mở đầu cho việc nghiên cứu “địa văn học”, nó đã chi phối khái niệm “địa văn học” — khái niệm đã đạt được sự thống nhất của các học giả trước đây đã nghiên cứu văn học từ góc độ khu vực và không gian — với những thành tựu vô cùng to lớn, địa văn học trở thành một bộ môn nghiên cứu văn học được nhiều người quan tâm. Trong khoảng hơn 20 năm, ít nhất có 800 bài báo, 200 công trình nghiên cứu lý thuyết địa văn học đã được xuất bản chỉ tính riêng ở Trung Quốc đại luc. Các công trình này được triển khai dưới nhiều hướng nghiên cứu khác nhau: nghiên cứu phân bố địa văn học như Địa văn học quốc gia Nguy Tan (2001) của Hồ Á Tường, Diễn biến và hình thái của địa văn học Trung Quốc cổ dai (2006) của Mai Tân Lam.; nghiên cứu về đặc điểm và sự khác biệt khu vực của các tác phẩm văn học như Bắc “phong” và Nam “tao” (1997) của Đào Lễ Thiên, Nghiên cứu văn học Nam triéu và văn học Bắc triéu (1999) cua Tao Đạo Hoành, Văn hóa khu vực và thơ ca triéu đại nhà Đường (2006) của Đới Vĩ Hoa.; nghiên cứu về trường phái văn học mang tính khu vực có thê kê đến Tong bàn về trường phái Bắc Kinh và trường phái Thượng Hai (2003) của Dương Nghĩa, Văn hoc: Quan điểm khu vực (2003) của Trần Khánh Nguyên.; nghiên cứu lịch sử văn học khu vực tiêu biểu có Lịch sử văn học Hồ Bắc (1995) do Vương Té Châu và Vuong Trach Long, Lich sử văn học Giang Tây (2005) do Ngô Hải va Tang Tử Lỗ chủ biên. Vào thang 11 năm 2011, Viện Văn học thuộc Học viện Khoa học Xã hội Giang Tây và Khoa Trung Quốc của Dai học Quảng Châu đã cùng tô chức “Hội thảo địa văn học Trung Quốc lần thứ nhất: nghiên cứu địa văn học triêu đại nhà Tông”.
Tại đây, lân đâu tiên địa văn học được xác định rõ là một 19 khoa học có đôi tượng nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu và ý nghĩa nghiên cứu riêng biệt dân đên sự ra đời của “Hội học thuật Dia văn học Trung Quôc” đánh dâu sự chính thức công nhận địa văn học như một bộ môn khoa học mới trong giới học thuật. Các vấn đề cơ bản của lí thuyết địa văn học 1. Môi trường địa lí và nhà văn Các nhà địa văn học nhìn nhận lại tiểu sử của nhà văn từ góc độ của môi trường địa lí, nhấn mạnh đến sự ảnh hưởng của môi trường địa lí đã tác động như thế nào đến phong cách nhà văn cũng như tâm lí sáng tạo và quá trình sáng tác. Môi trường dia lí là một trong những cơ sở hình thành phong cách của nhà văn.
Trước đây, một số nhà nghiên cứu cho răng, môi trường văn hóa quyết định phong cách nghệ thuật nhà văn. Nhà văn nào cũng có truyền thống văn hóa riêng, chính vì vậy mỗi nhà văn đều có “gen” văn hóa đặc thù của dân tộc mình, tuy nhiên điều quyết định “gen” văn hoá một phần quan trọng là môi trường địa lí tự nhiên và môi trường địa lí nhân văn. Vì vậy, trong mối quan hệ giữa văn hoc, văn hóa và dia lí, thì yếu tố địa lí tự nhiên có nghĩa như là điểm xuất phát. Văn hóa chỉ có thể sản sinh trong một không gian địa lí cụ thé và văn học chỉ có thé sinh ra trong một nên văn hóa cụ thé.
