Tổng quan nghiên cứu

Quận Hải An nằm ở phía Đông Nam thành phố Hải Phòng với diện tích tự nhiên 10.492 ha và quy mô dân số đạt trên 106.000 người vào năm 2012. Là đầu mối giao thương trọng điểm ven biển, quận ghi nhận tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 30,1%/năm trong giai đoạn 2006 – 2012, trong đó tỷ trọng ngành công nghiệp và xây dựng chiếm tới 64,2%. Với sự hình thành và mở rộng của các dự án công nghiệp trọng điểm như Khu công nghiệp Đình Vũ quy mô 945 ha, sân bay quốc tế Cát Bi vận chuyển 300.000 lượt hành khách/năm cùng hệ thống cảng biển có hơn 3 km cầu cảng nước sâu, nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông và đô thị tại đây gia tăng mạnh mẽ.

Tuy nhiên, toàn bộ công trình hạ tầng tại quận Hải An đều đặt trực tiếp trên tầng trầm tích Holocen có bề dày lớn từ 25 m đến 40 m, trung bình 33,9 m. Đây là các thành tạo địa chất trẻ nhất kỷ Đệ tứ, chứa nhiều lớp bùn sét yếu, độ rỗng lớn, khả năng chịu tải kém và tính nén lún cao. Thực tế đã ghi nhận nhiều sự cố địa kỹ thuật nghiêm trọng như hiện tượng lún nứt, nghiêng lệch công trình nhà ở tại đường Lê Hồng Phong hay hằn lún vệt bánh xe trên tuyến Quốc lộ 5 đoạn qua đường Nguyễn Bỉnh Khiêm và lối vào cảng Đình Vũ. Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu làm sáng tỏ cấu trúc địa tầng, xác định chuẩn xác các chỉ tiêu cơ lý của trầm tích Holocen và đánh giá định lượng mức độ ổn định nền móng. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở dữ liệu tin cậy giúp giảm thiểu rủi ro biến dạng công trình trên 50%, tối ưu hóa 15% đến 20% chi phí xử lý nền móng và định hướng phát triển hạ tầng bền vững cho thành phố Hải Phòng đến năm 2025.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết chu kỳ trầm tích và tiến hóa tướng đá địa chất kỷ Đệ tứ, kết hợp thuyết cơ học đất hiện đại về trạng thái ứng suất - biến dạng và quá trình cố kết thấm một chiều của Terzaghi. Mô hình bồn trũng tách dãn kiến tạo Kainozoi khu vực đồng bằng sông Hồng giải thích rõ cơ chế tích tụ trầm tích biển tiến Flandrian và bồi tích sông - biển hỗn hợp. Nghiên cứu tập trung vào 4 khái niệm khoa học then chốt:

  1. Địa tầng phân vị Holocen gồm hệ tầng Hải Hưng (mQ21-2hh2) và hệ tầng Thái Bình (amQ23tb1, ambQ23tb2).
  2. Thông số trầm tích Trask bao gồm độ hạt trung bình Md, hệ số chọn lọc So và hệ số bất đối xứng Sk phản ánh chế độ thủy động lực lắng đọng.
  3. Độ sệt B và hệ số nén lún a1-2 đặc trưng cho trạng thái vật lý cùng khả năng biến dạng của đất yếu.
  4. Hệ số ổn định trượt cung tròn Kmin theo trạng thái giới hạn cân bằng mômen.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài tiến hành khảo sát và thu thập dữ liệu thực nghiệm từ cỡ mẫu 361 mẫu đất nguyên trạng được lấy tại 31 hố khoan địa chất sâu thuộc 6 cụm công trình tiêu biểu trên địa bàn quận Hải An. Phương pháp chọn mẫu tuân thủ kỹ thuật lấy mẫu nguyên trạng bằng ống phóng thành mỏng đường kính 100 mm và ống nhựa chiều dài 20 đến 40 cm ở các độ sâu khác nhau, kết hợp 172 hiệp thí nghiệm xuyên tiêu chuẩn SPT tại hiện trường nhằm đảm bảo tính đại diện và độ chính xác cao của địa tầng.

