CHƯƠNG 1 ĐẶC DIEM TO CHỨC, HOAT ĐỘNG; THÀNH PHAN, NỘI DUNG, Y NGHIA TAI LIEU VA SU CAN THIET XAY DUNG DANH MUC HO SO, XAC DINH THANH PHAN TAI LIEU TRONG HO SO CUA NGAN HANG NHA NUOC VIET NAM 1.1 Đặc điểm về tổ chức và hoạt động cia NHNN VN 1. Sự hình thành, phát triển và kết quả hoạt động của NHNN VN Xây dựng nền tiền tệ và hệ thống ngân hàng độc lập, tự chủ có ý nghĩa quyết định đến cuộc cách mạng giành độc lập dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Hệ thống ngân hàng Việt Nam nói chung và NHNN VN nói riêng hình thành và phát triển gắn liền với sự phát triển của từng thời kỳ đấu tranh cách mạng và công cuộc xây dựng đất nước. Như chúng ta đều biết, trước cách mạng tháng Tám năm 1945, Việt Nam là nước thuộc địa nửa phong kiến dưới sự thống trị của thực dân Pháp.
Hệ thống tiền tệ, tín dụng ngân hàng được thiết lập và bảo hộ bởi thực dân Pháp thông qua Ngân hàng Đông Dương. Ngân hàng Đông Dương vừa đóng vai trò là Ngân hàng trung ương trên toàn cõi Đông Dương (Việt Nam, Lào, Campuchia), vừa là ngân hàng thương mại. Ngân hàng này là công cụ phục vụ đắc lực chính sách thuộc địa của chính phủ Pháp và làm giàu cho tư bản Pháp. Vì thế một trong những nhiệm vụ trọng tâm của cuộc Cách mạng tháng Tam năm 1945 lúc bấy giờ là phải từng bước xây dựng nền tiền tệ và hệ thống ngân hàng độc lập tự chủ.
Nhiệm vụ đó đã càng trở nên cấp bách từ năm 1950, thời kỳ công cuộc kháng chiến chống Pháp ngày một tiến triển mạnh mẽ với những chiến thăng vang đội trên khắp các chiến trường và mở rộng vùng giải phóng. Chính sự chuyên biến của cục diện cách mạng đó đòi hỏi lĩnh vực kinh tế, tài chính phải được củng cô và phát triển theo yêu cầu mới. 14 Trên cơ sở chủ trương chính sách mới về tài chính - kinh tế mà Đại hội Đảng lần thứ II (tháng 2/1951) đã đề ra, ngày 6/5/1951 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 15/SL chuẩn y việc thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam - Ngân hàng của Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á để thực hiện năm nhiệm vụ cấp bách: phát hành giấy bạc, quản lý Kho bạc, thực hiện chính sách tin dụng dé phát triển sản xuất, phối hợp với mau dịch dé quan lý tiền tệ và đấu tranh tiền tệ với địch. Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ra đời là kết quả nối tiếp của quá trình đấu tranh xây dựng hệ thống tiền tệ, tín dụng độc lập, tự chủ, đánh dau bước phát triển mới, thay đôi về chất trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng ở nước ta.
Tại Thông tư số 20/VP-TH ngày 21/01/1960 của Tổng Giám đốc Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ký thừa uỷ quyền Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam dé phù hợp với Hiến pháp 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện những nhiệm vụ cơ bản: củng cố thị trường tiền tệ, giữ cho tiền tệ ôn định, góp phan bình ồn vật giá, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc khôi phục kinh tế; phát triển công tác tín dụng nham phát triển sản xuất lương thực, day mạnh khôi phục và phát triển nông, công, thương nghiệp, góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng nên kinh tế xã hội chủ nghĩa miền Bắc và giải phóng miền Nam. Những năm sau khi miền Nam giải phóng năm 1975, việc tiếp quản Ngân hàng Quốc gia Việt Nam cộng hoà và các Ngân hàng tư bản tư nhân dưới chế độ Ngụy quyền Sài Gon đã mở dau cho quá trình nhất thé hoá hoạt động ngân hàng toàn quốc theo cơ chế hoạt động ngân hàng của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Tháng 7 năm 1976, đất nước được thống nhất về phương diện Nhà nước, nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra đời.
