phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan nghiên cứu địa mạo thổ nhƣỡng và chỉ dẫn địa lý Chƣơng 2. Các nhân tố ảnh hƣởng đến sự thành tạo địa hình và phát sinh thổ nhƣỡng ở khu vực huyện Bình Liêu Chƣơng 3. Nghiên cứu địa mạo – thổ nhƣỡng trong xây dựng chỉ dẫn địa lý ”Bình Liêu” cho sản phẩm miến dong của huyện bình liêu, tỉnh Quảng Ninh 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỊA MẠO THỔ NHƢỠNG VÀ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CHỈ DẪN ĐỊA LÝ 1. Các khái niệm liên quan đến chỉ dẫn địa lý a. Khái niệm chung trên thế giới Bảo hộ Chỉ dẫn địa lý (Protected Geographical Indication) là một hình thức của quyền sở hữu trí tuệ - dấu hiệu để xác định một sản phẩm có xuất xứ từ một địa điểm tạo ra sản phẩm có chất lƣợng đặc biệt, có uy tín hoặc có các đặc tính khác.
Có nhiều khái niệm liên quan đến CDĐL mà điển hình là Chỉ dẫn Nguồn gốc (Indications of Source và Tên gọi xuất xứ (Appellations of Origin. Chỉ dẫn Nguồn gốc (Indications of Source) xuất phát từ Công ƣớc Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp (năm 1883), sau đó là Hiệp định Madrid về Chỉ dẫn giả mạo hoặc lừa dối về nguồn gốc hàng hoá (năm 1891). Chỉ dẫn nguồn gốc đƣợc định nghĩa theo Điều 1 - Hiệp định Madrid nhƣ sau: Từ ngữ hoặc Dấu hiệu sử dụng để chỉ ra một sản phẩm/dịch vụ đƣợc bắt nguồn từ một quốc gia, khu vực hoặc một nơi cụ thể, nhƣng không bao hàm các yếu tố chất lƣợng và uy tín (E. Tên gọi xuất xứ (Appellations of Origin) đƣợc quy định trong Hiệp định Lisbon: Là tên địa lý của một quốc gia, hoặc vùng, hoặc địa phƣơng để chỉ một sản phẩm có nguồn gốc ở đó, chất lƣợng và đặc tính của sản phẩm có đƣợc là do sự độc quyền, hoặc do bản chất của môi trƣờng địa lý (bao gồm cả tự nhiên và các yếu tố con ngƣời).
Có thể suy ra rằng một sản phẩm đƣợc bảo hộ dƣới dạng tên gọi "xuất xứ" phải thể hiện một tên địa lý trực tiếp hoặc một quốc gia, hoặc vùng, hoặc địa phƣơng mà nó bắt nguồn (Ví dụ: Stilton Cheese). Các phần danh tiếng bị loại trừ khỏi điều khoản của định nghĩa trên. Định nghĩa mới nhất CDĐL (geographical indications): Chỉ dẫn xác định nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm là một lãnh thổ hoặc vùng hoặc địa điểm, nơi mà chất lƣợng, danh tiếng hoặc các đặc tính của sản phẩm có đƣợc là do nguồn gốc địa lý của nó (Điều 22,1 - Hiệp định TRIPS). Chỉ dẫn địa lý biểu thị nguồn gốc và chất 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lƣợng của sản phẩm.
Định nghĩa của TRIPS đã bao hàm cả Tên gọi Xuất xứ và Chỉ dẫn nguồn gốc. Những khái niệm cơ bản về chỉ dẫn địa lý tại Việt Nam Có thể nói, các thuật ngữ về CDĐL của Việt Nam đã bao hàm các qui định về CDĐL của Hiệp định TRIPS. Theo Luật Sở hữu Trí tuệ của nƣớc CHXHCN Việt Nam (2005), CDĐL là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phƣơng, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể. Danh tiếng của sản phẩm mang CDĐL đƣợc xác định bằng mức độ tín nhiệm của ngƣời tiêu dùng đối với sản phẩm đó thông qua mức độ rộng rãi ngƣời tiêu dùng biết đến và chọn lựa sản phẩm đó.
