Tổng quan luận án
Đại từ là một bộ phận giữ vị trí quan trọng trong hệ thống từ loại của ngữ pháp học. Nghiên cứu toàn diện hệ thống từ loại nói chung và đại từ nói riêng không chỉ đóng góp vào việc giải quyết các vấn đề lý thuyết ngữ pháp mà còn hỗ trợ trực tiếp cho các hoạt động thực tiễn như biên soạn sách giáo khoa, giáo trình dạy và học ngoại ngữ, cũng như biên soạn từ điển đối chiếu. Trong ngữ pháp học tiếng Hán và tiếng Việt, đại từ là một từ loại phức tạp, bao gồm nhiều tiểu loại có sự khác biệt rõ rệt về đặc điểm ngữ pháp, chức năng ngữ nghĩa và khả năng hoạt động cú pháp. Trước đây, các công trình ngôn ngữ học chủ yếu tập trung vào tiểu loại đại từ nhân xưng do mối liên hệ mật thiết với văn hóa xưng hô, trong khi các tiểu loại khác chưa được khảo sát đầy đủ và có hệ thống. Tại Việt Nam, chưa có công trình nào khảo cứu toàn diện hệ thống đại từ tiếng Hán trong sự so sánh đối chiếu với tiếng Việt nhằm phục vụ công tác giảng dạy và làm sáng tỏ lý thuyết từ loại cho các ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập.
Mục tiêu và nhiệm vụ của luận án được xác định cụ thể như sau:
- Tập hợp, miêu tả, phân tích và lý giải ba nhóm đại từ trong tiếng Hán gồm: đại từ nhân xưng (ĐTNX), đại từ chỉ thị (ĐTCT) và đại từ nghi vấn (ĐTNV) trên hai bình diện ngữ nghĩa và ngữ pháp.
- Tiến hành so sánh đối chiếu ba nhóm đại từ này với lớp từ tương đương trong tiếng Việt nhằm xác định những điểm tương đồng và khác biệt về ngữ nghĩa, ngữ pháp, qua đó phục vụ nghiên cứu ngôn ngữ và tìm hiểu đặc trưng văn hóa giao tiếp của hai dân tộc.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là ba tiểu loại đại từ tiếng Hán: đại từ nhân xưng, đại từ chỉ thị và đại từ nghi vấn, cùng hệ thống từ loại tương đương trong tiếng Việt. Phạm vi ngữ liệu khảo sát bao gồm:
- Các tác phẩm văn học (tiểu thuyết, truyện ngắn) viết bằng tiếng Hán (bao gồm các tác phẩm đã được dịch sang tiếng Việt, danh mục ngữ liệu tại Phụ lục trang 231 của luận án).
- Hệ thống giáo trình giảng dạy tiếng Hán của Trường Đại học Ngôn ngữ và Văn hóa Bắc Kinh (ĐHNN&VHBKTQ), bao gồm: Giáo trình Hán ngữ hiện đại (现代汉语教程), Giáo trình Hán ngữ (汉语教程), Giáo trình Đọc hiểu (汉语阅读教程), Giáo trình Đất nước học (中国地理概况), và Nói tiếng Hán bàn văn hóa (说汉语谈文化).
- Ngữ liệu khẩu ngữ trong hoạt động hội thoại và giao tiếp hàng ngày.
- Các tác phẩm văn học (tiểu thuyết, truyện ngắn) tiếng Việt phục vụ đối chiếu (Phụ lục trang 231).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong lịch sử nghiên cứu ngữ pháp tiếng Hán tại Trung Quốc, ở thập niên 50 của thế kỷ XX, các học giả chủ yếu điểm qua đại từ hoặc tập trung vào từ xưng hô xã hội. Tiêu biểu có Trần Nguyên (1950s) với cuốn Ngôn ngữ học xã hội phân tích các hình thức xưng hô mới sau khi nước Trung Hoa mới ra đời; Vương Lực (1954) trong Trung Quốc ngữ pháp lý luận và Lê Cẩm Hy (1954) trong Tân trứ quốc ngữ văn pháp (Văn phạm quốc ngữ mới) bước đầu đề cập đến việc phân định đại từ thành các tiểu loại.
Từ năm 1978, khi Trung Quốc tiến hành cải cách mở cửa, hàng loạt công trình nghiên cứu ngữ pháp và xưng hô ra đời. Điển hình là công trình Hệ thống xưng hô tiếng Hán và các ngôn ngữ khác trên thế giới của Điền Huệ Cương (dày 522 trang), nghiên cứu hệ thống xưng hô thân tộc dựa trên cơ chế gia đình qua các thời kỳ lịch sử. Các công trình khác gồm: Xưng vị ngữ của Mã Hồng Cơ và Thường Khánh Phong; Cách xưng hô tiếng Hán và tiếng Việt với văn hóa truyền thống của hai nước Trung - Việt của Phó Thành Cật; Ngôn ngữ và lễ nghi của Trần Tùng Sầm (1989, dày 108 trang với 68 trang về xưng hô); Kính khiêm từ trong tiếng Hán hiện đại của Lưu Hồng Lệ; Ngôn ngữ - tập tục với văn hoá Trung Quốc của Hoàng Đào (2001, 318 trang, 169 trang về văn hóa xưng hô).
