phần mở đầu, kết luận, bảng biểu và mục lục, đề tài gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào ngành Công nghiệp hỗ trợ. Phƣơng pháp nghiên cứu. Thực trạng thu hút nguồn vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào ngành CNHT trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Giải pháp thu hút nguồn vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào ngành CNHT trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀO NGÀNH CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 1. Cơ sở lý luận về FDI 1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tƣ nói chung là sự hy sinh các nguồn lực hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tƣơng lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt đƣợc kết quả đó.
Nhƣ vậy, mục tiêu của mọi công cuộc đầu tƣ là đạt đƣợc các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà ngƣời đầu tƣ phải gánh chịu khi tiến hành đầu tƣ. Nguồn lực phải hy sinh đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sự lao động và trí tuệ. Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là nguồn vốn của cá nhân hay doanh nghiệp một nƣớc đầu tƣ sang một nƣớc khác nhằm thu đƣợc lợi nhuận lâu dài và dành quyền kiểm soát của các doanh nghiệp ở các quốc gia khác. Nó đƣợc tính bằng tổng vốn cổ phần, lợi nhuận tái đầu tƣ, vốn dài hạn khác và vốn ngắn hạn đƣợc thể hiện trong cán cân thanh toán.
Nguồn vốn FDI là nguồn vốn đầu tƣ của cá nhân hay doanh nghiệp nƣớc ngoài đầu tƣ cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ nhằm thu đƣợc lợi nhuận. Theo qũy tiền tệ quốc tế IMF, FDI đƣợc định nghĩa là "một khoản đầu tƣ với những quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chức trong một nền kinh tế thu đƣợc lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác. Mục đích của nhà đầu tƣ trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hƣởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó. Hội nghị Liên Hợp Quốc về thƣơng mại và phát triển UNCTAD cũng đƣa ra một doanh nghiệp về FDI.
Theo đó luồng vốn bao gồm vốn đƣợc cung cấp bởi nhà đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài cho các doanh nghiệp FDI, hoặc vốn mà nhà đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài nhận đƣợc từ doanh nghiệp FDI. FDI gồm có ba bộ phận: vốn cổ phần, thu nhập tái đầu tƣ và các khoản vay trong nội bộ công ty. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 Các nhà kinh tế quốc tế định nghĩa: Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là ngƣời sở hữu tại nƣớc này mua hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế của nƣớc khác. Đó là một khoản tiền mà nhà đầu tƣ trả cho một thực thể kinh tế của nƣớc ngoài để có ảnh hƣởng quyết định đối với thực thể kinh tế ấy hoặc tăng thêm quyền kiểm soát trong thực thể kinh tế ấy.
Luật đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam năm 1987 đƣa ra khái niệm: "Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là việc tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài đƣa vào Việt Nam vốn bằng tiền nƣớc ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào đƣợc chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài theo quy định của luật này". Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đƣa ra khái niệm: "Một doanh nghiệp đầu tƣ trực tiếp là một doanh nghiệp có tƣ cách pháp nhân hoặc không có tƣ cách pháp nhân trong đó nhà đầu tƣ trực tiếp sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu thƣờng hoặc có quyền biểu quyết. Điểm mấu chốt của đầu tƣ trực tiếp là chủ định thực hiện quyền kiểm soát công ty". Tuy nhiên không phải tất cả các quốc gia nào đều sử dụng mức 10% làm mốc xác định FDI.
Trong thực tế có những trƣờng hợp tỷ lệ sở hữu tài sản trong doanh nghiệp của chủ đầu tƣ nhỏ hơn 10% nhƣng họ vẫn đƣợc quyền điều hành quản lý doanh nghiệp, trong khi nhiều lúc lớn hơn nhƣng vẫn chỉ là ngƣời đầu tƣ gián tiếp. Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài nhƣ sau: "Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài FDI tại một quốc gia là việc là việc nhà đầu tƣ ở một nƣớc khác đƣa vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào vào quốc gia đó để có đƣợc quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiêu tối đa hóa lợi ích của mình". Tài sản trong khái niệm này, theo thông lệ quốc tế có thể là tài sản hữu hình, tài sản vô hình, tài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, giấy ghi nợ…). Nhƣ vậy FDI bao giờ cũng là một dạng quan hệ kinh tế có nhân tố Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 7 nƣớc ngoài.
Hai đặc điểm cơ bản của FDI là: có sự dịch chuyển tƣ bản trong phạm vi quốc tế và chủ đầu tƣ (pháp nhân, thể nhân) trực tiếp tham gia vào hoạt động sử dụng vốn và quản lí đối tƣợng đầu tƣ. Vai trò của FDI Đối với nước đi đầu tư Hình thức đầu tƣ trực tiếp ra nƣớc ngoài là cách để các quốc gia có thể mở rộng và nâng cao quan hệ hợp tác về nhiều mặt đối với các quốc gia khác mà mình sẽ đầu tƣ. Khi một nƣớc đầu tƣ sang nƣớc khác một mặt hàng thì nƣớc đó thƣờng có những ƣu thế nhất định về mặt hàng nhƣ chất lƣợng, năng suất và giá cả cùng với chính sách hƣớng xuất khẩu của nƣớc này; thêm vào đó là sự sẵn sàng hợp tác chấp nhận sự đầu tƣ của nƣớc sở tại cùng với những nguồn lực thích hợp cho sản phẩm đó. Mặt khác, khi đầu tƣ FDI nƣớc đi đầu tƣ có rất nhiều lợi thế về kinh tế cũng nhƣ chính trị.