Trong phòng thí nghiệm, mẫu đất được phân tích thành phần cấp hạt bằng bộ rây tiêu chuẩn kết hợp phương pháp tỷ trọng kế lắng đọng pipet. Các chỉ tiêu cơ lý được xác định qua thí nghiệm nén cố kết không nở hông, thí nghiệm cắt phẳng và nén ba trục không thoát nước UU, CU. Toàn bộ chuỗi số liệu được xử lý thống kê theo tiêu chuẩn TCXD 74:1987. Phương pháp cộng lún từng lớp theo tiêu chuẩn TCVN 9362:2012 được lựa chọn để tính toán chính xác biến dạng lún của công trình dân dụng nhiều tầng. Phương pháp tích phân vi phân lún nhanh được áp dụng riêng cho nền đường đắp chịu tải trọng băng tam giác và chữ nhật. Đồng thời, nghiên cứu sử dụng phần mềm SLOPE/W với phương pháp Bishop đơn giản hóa để kiểm toán hệ số ổn định mái dốc nền đường đắp trên nền đất yếu, đảm bảo thỏa mãn tiêu chuẩn 22TCN 262-2000 với Kmin lớn hơn hoặc bằng 1,20. Timeline nghiên cứu được thực hiện hoàn chỉnh trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, trầm tích Holocen tại quận Hải An phân bố liên tục với chiều dày từ 25 m đến 40 m, trung bình 33,9 m, gồm 7 đơn vị địa chất công trình thuộc 2 hệ tầng Hải Hưng và Thái Bình. Bề dày tầng đất yếu tăng dần từ phía Tây Bắc sang Đông Nam và đạt cực đại tại bán đảo Đình Vũ.

Thứ hai, trầm tích sông - biển - đầm lầy hệ tầng Thái Bình (ambQ23tb2) phân bố ở độ sâu 2,0 m đến 18,5 m, chiều dày trung bình 11,3 m, chiếm tỷ trọng thể tích lớn nhất khu vực ven biển. Đất ở trạng thái dẻo chảy đến chảy hoàn toàn với độ sệt B từ 1,0 đến 1,2, hệ số rỗng tự nhiên e đạt 1,80, hàm lượng hạt sét mịn chiếm 29,5%, hệ số nén lún a1-2 lên tới 0,131 cm2/kG và sức chịu tải quy ước Ro rất thấp, chỉ đạt 0,44 kG/cm2. Giá trị thí nghiệm SPT N30 chỉ dao động từ 0 đến 2 búa, phản ánh nền đất có sức chịu tải kém hơn 45% so với sét phong hóa thông thường.

Thứ ba, trầm tích biển hệ tầng Hải Hưng (mQ21-2hh2) nằm ở độ sâu từ 12,2 m đến 28,0 m, gồm sét xám xanh, xám ghi dày từ 9,7 m đến 15,2 m và sét xám vàng loang lổ dày 3,5 m đến 14,8 m. Lớp này có hàm lượng hạt sét 40,2%, kích thước hạt trung bình Md đạt 0,004 mm, lực dính kết Ccắt phẳng đạt 0,141 kG/cm2 và sức chịu tải quy ước Ro đạt 0,81 kG/cm2, tạo nên tầng đệm chuyển tiếp có độ bền cơ học tăng 84% so với lớp bùn sét phủ bên trên.

Thứ tư, tính toán mô phỏng tải trọng công trình nhà ở 3 tầng cho thấy độ lún tổng cộng cuối cùng theo phương pháp cộng lún từng lớp đạt từ 28,5 cm đến 42,6 cm, vượt giới hạn cho phép từ 35% đến 60% nếu dùng móng nông. Đối với nền đường đắp cao 2,5 m tại bán đảo Đình Vũ, hệ số ổn định mái dốc Kmin tính bằng phần mềm SLOPE/W chỉ đạt 0,86 (nhỏ hơn ngưỡng quy chuẩn 1,20), gây nguy cơ trượt lở mái taluy và lún cố kết nền đường lên tới 65 cm đến 95 cm.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân gốc rễ của tính chất cơ lý yếu kém bắt nguồn từ môi trường trầm tích vũng vịnh, đầm lầy ven biển yên tĩnh trong thời kỳ biển tiến Holocen, nơi các khoáng vật sét illit và kaolinit kết hợp với mùn hữu cơ lắng đọng chậm, tạo cấu trúc rỗng xốp ngậm nước. So sánh với các nghiên cứu trầm tích tại lưu vực ven biển Hải Phòng - Quảng Yên, các thông số độ hạt Md từ 0,004 đến 0,005 mm và hệ số chọn lọc So từ 1,59 đến 2,12 chứng minh quá trình bồi tụ chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ nhật triều biên độ 2,5 m đến 3,5 m.