Bên cạnh đó là các chuyên khảo và bài báo khoa học: Lã Thúc Tương (1985) với cuốn Cận đại Hán ngữ chỉ đại từ nghiên cứu tiểu loại ĐTCT và tần số ngữ dụng của 这 [zhè] và 那 [nà]; Thôi Hy Lượng (1995, 2000) với Nhân xưng đại từ và xưng vị chức năng; Tế Bố Cần với Trung Quốc xưng vị từ điển; Trần Trị An (1994) và Bành Tuyên Duy với Nghiên cứu ngữ chỉ thị nhân xưng; Cố Việt Quốc với Lễ mạo ngữ dụng và văn hóa; Dương Ứng Cầu với Luận Hán ngữ xưng vị ngữ; Trần Bình (1987) với Hô ngữ phân tích thuyết lược; Từ Đan (1988) với Lược bàn về tính không đối xứng của 这 / 那; Lâm Mỹ Dung (1990) với Hán ngữ thân thuộc xưng vị kết cấu phân tích; Vương Đắc Hạnh (1990) với Vấn đề ngữ dụng và giao tiếp xuyên văn hóa; Lý Thụy Tân (1990) với Từ xưng hô truyền thống và văn hóa truyền thống Trung Quốc; Mã Minh Xuân (1992) với Xưng vị tu từ học; Ngô Huệ Dĩnh (1993) với Mô phỏng xưng hô thân thuộc và văn hóa tâm lý; Hồ Văn Trọng (1994) với Các loại hình xưng hô và đặc điểm ngữ dụng; Thường Kính Vũ (1995) với Từ vựng tiếng Hán và Văn hóa; Phong Thục Trân (1997) với Yếu tố hạn chế vận dụng từ xưng hô; Đổng Đại Niên (1998) với Từ điển phân loại Hán ngữ hiện đại; Vu Phùng Xuân (1995) với Luận Hán ngữ thân thuộc xưng vị từ và văn hóa.
Tại Việt Nam, nghiên cứu về đại từ tiếng Hán có: Lê Xuân Thại (1997) với Loại từ trong từ tiếng Việt và tiếng Hán - đồng nhất và khác biệt; Nguyễn Thị Tuyết Thanh (2002) với Cách dùng đại từ tiếng Hán so sánh với tiếng Việt; Phạm Ngọc Hàm (2000) với Tiếng Hán, cách xưng hô trong gia đình và luận án Tiến sĩ Ngữ văn (2004) Đặc điểm và cách sử dụng của lớp từ xưng hô tiếng Hán (trong sự so sánh với tiếng Việt).
Về phía tiếng Việt, nghiên cứu đại từ khởi đầu từ Alexandre de Rhodes trong Từ điển Annam - Lusitan - Latinh, tiếp đến M. B. Emeneau (1951) dành 30 trang bàn về đại từ và danh từ xưng hô lâm thời, Laurence Thompson trong Vietnamese Grammar, Trương Vĩnh Ký trong Grammaire de la langue annamite. Giai đoạn sau có Trần Trọng Kim, Phạm Duy Khiêm, Bùi Kỷ (1950) trong Việt Nam văn phạm; Bùi Đức Tịnh (1952) trong Văn phạm Việt Nam; Nguyễn Kim Thản (1963) trong Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt; Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (1963) trong Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam. Từ thập niên 1970 trở lại đây, các nghiên cứu chuyên sâu gồm: Đỗ Hữu Châu (1981) trong Từ vựng – Ngữ nghĩa Tiếng Việt (tiếp cận theo chiếu vật, chỉ xuất, lý thuyết hội thoại); Đinh Văn Đức (1986) trong Ngữ pháp tiếng Việt - Từ loại; Diệp Quang Ban (1989, 2005) trong Ngữ pháp tiếng Việt; Nguyễn Văn Chiến (1993); Phạm Thành (1985); Bùi Minh Yến (1993); Trương Thị Diễm (nghiên cứu chuyển hóa danh từ thân tộc thành từ xưng hô); Cao Xuân Hạo (nghiên cứu đại từ "nó" chỉ số phức); Trần Ngọc Thêm (nghiên cứu hệ thống chỉ xuất không gian 3 cấp độ).