+ Quan hệ hợp tác với nƣớc sở tại đƣợc tăng cƣờng và vị thế của nƣớc đi đầu tƣ đƣợc nâng lên trên trƣờng quốc tế. + Mở rộng đƣợc thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm, khi trong nƣớc sản phẩm đang thừa mà nƣớc sở tại lại thiếu. + Giải quyết công ăn việc làm cho một số lao động, vì khi đầu tƣ sang nƣớc khác, thì nƣớc đó phải cần có những ngƣời hƣớng dẫn, hay còn gọi là các chuyên gia trong lĩnh vực này. Đồng thời tránh đƣợc việc phải khai thác các nguồn lực trong nƣớc, nhƣ tài nguyên thiên nhiên hay ô nhiễm môi trƣờng.
+ Vấn đề chính trị, các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài có thể lợi dụng những kẻ hở của pháp luật, sự yếu kém về quản lý hay sự ƣu đãi của Chính phủ nƣớc sở tại sẽ có những mục đích khác nhƣ làm gián điệp. Đối với nước nhận đầu tư Những mối lợi a) Chuyển giao vốn, công nghệ và năng lực quản lý (chuyển giao nguồn lực): Đối với một nƣớc lạc hậu, trình độ sản xuất kém, năng lực sản xuất chƣa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 8 đƣợc phát huy kèm với cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn thì việc tiếp thu đƣợc một nguồn vốn lớn, công nghệ phù hợp để tăng năng suất và cải tiến chất lƣợng sản phẩm, trình độ quản lý chặt chẽ là một điều hết sức cần thiết. Nhƣ ta đã biết thì công nghệ chính là trung tâm của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá một đất nƣớc đang phát triển nhƣ nƣớc ta. Chúng ta cần có vốn và công nghệ để có thể thực hiện đƣợc nó.
Khi đầu tƣ trực tiếp diễn ra thì công nghệ đƣợc du nhập vào trong đó có cả một số công nghệ bị cấm xuất theo con đƣờng ngoại thƣơng, các chuyên gia cùng với các kỹ năng quản lý sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của công nghệ này, do vậy các cán bộ bản địa có thể học hỏi kinh nghiệm của họ. b) Các nhà đầu tƣ gánh chịu rủi ro: Đầu tƣ trực tiếp khác với đầu tƣ gián tiếp là nhà đầu tƣ phải tự đứng ra quản lý đồng vốn của mình, tự chịu trách nhiệm trƣớc những quyết định đầu tƣ của mình, do vậy độ rủi ro cao hơn so với đầu tƣ gián tiếp. c) Tăng năng suất và thu nhập quốc dân, cạnh tranh hơn, hiệu quả kinh tế hơn. Do có công nghệ cùng với trình độ quản lý đƣợc nâng lên thì các ngành sản xuất cũng tăng năng suất.
Không những thế những công nghệ này còn cho ra những sản phẩm có chất lƣợng cao hơn, tính năng đa dạng hơn, bền hơn và mẫu mã đa dạng, hàng hóa lúc này sẽ nhiều và rẻ hơn so với trƣớc. d) Khuyến khích năng lực kinh doanh trong nƣớc: Do các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài nhảy vào các thị trƣờng vốn có các nhà đầu tƣ trong nƣớc chiếm giữ phần lớn thị phần, nhƣng ƣu thế này sẽ không kéo dài đối với nhà đầu tƣ trong nƣớc khi ƣu thế về nguồn lực của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài trội hơn hẳn. Chính vì vậy các nhà đầu tƣ trong nƣớc phải đổi mới cả quá trình sản xuất của mình từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ bằng việc cải tiến công nghệ và phƣơng pháp quản lý để có thể trụ vững trên thị trƣờng. Đó chính là một trong những thử thách tất yếu của nền kinh tế thị trƣờng đối với các nhà sản xuất Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 9 trong nƣớc, không có kẻ yếu nào có thể tồn tại nếu không tự nó làm mình mạnh lên để sống trong cơ chế đó.
e) Tiếp cận với thị trƣờng nƣớc ngoài: Nếu nhƣ trƣớc đây khi chƣa có FDI, các doanh nghiệp trong nƣớc chỉ biết đến có thị trƣờng trong nƣớc, nhƣng khi có FDI thì họ đƣợc làm quen với các đối tác kinh tế mới không phải trong nƣớc. Họ chắc chắn sẽ nhận thấy rất nhiều nơi cần cái họ đang có, và họ cũng đang cần thì ở nơi đối tác lại có, do vậy cần phải tăng cƣờng hợp tác sẽ có nhiều sản phẩm đƣợc xuất khẩu để thu ngoại tệ về cho đất nƣớc đồng thời cũng cần phải nhập khẩu một số loại mặt hàng mà trong nƣớc đang cần. Từ các việc trao đổi thƣơng mại này sẽ lại thúc đẩy các công cuộc đầu tƣ giữa các nƣớc. Nhƣ vậy quá trình đầu tƣ nƣớc ngoài và thƣơng mại quốc tế là một quá trình luôn luôn thúc đẩy nhau, hỗ trợ nhau và cùng phát triển.