Tuy nhiên, địa lí tự nhiên có thé có ảnh hưởng đến văn học không chỉ thông qua các yếu tố văn hóa mà đôi khi nó còn tác động trực tiếp hơn. Ngay từ năm 1904, William Sharp, với bút danh Fiona MacLeod, đã xuất bản một tập sách mang tên Pia văn học mô tả “các đặc điểm nỗi bật của quốc gia thực tế hoặc được phác hoạ của một số nhà văn nồi tiếng” [44, tr. Công trình của Sharp xem xét “các quốc gia” của các nha văn chang hạn như R. Stevenson, George Eliot, Thackeray, gia đình Brontés cũng như cách một loạt các nhà văn Anh đã miêu tả các khu vực như sông Thames hoặc 20 miền Đông Anglia.
Đó là một sự pha trộn thú vị giữa các bản phác thảo du lịch và nỗ lực khám phá ảnh hưởng của nơi chốn và kí ức đối với tâm lí của nhà văn. Nghiên cứu của các học giả địa văn học chủ yếu đã thảo luận về nguôn gốc và sự hình thành định hướng thâm mĩ của nhà văn từ góc độ địa lí; phân tích những hiện thực khác nhau của các yếu tô địa lí trong một tác giả, tức là mối quan hệ giữa không gian địa lí cụ thể mà nhà văn sinh sống. Sự hình thành phong cách của nhà văn và quá trình sáng tạo văn học thường có mối liên hệ tất yếu với môi trường cảnh quan tự nhiên cụ thé. Môi trường tự nhiên mà nhà văn sống trong thời thơ ấu, thời niên thiếu có mối liên hệ chặt chẽ với tác phẩm của họ.
Các cuộc du lịch tham quan cảnh thiên nhiên hay đi lang thang đến một vùng đất xa lạ của nhà văn cũng là yếu tổ anh hưởng đến việc sáng tác trong một khoảng thời gian nhất định. Trong kịch của Henrik Ibsen, phong cảnh thiên nhiên của vùng đồng bằng ít xuất hiện mà chủ yếu là những cảnh quan thiên nhiên của vùng eo biển, vũng vịnh Bac Au — quê hương của nhà soạn kịch Na Uy kiệt xuất này. Ở Việt Nam, dấu an cảnh quan quê hương Kinh Bắc với vẻ đẹp cô kính, trữ tình đã làm nên một thế giới nghệ thuật đặc sắc của Hoàng Cam. Đúng như lời nhận định của Đỗ Đức Hiểu chia sẻ trong bài viết Hoàng Cam: “Tính hiện đại trong thơ Hoang Cam không phải như Vũ Hoang Chương (nhà thơ đô thị với phô xá đô thị sàn nhảy, đô thị, tiệm hút đô thị.) mà là một vùng cỏ cây, sông hồ nhẹ bay của thôn quê Kinh Bắc” [28, tr.
Chính cảnh quan thiên nhiên đã góp phan tạo nên kinh nghiệm quan sát tự nhiên và cái nhìn địa lí của nhà văn. Và cái nhìn địa lí của tác giả sẽ chi phối yếu tố hiện thực và hư cấu, đồng thời quyết định hình tượng phong cảnh thiên nhiên, hình tượng bối cảnh tự nhiên trong tác phẩm. Các nhà địa văn học ngày càng quan tâm đến tính thực hành và tính vật chất của những gì nhà văn thực hiện khi họ viết và mối quan hệ của điều này với sự thực hành và ý nghĩa của địa lí. Điêu này nham xem xét địa diém 21 sáng tác, vai trò của văn bản trong việc tạo ra và xác nhận tri thức địa lí.