Toàn bộ tập dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua các dạng đồ thị và bảng biểu kỹ thuật:

  • Biểu đồ đường cong tích lũy độ hạt Trask thể hiện rõ phân bố 1 đến 2 đỉnh của các cấp hạt sét và bụi mịn.
  • Bảng tổng hợp chỉ tiêu cơ lý 7 đơn vị địa chất công trình chuẩn hóa các giá trị dung trọng tự nhiên từ 1,60 g/cm3 đến 1,79 g/cm3 và góc nội ma sát từ 2°05' đến 8°12'.
  • Biểu đồ vi phân phân bố ứng suất gia tăng theo chiều sâu cho thấy ứng suất gây lún suy giảm rõ rệt sau độ sâu 15 m.
  • Sơ đồ mặt cắt địa chất công trình và lưới trượt cung tròn trong SLOPE/W mô tả trực quan tâm trượt nguy hiểm nhất tại chân mái dốc nền đắp.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích địa chất công trình và mô hình địa kỹ thuật, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật cụ thể:

  1. Áp dụng công nghệ cắm bấc thấm thẳng đứng (PVD) kết hợp hút chân không và gia tải trước: Đơn vị thi công hạ tầng cần triển khai bấc thấm lưới tam giác khoảng cách 1,0 m đến 1,2 m xuống độ sâu từ 12 m đến 15 m xuyên qua lớp bùn sét hệ tầng Thái Bình. Mục tiêu rút ngắn 80% thời gian cố kết thấm từ 24 tháng xuống còn 4 đến 6 tháng, kiểm soát độ lún dư dưới 10 cm trước khi thảm bê tông nhựa. Thời gian thực hiện từ tháng 1 đến tháng 6 trong giai đoạn chuẩn bị mặt bằng.

  2. Chuyển đổi kết cấu móng nông sang móng cọc bê tông cốt thép dự ứng lực: Các chủ đầu tư và ban quản lý dự án xây dựng công trình dân dụng, nhà công nghiệp từ 3 tầng trở lên bắt buộc phải thiết kế móng cọc ma sát kết hợp chống, hạ mũi cọc sâu trên 25 m đến 32 m tựa vào tầng cát cuội sỏi chặt của hệ tầng Vĩnh Phúc (amQ13b vp1). Giải pháp này triệt tiêu hoàn toàn 100% nguy cơ nghiêng lún công trình và nâng sức chịu tải đơn cọc lên trên 45 tấn đến 60 tấn.

  3. Thi công lớp đệm cát thoát nước kết hợp trải vải địa kỹ thuật cường độ cao: Đơn vị xây dựng cầu đường cần rải lớp vải địa gia cường dệt có cường độ kéo đứt lớn hơn hoặc bằng 100 kN/m kết hợp tầng đệm cát hạt trung dày 50 cm đến 70 cm dưới chân nền đường đắp. Biện pháp này giúp tăng hệ số ổn định mái dốc Kmin từ 0,86 lên trên 1,35, loại bỏ hiện tượng trượt trồi nền đường tại các tuyến giao thông huyết mạch như lối vào cảng Đình Vũ.

  4. Xây dựng bản đồ phân vùng địa kỹ thuật số hóa và quy chế quản lý cốt nền xây dựng: Sở Xây dựng cùng Sở Tài nguyên và Môi trường Hải Phòng cần chủ trì số hóa toàn bộ dữ liệu địa kỹ thuật 8 phường của quận Hải An, ban hành quy định cao độ đắp nền tối thiểu +4,5 m đến +5,0 m để ứng phó với mực nước triều cường biến động 3,5 m. Kế hoạch hoàn thành trong lộ trình 12 tháng từ năm 2016 đến 2017.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  1. Kỹ sư tư vấn thiết kế và khảo sát địa kỹ thuật: Khai thác bộ chỉ tiêu cơ lý chi tiết của 361 mẫu thí nghiệm và biểu đồ phân bố ứng suất để tính toán chuẩn xác lún, sức chịu tải móng cọc và độ ổn định mái dốc cho các công trình công nghiệp, cảng biển tại Đình Vũ.

  2. Nhà thầu thi công hạ tầng giao thông và đô thị: Vận dụng quy trình xử lý nền đất yếu bằng bấc thấm PVD, vải địa kỹ thuật và kiểm soát tiến độ cố kết đất đắp, giúp rút ngắn 30% thời gian thi công nền đường Quốc lộ 5 và các trục giao thông chính.

  3. Cơ quan quản lý nhà nước và quy hoạch đô thị: Sở Quy hoạch - Kiến trúc, Sở Xây dựng thành phố Hải Phòng sử dụng cấu trúc địa tầng Holocen để xây dựng quy hoạch không gian ngầm, cấp phép xây dựng và định hướng mở rộng không gian kinh tế ven biển quận Hải An đến năm 2025.

  4. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Địa chất - Địa kỹ thuật: Sử dụng luận văn như tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp tích hợp phân tích tướng trầm tích Đệ tứ với mô hình hóa cơ học đất hiện đại bằng phần mềm chuyên dụng.