Chất lƣợng, đặc tính của sản phẩm mang CDĐL đƣợc xác định bằng một hoặc một số chỉ tiêu định tính, định lƣợng hoặc cảm quan về vật lý, hoá học, vi sinh và các chỉ tiêu đó phải có khả năng kiểm tra đƣợc bằng phƣơng tiện kỹ thuật hoặc chuyên gia với phƣơng pháp kiểm tra phù hợp. Khu vực địa lý mang CDĐL có ranh giới đƣợc xác định một cách chính xác bằng từ ngữ và bản đồ. Chỉ dẫn địa lý được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây: Sản phẩm mang CDĐL có nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phƣơng, vùng lãnh thổ hoặc nƣớc tƣơng ứng với chỉ dẫn địa lý. Sản phẩm mang CDĐL có danh tiếng, chất lƣợng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa phƣơng, vùng lãnh thổ hoặc nƣớc tƣơng ứng với chỉ dẫn địa lý đó quyết định.
Các đối tượng sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa chỉ dẫn địa lý: Tên gọi, chỉ dẫn đã trở thành tên gọi chung của hàng hoá ở Việt Nam; Chỉ dẫn địa lý của nƣớc ngoài mà tại nƣớc đó CDĐL không đƣợc bảo hộ, đã bị chấm dứt bảo hộ hoặc không còn đƣợc sử dụng; 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chỉ dẫn địa lý trùng hoặc tƣơng tự với một nhãn hiệu đang đƣợc bảo hộ, nếu việc sử dụng CDĐL đó đƣợc thực hiện thì sẽ gây nhầm lẫn về nguồn gốc của sản phẩm; Chỉ dẫn địa lý gây hiểu sai lệch cho ngƣời tiêu dùng về nguồn gốc địa lý thực của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý đó. Chủ sở hữu CDĐL là Nhà nƣớc. Nhà nƣớc thực hiện quyền đăng ký và quản lý trực tiếp CDĐL hoặc trao quyền đăng ký hoặc quản lý cho tổ chức đại diện quyền lợi của tất cả các tổ chức, cá nhân đƣợc trao quyền sử dụng CDĐL. Ngƣời có quyền sử dụng CDĐL là mọi tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động sản xuất hàng hoá mang chỉ dẫn đó tại vùng địa lý bảo hộ với điều kiện hàng hoá đó phải bảo đảm uy tín, danh tiếng vốn có của loại hàng hoá đó.
Tình hình nghiên cứu a. Trên Thế giới Lịch sử phát triển Chỉ dẫn địa lý Bảo hộ chỉ dẫn địa lý (Protected Geographical Indication/PGI) và bảo hộ tên gọi xuất xứ hàng hóa (Appellation of Origin Protected/AOP) xuất hiện ở Pháp từ đầu thế kỷ XX. Sau đó, những khái niệm này đƣợc phát triển rộng trên thế giới và đƣợc hiệp định TRIPS1 thừa nhận vào năm 1994. Hiệp định TRIPS đã xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế tối thiểu đối với các sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý (Geographical Indication – GIs).
Để mở rộng việc bảo hộ GIs cho các sản phẩm khác ngoài rƣợu vang và rƣợu mạnh2, mạng lƣới quốc tế về tên gọi xuất xứ (International Geographical Indications Network) đã đƣợc thành lập tại Genève vào tháng 6 năm 2002. GIs là bảo hộ độc quyền cho cƣ dân thuộc vùng sản phẩm có nguồn gốc từ vùng đó. AOP là dạng GIs đặc biệt, áp dụng cho các sản phẩm có chất lƣợng đặc thù và có yêu cầu cao về quản lý chất lƣợng. 1 Hiệp định quốc tế về sở hữu trí tuệ 2 Hiện nay tổ chức thƣơng mại thế giới WTO mới chỉ đồng ý bảo hộ 2 dòng sản phẩm chỉ dẫn địa lý là rƣợu vang và rƣợu mạnh.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Viện Chất lƣợng và Xuất xứ Sản phẩm Cộng hòa Pháp (INAO, 2006), châu Âu bảo hộ GIs cho các nông sản chƣa qua chế biến (55,6%) và bảo hộ AOP cho các sản phẩm đã qua chế biến (54,1% tổng số sản phẩm bảo hộ). Tháng 6 năm 2006, châu Âu đã có 413 sản phẩm bảo hộ AOP và 297 sản phẩm bảo hộ GIs (Pháp 27%, Ý 17% và Bồ Đào Nha 13%). Hiện nay, thế giới có ba hình thức bảo hộ CDĐL, cụ thể như sau: i) Hệ thống luật pháp riêng: Các nƣớc đƣa ra những quy định pháp luật riêng về bảo hộ CDĐL (Pháp, Thụy sĩ, Nga, Bồ Đào Nha, Việt Nam…). ii) Hệ thống luật pháp về nhãn hiệu: GIs đƣợc bảo hộ thông qua việc đăng ký nhãn hiệu tập thể và/hoặc nhãn hiệu chứng nhận hàng hóa (Mỹ, Canađa, Anh, Ấn Độ …).