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết là: phần lớn các công trình trước đây chỉ tập trung vào ĐTNX hoặc từ xưng hô dưới góc độ văn hóa, xã hội, hoặc chỉ nghiên cứu các tiểu loại khác ở mức độ liệt kê phân loại rời rạc. Luận án tiến hành khảo cứu có hệ thống, toàn diện cả ba tiểu loại đại từ tiếng Hán trên cả hai bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa, đồng thời đặt trong thế so sánh đối chiếu với tiếng Việt.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở lý thuyết từ loại học trong ngôn ngữ học đại cương và ngôn ngữ học loại hình:
- Lịch sử phân định từ loại: Luận án điểm lại các cột mốc từ nghiên cứu cổ đại 4000 năm trước (theo Black, tài liệu 2300 TCN đã phân định danh từ và động từ), Panini phân loại tiếng Sanskrit thành 4 lớp (danh từ, động từ, giới từ, liên từ), Aristotle với khái niệm Méros tês léxeôs chia 4 lớp, Dionysius Thrax (trường phái Alexandria, năm 100 TCN) xác lập bảng 8 từ loại (danh từ, động từ, phân từ, quán từ, đại từ, giới từ, trạng từ, liên từ), bổ sung tính từ thời Trung cổ, cùng quan điểm của Steblin-Kamenski, Sherba và Kasevich (1998) về tính quy nạp và phân tích lời nói của hệ thống từ loại.
- Tiêu chí phân định từ loại: Đối với tiếng Hán, luận án áp dụng hai tiêu chí của Vương Lực gồm: (1) Tiêu chí ngữ nghĩa (ý nghĩa phạm trù khái quát); (2) Tiêu chí ngữ pháp (khả năng kết hợp trong ngữ đoạn và chức năng cú pháp cấu tạo câu). Đối với tiếng Việt, phân định dựa trên 3 tiêu chuẩn: ý nghĩa từ vựng - ngữ pháp khái quát, khả năng kết hợp và chức năng cú pháp chủ yếu.
- Bản chất và vị trí của đại từ: Phân chia vốn từ thành thực từ (danh, động, tính, số từ...) và hư từ (phó, liên, giới, trợ từ...). Luận án xác định đại từ là từ loại trung gian đặc biệt giữa thực từ và hư từ: không có nghĩa từ vựng chân thực (không gọi tên trực tiếp sự vật, hiện tượng), mang ý nghĩa ngữ pháp trỏ và thay thế cho các từ loại khác, đồng thời giữ vai trò là phương tiện liên kết câu và văn bản.
Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm:
- Phương pháp miêu tả và phân tích: Làm sáng tỏ cấu trúc, ý nghĩa và hoạt động cú pháp của từng nhóm đại từ tiếng Hán dựa trên lý thuyết thành phần câu và ngữ pháp văn bản.
- Thao tác thống kê ngữ liệu: Tập hợp ngữ liệu từ các tác phẩm văn học và giáo trình chuẩn, thống kê tần số xuất hiện của các đại từ để làm căn cứ định lượng cho việc miêu tả, phân tích.
- Phương pháp so sánh đối chiếu: Xuất phát từ tiếng Hán, đối chiếu với các phương tiện biểu đạt tương đương trong tiếng Việt để làm sáng tỏ các nét tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ cùng loại hình đơn lập.
Nguồn tư liệu khảo sát bao gồm ngữ liệu trích từ 5 bộ giáo trình Hán ngữ của ĐHNN&VHBKTQ, các tác phẩm văn học Trung Quốc (của Mâu Thuẫn, Lão Xá, Tào Ngu, Vương Mông, Băng Tâm, Mã Phong, Lăng Thanh...) cùng các bản dịch tiếng Việt, và tác phẩm văn học tiếng Việt (của Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, Trần Tế Xương, Nam Cao, Bùi Minh Hồi, Lê Ngọc Minh...).
Nội dung chính theo từng chương
Chương một: “Bức tranh về đại từ và nghiên cứu đại từ tiếng Hán” (30 trang)
Chương một tập trung xây dựng cơ sở lý luận về từ loại và phân định đại từ tiếng Hán trong sự so sánh tổng quan với tiếng Việt.
