗ trợ trực tiếp đối với lao động nhập cư xuất phát từ chính nhu cầu, vấn đề thực tế họ đang gặp phải hiện còn ít và thiếu. Một số mô hình can thiệp trong CTXH đối với lao động nhập cư đã áp dụng chưa thực sự hiệu quả và không mang tính bền vững.
Nguyên nhân chính là do không nắm bắt được nhu cầu thực tế cũng như những rào cản hiện tại mà họ đang gặp phải. Đây là một hướng đi và 1 hướng nghiên cứu mới cần được quan tâm hơn trong bối cảnh đời sống của người lao động nhập cư đang gặp nhiều khó khăn như hiện nay. Điều này cũng phù hợp với cách tiếp cận mới về nghèo đói của Việt Nam trong vài năm trở lại đây, khi khái niệm “Nghèo đa chiều” được nhắc đến rất nhiều trong các cuộc hội thảo và các văn bản chính sách. Cách tiếp cận mới này chỉ ra không chỉ xem xét nghèo về khía cạnh thu nhập mà còn nghèo về việc tiếp cận dịch vụ xã hội.
Cụ thể hơn đó chính là việc tiếp cận các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, mặc, học hành, khám chữa bệnh, nhà ở, sử dụng nước sạch…sự thiếu hụt một hoặc một số các nhu cầu đó được coi là nghèo. Việc tiếp cận, sử dụng dịch vụ xã hội cơ bản là quyền lợi của người dân và từ những thực tế trên, tác giả chọn để tài “Tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản của các gia đình nhập cư tại Hà Nội” nhằm đánh giá đúng tình trạng và nhu cầu sử dụng dịch vụ xã hội cơ bản, tìm hiểu về những yếu tố tác động đến việc tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, đánh giá về các mô hình công tác xã hội can thiệp đã và đang thực hiện tại phường Phúc Xá, Ba Đình, Hà Nội. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Nghiên cứu về người di cư/nhập cư thực sự đã trở thành một trong những đối tượng nghiên cứu mang tính thời sự của khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt trong xã hội học và công tác xã hội. Sự di cư diễn ra ngày càng phức tạp cộng với tính dễ bị tổn thương đang kéo theo nhiều vấn đề như môi trường, việc làm, thất nghiệp cũng như vấn đề an sinh xã hội, chăm sóc sức 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khỏe, giáo dục, vấn đề trợ giúp pháp lý…Gần đây đã có nhiều nghiên cứu về di cư nhằm tìm hiểu thực trạng cũng như ảnh hưởng của quá trình di cư đến việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người di cư/nhập cư tự do tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng…Có thể kể ra một số nghiên cứu, chương trình tiêu biểu dưới đây: “Dịch vụ xã hội cho người nhập cư ở Hà Nội” do Lê Văn Toàn – Học viện chính trị - Hành chính Quốc gia viết, đăng trên Tạp chí Dân số Việt Nam/số 3 (108)/2010.
Nghiên cứu chỉ ra cùng với khó khăn do thu nhập thấp, người nhập cư ở đô thị có rất ít khả năng và cơ hội đến được với hệ thống các dịch vụ xã hội cơ bản. Các vấn đề xã hội nảy sinh do nhiều nguyên nhân, trong đó có mối quan hệ giữa hộ khẩu và việc tiếp cận các dịch vụ xã hội đối với người nhập cư. Người lao động nhập cư thường phải trả tiền cho các dịch vụ xã hội cơ bản với mức chi phí khá cao: tiền điện, dịch vụ y tế, giáo dục, vệ sinh môi trường…Những chương trình y tế, các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ thường ít khi đến được với người nhập cư, thậm chí bị bỏ qua vị thế không chính thức của họ về mặt pháp lý (không có hộ khẩu) ở nơi nhập cư. Bài viết đã chỉ ra thực trạng đời sống cũng như những khó khăn mà người nhập cư tự do hiện nay đang gặp phải.
Tuy nhiên, bài viết chưa đi vào đánh giá từng dịch vụ xã hội cơ bản,và chưa chỉ ra những rào cản khiến người nhập cư không tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản như những người dân bản địa. Nghiên cứu “Dịch vụ xã hội phục vụ phát triển con người - Báo cáo phát triển con người năm 2011 – UNDP” (Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc hợp tác với Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội Việt Nam), đã đề cập đến vấn đề chênh lệch về tiếp cận y tế, giáo dục trong nhóm dân nhập cư tại các thành phố lớn và cũng chỉ ra rằng rào cản lớn nhất đối với người di cư từ nông thôn ra thành thị trong tiếp cận dịch vụ y tế và giáo dục là sự phụ thuộc vào hệ thống đăng ký hộ khẩu. Người di cư vẫn còn tên trong hộ khẩu gia đình ở các xã, phường gốc, nhưng trên thực tế lại sống tạm thời hoặc lâu dài 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tại đô thị nơi đến mà chưa đăng ký. Những người di cư không đăng ký hộ khẩu tại nơi đến có hai lựa chọn: hoặc xin vào các trường bán công hoặc tư thục với học phí cao hơn, hoặc trả thêm tiền để con của họ được nhận vào các trường công.
Nhiều người di cư để con cái của họ ở lại quê với gia đình hoặc hàng xóm và chuyển tiền kiếm được về để hỗ trợ học hành và chăm sóc cho con cái. Cách thức này gây căng thẳng lớn về tình cảm giữa người di cư và con cái họ. Tương tự như vậy, người di cư không có hộ khẩu tại nơi ở mới và những người không phải cư dân chính gốc thường không đủ điều kiện để được hưởng các dịch vụ xã hội trong các chương trình xoá đói giảm nghèo quốc gia, bao gồm cả các khoản vay lãi suất thấp, khám chữa bệnh miễn phí và miễn học phí.