Chương 1: Cơ sở lý thuyết Chương 2: Khảo sát dịch loại từ tiếng từ tiếng Việt sang tiếng Hán trong hai tác phẩm “Tướng về hưu” và “Hai người đàn bà xóm trại” Chương 3: Các thủ pháp chuyển dịch loại từ tiếng Việt sang tiếng Hán 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Loại từ tiếng Việt 1.1 Tình hình nghiên cứu về loại từ tiếng Việt 1.1 Những thành quả đạt đƣợc Có thể nói, loại từ (classifier), một trong số ít tiểu loại từ loại của tiếng Việt đã được chú ý từ rất sớm và được tranh luận sôi nổi trong giới Việt ngữ học ở trong nước cũng như quốc tế. Cho đến nay, mặc dù chưa có các tác phẩm chuyên môn nghiên cứu về loại từ tiếng Việt, nhưng vấn đề loại từ trong tiếng Việt được đặt ra từ rất sớm trong các công trình nghiên cứu có liên quan đến tiếng Việt. Những nghiên cứu liên quan đến loại từ tiếng Việt chủ yếu tập trung vào những vấn đề như sau: vấn đề phân loại loại từ, đặc trưng ngữ nghĩa của loại từ, chức năng ngữ pháp của loại từ và hình thức ngữ pháp của loại từ v. Trong đó, những nhà nghiên cứu tiêu biểu và thành quả nghiên cứu tiêu biểu về vấn đề loại từ phải kể đến Nguyễn Tài Cẩn (1975) với “Từ loại trong danh từ tiếng Việt hiện đại”; Nguyễn Kim Thản (1963) với “Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt”; Đinh Văn Đức (1986,2001,2015) với “Ngữ pháp tiếng Việt - Từ loại”; Phan Ngọc (1988) với “Thử trở lại câu chuyện loại từ”; Cao Xuân Hạo (1998, 1999) với “Tiếng Việt, mấy vấn đề về ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa” và “Nghĩa của loại từ”; Nguyễn Phú Pong (2000) với “Những vấn đề về ngữ pháp tiếng Việt - Loại từ và chỉ thị từ” v.
Những tác phẩm này đều thảo luận về vấn đề loại từ tiếng Việt. Ngoài ra, còn có nhiều học giả khác từng nghiên cứu về vấn đề này. Tuy nhiên, do thời lượng có hạn, nên trong luận văn này chỉ điểm lại các tác giả và tác phẩm tiêu biểu, điển hình nhất. Tuy những nghiên cứu về loại từ tiếng Việt cho đến nay vẫn chưa có nhiều công trình tầm cỡ và mang tính toàn diện, hệ thống, nhưng trong quá trình nghiên cứu và thảo luận của các nhà Việt ngữ học đã đạt những thành tựu nhất định.
Có thể nói tất cả các nhà Việt ngữ từng nghiên cứu về vấn đề này đều có những đóng góp đáng kể 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho việc nghiên cứu loại từ tiếng Việt.2 Những vấn đề còn tồn tại Nhìn lại thành quả nghiên cứu về loại từ tiếng Việt, chúng tôi thấy, bên cạnh những thành quả đạt được, vẫn còn một số tồn tại như sau: + Phân loại của loại từ vẫn chưa có một quy tắc xác định. Tuy các học giả đã dành tâm huyết thảo luận về vấn đề này, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một cách phân loại đủ sức thuyết phục được mọi người thừa nhận. + Về việc đặt tên loại từ cũng tồn tại nhiều khác biệt, có nhà Việt ngữ học gọi là “tiền danh từ”, có người gọi là “phó danh từ”, “danh từ đơn vị” v. Hiện nay, giới Việt ngữ học nhìn chung đã thống nhất cách gọi là “loại từ”.