Câu hỏi thường gặp

  1. Chiều dày và quy luật phân bố của trầm tích Holocen tại quận Hải An như thế nào? Trầm tích Holocen tại Hải An phân bố liên tục với bề dày dao động từ 25 m đến 40 m, đạt trung bình 33,9 m. Chiều dày có xu hướng tăng dần từ phía Tây Bắc xuống Đông Nam hướng ra biển, trong đó các lớp sét yếu nguồn gốc sông - biển - đầm lầy tập trung dày nhất tại khu vực bán đảo Đình Vũ và phường Tràng Cát.

  2. Tại sao các công trình nhà ở và giao thông tại quận Hải An thường xảy ra sự cố lún nứt? Nguyên nhân chủ yếu do nền đất chứa lớp bùn sét hệ tầng Thái Bình dày trung bình 10,2 m đến 11,3 m ở trạng thái chảy, độ sệt B từ 1,0 đến 1,2, hệ số nén lún a1-2 cao tới 0,131 cm2/kG. Khi chịu tải trọng công trình hoặc xe tải nặng trên Quốc lộ 5, đất bị biến dạng lún cố kết lớn từ 28 cm đến 42 cm gây nghiêng nhà và hằn lún mặt đường.

  3. Phương pháp nào tối ưu nhất để xử lý nền đất yếu cho đường giao thông tại khu vực này? Giải pháp tối ưu là cắm bấc thấm thẳng đứng PVD kết hợp trải vải địa kỹ thuật gia cường cường độ kéo 100 kN/m và đệm cát dày 50 cm. Phương pháp này giúp tăng tốc độ thoát nước lỗ rỗng, rút ngắn thời gian cố kết từ 24 tháng xuống 5 tháng và nâng hệ số ổn định mái dốc Kmin từ 0,86 lên trên 1,30.

  4. Móng công trình dân dụng nhiều tầng tại quận Hải An nên đặt ở tầng địa chất nào? Công trình từ 3 tầng trở lên cần sử dụng móng cọc bê tông cốt thép hạ mũi xuyên qua toàn bộ tầng Holocen dày 25 m đến 34 m, ngàm trực tiếp vào tầng cát cuội sỏi chịu lực của hệ tầng Vĩnh Phúc (amQ13b vp1) để đảm bảo sức chịu tải đơn cọc đạt trên 50 tấn và triệt tiêu độ lún lệch.

  5. Nước ngầm tầng Holocen có ảnh hưởng gì đến vật liệu móng công trình không? Tầng chứa nước qh1 có độ tổng khoáng hóa từ 1,2 g/l đến 7,3 g/l mang tính chất mặn và ăn mòn hóa học cao với hàm lượng ion sắt, clorua lớn. Do đó, bê tông móng cọc và kết cấu ngầm cần sử dụng xi măng bền sunfat kết hợp phụ gia chống thấm để ngăn ngừa ăn mòn cốt thép trong suốt tuổi thọ công trình.

Kết luận

  • Nghiên cứu đã làm sáng tỏ cấu trúc địa tầng và phân chia chi tiết 7 đơn vị địa chất công trình thuộc 2 hệ tầng Hải Hưng và Thái Bình với bề dày trầm tích Holocen trung bình 33,9 m.
  • Xác lập bộ cơ sở dữ liệu cơ lý hoàn chỉnh từ 361 mẫu thí nghiệm nguyên trạng, chỉ rõ lớp bùn sét yếu có sức chịu tải rất thấp từ 0,44 kG/cm2 đến 0,52 kG/cm2.
  • Định lượng chính xác nguy cơ mất an toàn nền móng với độ lún công trình vượt 35% đến 60% quy chuẩn và hệ số ổn định mái đắp Kmin chỉ đạt 0,86.
  • Đề xuất đồng bộ 4 giải pháp công nghệ gồm bấc thấm PVD, đệm cát gia cường vải địa kỹ thuật, móng cọc sâu tựa tầng Vĩnh Phúc và số hóa bản đồ địa kỹ thuật.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng phục vụ quy hoạch hạ tầng cảng biển, khu công nghiệp Đình Vũ và đô thị quận Hải An phát triển bền vững.

Lộ trình triển khai tiếp theo cần tập trung quan trắc lún thực tế trong 18 tháng và mở rộng mô hình hóa 3D địa tầng toàn thành phố Hải Phòng từ năm 2016 đến 2020. Hãy liên hệ ngay với các chuyên gia địa kỹ thuật để áp dụng các giải pháp nền móng chuẩn xác cho dự án của bạn.