Theo đó, Ngân hàng Quốc gia ở miền Nam được hợp nhất vào Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tạo thành hệ thống Ngân hàng Nhà nước duy nhất của cả nước. Đến cuỗi những năm 80, hệ thống ngân hàng Nhà nước về cơ bản vẫn 15 hoạt động như là một công cụ ngân sách, chưa thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ theo nguyên tắc thị trường. Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI năm 1986 đã công khai đánh giá một cách trung thực, thắng than và toàn diện về cuộc khủng hoảng nghiêm trọng của đất nước trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh, xã hội., đồng thời khởi xướng công cuộc đổi mới rộng lớn về cơ chế quản lý chưa từng thấy trong lịch sử kinh tế Việt Nam. Hạt nhân của công cuộc đổi mới này là việc chuyên từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Sự chuyền đổi cơ chế quan ly đáp ứng đúng tính khách quan của xu thế phát triển và đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, xâm nhập vào mọi cấp, mọi ngành, trong đó ngân hàng được xem là một trong những ngành đột phá của công cuộc đổi mới vĩ dai này. Cơ chế mới về hoạt động ngân hàng - thực hiện tách dần chức năng quan lý Nhà nước ra khỏi chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dung, chuyền hoạt động ngân hàng sang hạch toán, kinh doanh xã hội chủ nghĩa - đã được hình thành và hoàn thiện dần. Tháng 5/1990, hai Pháp lệnh Ngân hàng ra đời (Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính) đã chính thức chuyển cơ chế hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam từ 1 cấp sang 2 cấp. Trong đó lần đầu tiên đối tượng, nhiệm vụ và mục tiêu hoạt động của mỗi cấp được Luật pháp phân biệt rạch ròi: Ngân hàng Nhà nước thực thi nhiệm vụ quản lý Nhà nước về hoạt động ngân hàng và thực thi nhiệm vụ của một ngân hàng trung ương: là ngân hàng của các ngân hàng và ngân hàng của Nhà nước.
Trong điều hành chính sách tiền tệ, lấy nhiệm vụ giữ én định giá trị đồng tiền làm mục tiêu chủ yếu và chi phối căn bản các chính sách cụ thé đối với các hệ thống các ngân hàng cấp 2- cấp ngân hàng kinh doanh thuộc lĩnh vực lưu thông tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và dich vu ngân hàng trong toàn nên kinh tế quốc dân. Là một ngành kinh tế huyết mạch và phản ánh đặc trưng nhất của cơ chê tiên tệ hoá nên kinh tê và thương mại hoá các nguôn vôn, ngành ngân 16 hàng (mà trước hết là NHNN VN- cơ quan quản lý Nhà nước về tiền tệ, tín dụng va hoạt động ngân hàng) phải có trách nhiệm lớn nhất trước dat nước về tăng cường sức mạnh của đồng tiền Việt Nam trong đối nội và đối ngoại. Với những đóng góp của ngành Ngân hang cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói chung và sự nghiệp đổi mới kinh tế nói riêng là vô cùng to lớn. Nhưng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt khi Việt nam gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO), thì đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của nước ta bị tác động không nhỏ, trong đó có ngành Ngân hang.
Dé hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể hội nhập vào hệ thống ngân hàng quốc tế với năng lực tài chính, công nghệ, trình độ quản lý tốt và hệ hồng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng đa dạng, có chất lượng cao cũng như cạnh tranh một cách chủ động khi đã là thành viên WTO, việc điều hành chính sách tiền tệ, hoạt động ngân hàng của NHNN VN là hết sức quan trọng. Ở phương diện vĩ mô - là cơ quan quản lý Nhà nước về tiền tệ, tín dụng, hoạt động ngân hàng, NHNN VN cần nhận dạng đúng, đầy đủ những khó khăn, thách thức, dé dé ra các chính sách, quy định, biện pháp, trên cơ sở đó toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam hoạt động một cách hiệu quả. Một trong những khó khăn mà NHNN VN phải đối mặt, đó là: - Hệ thống pháp luật ngân hàng còn thiếu, chưa đồng bộ và một số điểm chưa phù hop với thông lệ quốc tế. Điều này đặt ra yêu cầu về hoàn thiện hành lang pháp lý trong lĩnh vực ngân hàng.
- Vị thé và cơ cau tổ chức của NHNN VN chưa đáp ứng được yêu cầu dé ngan hang co thé thực thi hoạt động theo mục tiêu của một Ngan hàng Trung ương. - Hội nhập quốc tế sẽ làm tăng các giao dịch vốn, các luồng chu chuyển vốn sẽ rất phức tạp làm tăng khả năng rủi ro hệ thống ngân hàng. Trong khi đó, các công cụ chủ yếu của chính sách tiền tệ chưa được đổi mới kịp thời, năng lực điều hành chính sách tiền tệ cũng như giám sát hoạt động ngân hàng của Ngân hang Nhà nước vẫn còn hạn chế, sự phối hợp giữa các bộ, ngành 17 liên quan trong quản lý vĩ mô chưa được chặt chẽ làm công tác quản lý kém hiệu quả. Nhận thức rõ trách nhiệm, khó khăn, thách thức, NHNN VN đã có những nỗ lực rất lớn dé ôn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, nhằm cung ứng phương tiện trao đổi trong lưu thông hàng hoá, dịch vụ, cung ứng vốn trong đầu tư phát triển, cung ứng các dịch vụ tiện ích trong hoạt động kinh doanh và tiêu dùng của tất cả các ngành, các lĩnh vực trong nền kinh tế, thúc đây phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Những kết quả hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ, tín dụng, ngân hàng, NHNN VN đã nỗ lực trong thực hiện nhiệm vụ điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng nhằm kiềm chế lạm phát, thúc đây tăng trưởng kinh tế. Các công cụ chính sách tiền tệ tiếp tục được điều hành linh hoạt nhằm giảm áp lực tăng tong phương tiện thanh toán, ôn định lãi suất thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của các tô chức tín dụng.