iii) Hệ thống luật pháp về kinh doanh: luật chống cạnh tranh không lành mạnh, chống lại các chỉ dẫn sai lệch, gây nhầm lẫn về xuất xứ hàng hóa. Trên thực tế, các nƣớc thƣờng kết hợp nhiều hình thức bảo hộ. Vùng Québec – Canada (theo Luật tháng 1/2008) có 4 hình thức chỉ dẫn: Tên gọi sinh học; Tên gọi xuất xứ; Chứng chỉ đặc thù và Chỉ dẫn địa lý đƣợc bảo hộ. Châu Âu sử dụng cả hai hình thức AOP và GIs.
Việc chọn hình thức đăng ký bảo hộ phụ thuộc vào loại sản phẩm và chất lƣợng đặc thù của chúng. Quá trình xây dựng chỉ dẫn địa lý của các nước châu Âu Xây dựng GIs cho hàng nông sản là cả 1 quá trình (khoảng 200 năm đối với chè Ấn Độ và chè Sri Lanka, 300 năm cho fomat và rƣợu vang Pháp). Châu Âu có nhiều kinh nghiệm nhất trên thế giới về GIs, tiêu biểu là Pháp, Ý và Thụy sỹ. Quá trình này của họ đƣợc chia ra 4 giai đoạn cơ bản, cụ thể nhƣ sau: 1) Chống sự cạnh tranh không lành mạnh trên thị trƣờng: Thúc đẩy quá trình xây dựng thể chế bảo hộ sản phẩm.
Giai đoạn này rất quan trọng và diễn ra lâu nhất, phụ thuộc vào điều kiện của từng nƣớc (Pháp: 65 năm, từ 1905 đến 1970; Ý: 246 năm, từ 1716 đến 1962; Thụy sỹ: 91 năm, từ 1890 đến 1981). 2) Điều tiết thị trƣờng: Duy trì sự ổn định và phát triển thị trƣờng các sản phẩm mang GIs. Các thể chế, chính sách của nhà nƣớc, của các tổ chức sản xuất và 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thƣơng mại đều tập trung cho việc ổn định thị trƣờng và mở rộng phạm vi đƣợc bảo hộ (Pháp từ năm 1970 đến 1985, Ý từ 1963 đến 1992…). 3) Khai thác giá trị của GIs để phát triển nông thôn bền vững: Phát triển nông nghiệp và nông thôn dựa vào lợi thế của các nông sản đƣợc bảo hộ GIs gắn với du lịch sinh thái/cộng đồng (Pháp từ 1985 đến 2000, Thụy sỹ bắt đầu từ 1997).
4) Xây dựng GIs thành giá trị di sản: Đàm phán và đề nghị công nhận những sản phẩm GIs đặc thù của quốc gia thành những di sản của nhân loại (Pháp bắt đầu từ năm 2000). Việc xác định “các dấu hiệu địa lý áp dụng cho nông nghiệp” (la traçabilité géographique appliqué à l’agriculture), trong đó các thông tin địa lý đã đƣợc số hóa, mô hình hóa (géomatique) kết hợp với công nghệ thông tin địa lý (GIS), viễn thám… đƣợc xử dụng phổ biến tại các nƣớc EU (nguồn: La géomatique, un outil pour le développement local - CCI du Gers – France). Canada là nƣớc đã thành công trong việc tạo lập đƣợc “ngân hàng điện tử” các sản phẩm chỉ dẫn địa lý cho phép ngƣời tiêu dùng, cơ quan quản lý có thể truy xuất 1 cách dễ dàng tất cả các thông tin có liên quan đến sản phẩm bảo hộ.