Như Virginia Woolf suy tưởng trong tiêu luận M6t căn phòng cho riêng mình, một phần trang bị của nhà văn là không gian cá nhân để sáng tạo. Mặc dù sức mạnh bài luận của bà nằm ở sự bat bình dang giới trong quá trình sáng tác, nhưng nó đã tượng trưng hoá cho giả thiết rang sáng tác là một sự theo đuổi cá nhân được thực hiện trong một không gian riêng tư. Những không gian như vậy trải dai từ khu vườn của Dylan Thomas đến việc Arnold Bennett thích di bộ như một động lực dé sáng tạo. Các nhà văn khác cũng có chung niềm yêu thích di chuyển như một động lực thúc đây sự sáng tạo, chăng hạn Anthony Trollope cam đoan rằng một số sáng tác hay nhất của mình được sinh ra trong khi đi tàu và Henry James ghi lại những sự kiện thú vị trong cuốn số bỏ túi của mình dé sau này chuyên thành tiêu thuyết.
Điều này làm phức tạp khái niệm về không gian sáng tác bằng cách liên kết với thực hành sáng tác, bởi vì nó khuyến khích chúng ta coi không gian sáng tác không phải là độc nhất và có thé định nghĩa, mà là rộng mở và có nhiều khoảng trống. Thực hành sáng tác không chỉ là những từ ngữ xuất hiện trên trang giấy đã xuất bản mà còn là cách các ý tưởng văn học du hành và chuyên hóa từ trải nghiệm thành văn bản. Chính vào thời điểm này, không gian sáng tác và thực hành sáng tác bắt đầu hòa nhập, vì khi quay trở lại với Arnold Bennett, không gian đi bộ của ông trở thành một phan trong quá trình thực hành sáng tác của ông. Các nghiên cứu của Karen Burke LeFevre, Michael P.
Farrell và Diana Pavlac Glyer nhận định sáng tác văn học là một quá trình sáng tạo mang tính xã hội, có nhiều chuẩn mực riêng về tổ chức không gian địa lí và tương tác xã hội. Robert Tally, giáo sư văn học nổi tiếng tại Đại hoc Texas (Hoa Kì), đã tham gia vào lĩnh vực phê bình địa văn học từ đầu những năm 1990. Mượn lí thuyết “tạo lập bản đồ nhận thức” (cognitive mapping) của Fredric Jameson, ông tin răng nhà văn sáng tác văn học chính là thực hiện một quá trình “vẽ 22 bản đồ”. Trong bài báo “Phê bình địa lí và văn học cô điển Mĩ”, ông sử dụng thuật ngữ “tạo lập ban đồ văn học” dé giải thích quá trình sáng tạo của tác giả và khang định nhà văn đã thé hiện sự hiéu biết của mình về thé giới bằng cách vẽ ban đồ không gian.
Việc miêu tả phong cảnh tự nhiên trong tác phẩm văn học, chăng hạn như biển, sông, hỗ, núi. thường phản ánh sự quan sát tự nhiên của nhà văn và quá trình kiến tạo lí tưởng thẩm mĩ, tự nhiên trong sáng tác văn học. Môi trường địa lí và văn bản văn học Văn học nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội, mối quan hệ xã hội là nội dung quan trọng nhất của văn học. Tuy nhiên, bên cạnh quan hệ xã hội, văn học còn có quan hệ với tự nhiên.
Các nhà phê bình địa văn học đã phát triển các phương pháp tiếp cận văn bản văn học từ môi trường địa lí, bao gồm các yếu tố: môi trường địa lí mà nhà văn sinh trưởng, hình thái địa lí tự nhiên chi phối tư duy nghệ thuật, phương thức miêu ta, sử dụng hệ thống biểu tượng đặc thù của nhà văn. Những nghiên cứu địa văn học đã vay mượn các khái niệm, lí thuyết từ các nhà địa văn hóa và lí thuyết không gian, điều chỉnh cách sử dụng của chúng theo nhiều cách để diễn giải văn bản văn học. Công trình của Robert Tally đã đi tiên phong trong cách tiếp cận mà ông gọi là “phê bình địa lí” (geocriticism), tập trung vào các mối quan hệ năng động giữa không gian, nơi chốn và văn học. Thuật ngữ phê bình địa lí có nguồn gốc từ một cuốn sách của nhà phê bình người Pháp, Bertrand Westphal: Phê bình địa lí: Không gian hiện thực và hư cấu (2011).