+ Tính không cân đối trong nội bộ nghiên cứu của loại từ Trong những tác phẩm nghiên cứu về loại từ, phần lớn là nghiên cứu về danh loại từ, ít có những công trình nghiên cứu về động loại từ. Sở dĩ phân loại và gọi tên của loại từ tiếng Việt vẫn chưa thống nhất là vì các nhà nghiên cứu đã tiếp cận loại từ tiếng Việt từ các góc độ khác nhau và trên các tiêu chuẩn có phần khác nhau. Sự khác biệt nêu trên cũng chứng minh rằng: loại từ tiếng Việt hiện vẫn trong quá trình phát triển và dần dần hoàn thiện.2 Chính danh của loại từ tiếng Việt Thuật ngữ “classifier” trong tiếng Việt gọi là “loại từ”, trong tiếng Hán gọi là “量词” lượng từ. Chính vì thuật ngữ “loại từ” trong tiếng Việt hiện nay đã từng có những tên gọi khác nhau.
Do đó, quá trình chính danh của loại từ tiếng Việt cũng là vấn đề cần quan tâm. Về nghiên cứu vấn đề loại từ tiếng Việt, do các nhà Việt ngữ học đã tiếp cận loại từ từ các góc độ khác nhau và theo những tiêu chuẩn khác nhau, cho nên cho đến hiện nay vẫn tồn tại hai khuynh hướng lớn về quy loại loại từ khác nhau: + Khuynh hướng thứ nhất: Xem loại từ thuộc phạm trù loại danh từ, coi chúng là một nhóm từ khá đặc biệt trong từ loại danh từ. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Khuynh hướng thứ hai: Tách loại từ ra khỏi phạm trù danh từ, xem loại từ như một từ loại riêng. Do quy loại loại từ chưa được xác định, việc định danh loại từ vẫn tồn tại những quan điểm không giống nhau.
Chẳng hạn, những nhà Việt ngữ học theo khuynh hướng thứ nhất gồm Trần Trọng Kim (1948) trong “Giáo trình Việt ngữ”, Đinh Văn Đức (1986) trong “Ngữ pháp tiếng Việt -Từ loại”, Bùi Đức Tịnh (1968) trong “Loại từ”, Nguyễn Phú Phong (2000) trong “Một số vấn đề ngữ pháp tiếng Việt -Lượng từ và đại từ chỉ thị”, Lưu Văn Lăng (1997) trong “Một số vấn đề loại từ tiếng Việt” đều gọi là “Loại từ”. Những học giả theo ý kiến thứ hai gồm: Phan Khôi (1955) trong “Việt ngữ nghiên cứu” gọi là “ Tiền danh từ”. Nguyễn Lân (1955) trong “Ngữ pháp Việt Nam”, Nguyễn Kim Thản (1963) trong “Nghiên cứu về vấn đề tiếng Việt” và Nguyễn Minh Thuyết ( 1995) trong “Quanh cái tên người” gọi là “Phó danh từ”. Nguyễn Tài Cẩn (1975) trong “Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại” và Cao Xuân Hạo (1982) trong “Tính đếm được và hai loại danh từ trong tiếng Việt” gọi là “Danh từ chỉ đơn vị”.
Hồ Lê (1983) trong “Cần tháo gỡ những rắc rối về khái niệm lượng từ” gọi là “Danh từ đơn vị đối tượng”. Nguyễn Hữu Quỳnh (2001) trong “Ngữ pháp tiếng Việt” gọi là “Danh từ chỉ loại”. Về việc quy loại loại từ tiếng Việt, hiện nay vẫn tồn tại hai khuynh hướng đã nêu trên. Khuynh hướng thứ nhất coi loại từ là một nhóm từ thuộc từ loại danh từ.
Những nhà Việt ngữ học như Trương Văn Chình, Diệp Quang Ban, Nguyễn Tài Cẩn, Cao Xuân Hạo, Hồ Lê. đều nhất trí với quan điểm này. Nguyễn Tài Cẩn cho rằng, loại từ là một bộ phận của nhóm danh từ chỉ đơn vị. “Đây là một nhóm không có ý nghĩa từ vựng rõ ràng và chuyên dùng để phục vụ việc đếm từng cá thể, từng đơn vị tự nhiên của sự vật cũng như phục vụ cho việc phân chia sự vật thành các loại.” Ông lại coi loại từ và danh từ thành danh ngữ, danh ngữ là một tập hợp thể gồm có 2 vị trí (T1 và T2).
