CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DỊCH VỤ THUẾ, CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ THUẾ VÀ SỰ TUÂN THỦ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Những vấn đề lý luận 1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - OECD [166] định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) được xác định như một doanh nghiệp (DN) độc lập với số lượng lao động ít.
Tiêu chí lao động ở DNNVV thay đổi theo từng quốc gia với mức trần là 250 lao động ở Châu Âu, tuy nhiên một số nước chỉ 200 lao động, ở Mỹ là 500 lao động. Ở Việt Nam, theo quy định hiện hành, Luật Doanh nghiệp 2014, Luật hỗ trợ DNNVV 2017, Nghị định chi tiết quy định Luật Hỗ trợ DNNVV 2018 nêu rõ số lượng lao động ở DNNVV từ 10 lao động trở lên và không quá 200 lao động, trong đó DN siêu nhỏ có số lao động không quá 10 người, doanh thu và vốn đến 3 tỷ; DN nhỏ có số lao động từ không quá 100 lao động, doanh thu không quá 100 tỷ và vốn không quá 50 tỷ và DN vừa có số lao động không quá 200 lao động, doanh thu không quá 300 tỷ và vốn không quá 100 tỷ. Quy định này có sự thay đổi đáng kể so với quy định trước đây từ năm 2009 (theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ). Việc phân loại cũng được phân biệt riêng đối với ngành thương mại và dịch vụ (Bảng 1.
Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa STT Loại hình Lao động Doanh thu Nguồn vốn 1 Doanh nghiệp siêu nhỏ <= 10 người <= 3 tỷ <= 3 tỷ Riêng thương mại dịch vụ <= 10 người <= 10 tỷ <= 3 tỷ 2 Doanh nghiệp nhỏ <= 100 người <= 50 tỷ <= 20 tỷ Riêng thương mại dịch vụ <= 50 người <= 100 tỷ <= 50 tỷ 3 Doanh nghiệp vừa <= 200 người <= 200 tỷ <= 100 tỷ Riêng thương mại dịch vụ <= 100 người <= 300 tỷ <= 100 tỷ Nguồn: Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Hỗ trợ DNNVV 2017, Nghị định 39/2018/NĐ-CP Ở Việt Nam, DNNVV là loại hình DN quan trọng chiếm hơn 98% tổng số DN đang hoạt động, đóng góp khoảng 45% GDP, 31% tổng thu ngân sách nhà nước 9 (NSNN) và tạo công ăn việc làm cho hơn 5 triệu lao động [14]. Tuy nhiên, quy mô DNNVV phần lớn là DN nhỏ và siêu nhỏ, có hiệu quả kinh doanh thấp rất cần sự hỗ trợ của các cơ quan quản lý nhà nước [14]. Bên cạnh đó, DNNVV được hưởng rất nhiều hỗ trợ từ Chính phủ, ví dụ như: Hỗ trợ tiếp cận tín dụng, quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV; Hỗ trợ thuế, kế toán; Hỗ trợ mặt bằng sản xuất; Hỗ trợ công nghệ; Hỗ trợ cơ sở ươm tạo. cơ sở kỹ thuật, khu làm việc chung; Hỗ trợ mở rộng thị trường; Hỗ trợ thông tin, tư vấn và pháp lý; Hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực [35].
Bên cạnh đó, DNNVV chuyển đổi từ hộ kinh doanh, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo được hưởng thêm nhiều hỗ trợ nữa từ phía nhà nước trong việc vay vốn kinh doanh hay được tài trợ bởi Quỹ phát triển DNNVV do Thủ tướng Chính phủ thành lập. Để thống nhất quản lý nhà nước về hỗ trợ DNNVV, Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan được Chính phủ phân công làm đầu mối phụ trách và hỗ trợ DNNVV trên cả nước. Về vấn đề thuế, Bộ Tài chính thực hiện hướng dẫn về thủ tục hành chính thuế, chế độ kế toán cho doanh nghiệp siêu nhỏ; việc thực hiện các chính sách thuế, phí, lệ phí đối với DNNVV, thực hiện công bố thông tin về việc chấp hành pháp luật về thuế và việc thực hiện nghĩa vụ tài chính khác của DNNVV để xây dựng hệ thống thông tin phục vụ xếp hạng tín nhiệm DNNVV. UBND tỉnh Thừa Thiên Huế (TT Huế) đã kịp thời ban hành quy định hỗ trợ DNNVV với nhiều chính sách cụ thể như hỗ trợ mặt bằng, hỗ trợ đổi mới công nghệ hay thủ tục hành chính và tiếp cận dịch vụ công tạo thuận lợi cho DN như dịch vụ thuế [51].
Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa Nghiên cứu của Inasius [121] cho thấy các DNNVV đối mặt với gánh nặng pháp lý, đặc biệt là tuân thủ thuế như chính sách thuế phức tạp, khó tuân thủ, do đó việc giảm gánh nặng và tính phức tạp thuế là cần thiết. Bên cạnh việc DNNVV gặp khó khăn về tuân thủ thuế, cơ quan thuế (CQT) cũng thường đối mặt với tình huống khó xử giữa việc cho tạo thuận lợi cho DNNVV và công tác quản lý thuế (QLT) [58]. DNNVV có đặc điểm thường gặp khó khăn khi tiếp cận với chính sách pháp luật [50, 56], thiếu kiến thức về thuế [56, 140], chi phí tuân thủ cao [75]. Nghiên cứu của Oladipupo và Obazee [179] chỉ ra rằng các DNNVV ít quan tâm đến chính sách pháp luật thuế bởi thiếu kiến thức thuế hoặc không có khả năng hiểu chính sách pháp luật thuế.
Điều này có ảnh hưởng đến vấn đề tuân thủ thuế của DNNVV trong việc kê khai, nộp thuế và báo cáo thuế. DNNVV thường gặp rủi ro về thuế khi thanh tra kiểm tra (TTKT) dẫn đến truy thu thuế, xử phạt vi phạm hành chính về thuế. 10 Theo OECD [167], các DNNVV đại diện cho một nhóm rủi ro cao ở hầu hết các quốc gia do DNNVV chiếm số lượng rất lớn và thu nhập của DNNVV không cố định và dễ dàng xác minh dữ liệu với bên thứ ba. Ngoài ra, DNNVV thiếu việc xây dựng cơ cấu tổ chức để lưu giữ hồ sơ kế toán và sử dụng tiền mặt nên dễ dàng rủi ro báo cáo dưới ngưỡng so với doanh nghiệp lớn.
Adegboye và cộng sự [58] cho rằng DNNVV được CQT quan tâm hỗ trợ để thực hiện nghĩa vụ thuế, tạo thuận lợi cho DNNVV phát triển và thực hiện ưu đãi thuế đối với DNNVV tạo việc làm cho người lao động. Các trường hợp cung cấp ưu đãi thuế cho các DNNVV thường dựa trên vai trò của các DNNVV trong nền kinh tế, đặc biệt là về đóng góp của họ trong tạo công ăn việc làm và sự đổi mới sáng tạo. Do đó, nhiều thách thức phát sinh trong QLT đối với DNNVV bao gồm các vấn đề cơ sở thuế, giáo dục thuế và quản lý cấu trúc thuế. Vấn đề thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Nhận thức về thuế là vấn đề DNNVV đối mặt khi quy mô nhỏ, đội ngũ kế toán thuế không chuyên nghiệp trong mô mình kinh doanh gia đình hay kinh doanh cá nhân [58].
DNNVV cần hiểu về thuế, chính sách thuế, thuế suất đối với ngành nghề đang kinh doanh để thực hiện tốt chính sách pháp luật thuế [175]. Nhiều khuyến nghị từ phía các tổ chức nghiên cứu về vấn đề QLT đối với DNNVV là cần gia tăng hỗ trợ ngay từ khi DN bắt đầu khởi sự hoạt động kinh doanh (Right from the start) hay sử dụng mã nguồn mở, ứng dụng công nghệ số hay quy trình đầu cuối (End to End) nhằm mục tiêu gia tăng việc thực hiện đúng chính sách thuế và xu hướng quản lý thuế theo quan điểm dịch vụ thông qua tương tác giữa DNNVV và CQT [174]. Theo OECD [176], thay đổi quan điểm cung cấp dịch vụ thuế của CQT rất quan trọng trong việc tạo cơ hội cho DNNVV tuân thủ thuế dễ dàng nhằm mục tiêu không chỉ thu thuế mà còn góp phần tạo việc làm, đổi mới sáng tạo và tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh dịch vụ thuế truyền thống, loại hình dịch vụ thuế mới với giải pháp chất lượng cao, giảm chi phí là những vấn đề cần tính đến đối với CQT.