Ví dụ: một anh sinh viên. Trong đó, anh: T1, sinh viên:T2. Một cuốn sách. Trong đó, cuốn:T1, sách: T2.
Ông lý giải T1 và T2 là hai bộ phận của một trung tâm ghép, T1 là trung tâm về mặt ngữ pháp, T2 là trung tâm về mặt ý 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghĩa từ vựng. Khuynh hướng thứ hai xem loại từ là một tiểu loại từ loại của nó. Các nghiên cứu về loại từ là một tiểu loại từ loại tồn tại độc lập bên cạnh các từ loại khác, có chức năng bổ trợ cho danh từ. Những nhà Việt ngữ học như: Emeneau, Phan Khôi, Trần Trọng Kim, Bùi Đức Tịnh, Lưu Văn Lăng.
ủng hộ quan điểm này. Trong đó, Lưu Văn Lăng (1997) trong “Một số vấn đề loại từ tiếng Việt” tuy không thừa nhận gọi loại từ thành danh từ, nhưng ông cũng khẳng định “loại từ vốn là danh từ đơn vị”.3 Phân loại loại từ tiếng Việt hiện đại 1.1 Tóm tắt lịch sử phân loại loại từ tiếng Việt Do các nhà Việt ngữ học có những tiêu chuẩn khác nhau về quy loại và chính danh loại từ tiếng Việt, dẫn tới nhận thức về thuộc tính và đặc trưng của loại từ có sự khác biệt, cho nên đối với phân loại loại từ còn tồn tại sự bất đồng lớn. Phân loại theo góc độ khác nhau cũng sẽ có những kết quả khác nhau. Ví dụ, trong lịch sử phân loại loại từ tiếng Việt, các nhà Việt ngữ học đã chia thành 2 loại, 3 loại, thậm chí là 4 loại.
- Phương pháp phân chia thành hai loại: + Nguyễn Tài Cẩn căn cứ vào chức năng và cách dùng, chia loại từ thành hai loại: gồm “Những loại từ chuyên nghiệp”, như đứa, thằng, con, cái. “Những loại từ lâm thời”, như người , anh, chị, cây, quả… + Phan Ngọc cũng chia loại từ thành hai loại: “Loại từ thực thụ” như: cái, con, bộ, bức, hòn, cuộc, tờ. và “Loại từ giả hiệu”, như: người, anh, em, hộp, chai, lọ, giờ, phút, đồng.[19] - Phương pháp phân chia ba loại: + Nguyễn Tài Cẩn dựa vào đặc điểm và nội dung lại chia loại từ thành ba loại: “Loại từ chỉ người” như: đứa, thằng. “Loại từ chỉ đồ đạc” như: cái, chiếc.
“Loại từ chỉ động vật, thực vật” như: con, cây, quả.” [2, tr123] + Hồ Lê chia loại từ tiếng Việt thành ba loại: “Danh từ chỉ đơn vị đối tượng” như: con, cái, cây, ngôi, giọt, ông, vị, dãy, trái, ly. “Danh từ chỉ đơn vị hành động” như: 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giấc, cú, lần, lượt. và “Danh từ chỉ số lượng” như: chục, nghìn, vạn, triệu. + Trương Văn Chính, Nguyễn Hiến Lê dựa vào chức năng của loại từ chia loại từ thành ba loại: “Loại từ phổ thông” như: cái, con, chiếc.
“Loại từ chuyên biệt” như: cuốn, quyển, mớ, kẻ, thằng. “Loại từ đồng hóa” như: anh, chị, nỗi, niềm, sự, cuộc. [9] + Trần Đại Nghĩa chia loại từ thành hai loại: “loại từ chỉ loài chung” như: con, cái. Và “Loại từ chỉ loại riêng” như: bức, quyển, đứa, vị, thằng.
- Phương pháp phân chia bốn loại: + Nguyễn Phú Phong chia loại từ thành 4 loại, gồm: loại từ cá thể, loại từ đo lường, loại từ tập thể và loại từ động từ. Sở dĩ loại từ được phân chia thành nhiều tiểu loại khác nhau như vậy là vì các nhà Việt ngữ học đã tiếp cận nó từ các góc độ khác nhau và từ các cách lý giải có phần khác nhau.