Ayuba và cộng sự [73] phát hiện xu hướng dịch vụ cảm nhận gắn với sự thân thiện, hợp tác tạo thuận lợi cho NNT sẽ có ảnh hưởng tích cực đến tuân thủ thuế của DNNVV. Hệ thống chính sách pháp luật thuế của CQT phức tạp với nhiều mẫu biểu 11 cũng là thách thức đối với DNNVV [73], do đó, cung cấp dịch vụ thuế để DNNVV dễ dàng tuân thủ thuế giải quyết các vướng mắc để tuân thủ thuế tốt hơn là vô cùng cần thiết [117]. Dịch vụ thuế 1. Khái niệm dịch vụ thuế Dịch vụ thuế: Dịch vụ thuế - Tax Services của CQT ở Việt Nam được xem là dịch vụ hỗ trợ thuế của CQT nhằm hỗ trợ người nộp thuế (NNT), gắn với quyền lợi của NNT theo Luật QLT.
Khái niệm dịch vụ hỗ trợ thuế và dịch vụ thuế của CQT là đồng nhất, được xem là dịch vụ công tiện ích đồng hành cùng NNT để giải quyết các vướng mắc khi thực hiện chính sách pháp luật thuế. CQT thực hiện dịch vụ hỗ trợ cung cấp thông tin và hướng dẫn NNT thực hiện tuân thủ thuế qua các kênh thông tin khác nhau nhằm hướng dẫn NNT tuân thủ chính sách pháp luật thuế [128]. Hầu hết các CQT trên thế giới thực hiện cung cấp dịch vụ thuế như cung cấp thông tin cho NNT, hay hỗ trợ NNT khi không thành công trong việc thực thi chính sách pháp luật thuế. Dịch vụ thuế của CQT là dịch vụ công của cơ quan quản lý nhà nước hướng đến tạo thuận lợi cho DN dựa trên nhu cầu của DN gắn với quyền lợi của DN theo quy định của pháp luật.
Cụ thể đối với dịch vụ công của CQT yêu cầu sự đảm bảo hệ thống dịch vụ khai thuế, nộp thuế, báo cáo thuế hay đăng ký thuế đáp ứng yêu cầu của NNT [89]. Tuyên truyền hỗ trợ thuế: Ở Việt Nam, dịch vụ thuế của CQT là công tác tuyên truyền và hỗ trợ (TTHT) NNT bao gồm tuyên truyền chính sách pháp luật thuế và hỗ trợ NNT thực hiện chính sách thuế theo Luật Quản lý thuế. Bên cạnh việc hỗ trợ qua điện thoại, qua email, qua văn bản trả lời hay hỏi trực tiếp tại CQT, các phần mềm hỗ trợ trực tuyến và không trực tuyến, các trang thông tin điện tử, báo chí, truyền hình, phát thanh cung cấp thông tin về thuế đã được triển khai thực hiện nhằm đa dạng hóa loại hình TTHT NNT [43], [44], [45], [46], điều này tương đồng với dịch vụ thuế của CQT ở một số nước trên thế giới [127, 176]. Xu hướng QLT hiện đại xem NNT là khách hàng hơn là đối tượng sai phạm, định hướng dịch vụ đối với NNT cá nhân [105].
Dịch vụ thuế ở Đan Mạch bao gồm các loại hình như: gởi vướng mắc bằng văn bản đến CQT, NNT đến trực tiếp CQT để giải quyết 12 vướng mắc, hay gởi email, điện thoại đến CQT, CQT cung cấp chính sách thuế qua trang thông tin điện tử hay giải quyết vướng mắc của NNT tự động không tiếp xúc (Phụ lục 1.