Về phân loại theo ngữ nghĩa, đại từ tiếng Hán được chia thành ba tiểu loại lớn: đại từ nhân xưng (我, 你, 他...), đại từ chỉ thị (这, 那...), và đại từ nghi vấn (谁, 什么, 哪...). Về phân loại theo ngữ pháp (theo Vương Lực), đại từ được chia theo tính chất từ loại mà nó thay thế gồm thể từ tính (thay thế cho danh từ) và vị từ tính (thay thế cho động từ, tính từ):
| Nhóm chức năng |
Đại từ nhân xưng |
Đại từ chỉ thị |
Đại từ nghi vấn |
| Thể từ tính |
我, 你, 他, 我们, 咱们, 你们, 他们, 人家, 大家 |
这, 那, 这儿, 那儿, 那会儿 |
谁, 什么, 哪儿, 多会儿 |
| Tính vị từ |
(không có) |
这么, 这样, 那么, 那样 |
怎么, 怎么样 |
Hệ thống đại từ tiếng Hán được đối chiếu với các lớp từ tương đương trong tiếng Việt:
| Các tiểu loại |
Tiếng Hán |
Tiếng Việt |
| 1. Đại từ nhân xưng |
- Dùng ở một ngôi: 我, 你, 您, 他, 她, 它; 我们, 你们, 他们, 她们, 咱们... - Dùng ở nhiều ngôi: 自己, 人家 |
- Dùng ở một ngôi: Tôi, tao, tớ, mày, mi, nó, chúng tôi, chúng tao, chúng nó... - Dùng ở nhiều ngôi: Mình, ta |
| 2. Đại từ chỉ thị |
- Gần, xa: 这, 那 - Trỏ thời gian: 这会儿, 那会儿... - Trỏ nơi chốn: 这里, 那里... - Trỏ số lượng, tổng thể: 这些, 那些... - Trỏ tính chất, trạng thái: 这么, 那么, 这样, 那样... |
- Xác chỉ thời gian: Bây giờ, giờ, nãy, nay... - Xác chỉ nơi chốn: Này, đây, đấy, đó, kia, nọ... - Xác chỉ số lượng, tổng thể: Tất cả, cả thảy... - Trỏ tính chất, trạng thái, cách thức: Thế, vậy... |
| 3. Đại từ nghi vấn / phiếm chỉ |
- Hỏi người, vật, sự vật: 谁, 什么 - Hỏi thời gian: 多会儿... - Hỏi nơi chốn: 哪, 哪里... - Hỏi số lượng: 几, 多少... - Hỏi tính chất, trạng thái: 怎么, 怎么样... |
- Nghi vấn/phiếm chỉ người, sự vật: Ai, gì, nào - Nghi vấn/phiếm chỉ thời gian: Bao lâu, mấy... - Nghi vấn/phiếm chỉ không gian: Đâu, nào... - Nghi vấn/phiếm chỉ số lượng: Mấy, bao nhiêu... - Nghi vấn/phiếm chỉ tính chất: Thế nào... |
Khảo sát khả năng đảm nhận chức vụ cú pháp của ba nhóm đại từ tiếng Hán cho thấy:
| Tiểu loại đại từ |
Chủ ngữ |
Vị ngữ |
Tân ngữ |
Trạng ngữ |
Bổ ngữ |
Định ngữ |
| ĐTNX |
+ |
- |
+ |
- |
- |
+ |
| ĐTCT |
+ |
- |
+ |
+ |
+ |
+ |
| ĐTNV |
+ |
+ |
+ |
+ |
+ |
+ |
Chương một chỉ ra các điểm dị biệt quan trọng:
- ĐTNV tiếng Hán có thể đảm nhiệm chức vụ vị ngữ (ví dụ: 他怎么样?), trong khi ở tiếng Việt, cả ba tiểu loại đại từ đều không có chức năng làm vị ngữ độc lập.
- ĐTNX tiếng Hán ở cả ba ngôi số ít và số nhiều có khả năng làm trung tâm ngữ của một danh ngữ nhận định ngữ là ngữ động từ, ngữ tính từ hoặc ngữ danh từ đứng trước thông qua trợ từ kết cấu 的 [de] (ví dụ: 离开家乡十多年的我..., 生活在这个山区的他们..., 七十多岁的他...). Hiện tượng này không tồn tại trong tiếng Việt.
- Bổ ngữ trong tiếng Hán do ĐTCT và ĐTNV đảm nhiệm kết nối với vị ngữ qua trợ từ 得 [de].
- Về ngữ nghĩa, đại từ thực hiện chức năng thay thế (cho danh từ, danh ngữ, cấu trúc chủ vị, đoạn văn), chức năng quy chiếu (hồi chỉ, khứ chỉ; quy chiếu ngôi, giới tính, số lượng) và chức năng chỉ xuất. Về chỉ xuất không gian, tiếng Hán phân biệt 2 cấp độ (gần: 这, xa: 那), trong khi tiếng Việt phân biệt 3 cấp độ (gần: đây; vừa: đấy, đó; xa: kia theo phân loại của Laurence Thompson và Trần Ngọc Thêm).
Bảng khảo sát ý nghĩa phạm trù giống/giới tính của ĐTNX tiếng Hán:
| Đại từ |
Người giống đực |
Người giống cái |
Vật giống đực |
Vật giống cái |
Sự vật |
| 我 [wǒ] |
+ |
+ |
- |
- |
- |
| 你 [nǐ] |
+ |
+ |
- |
- |
- |
| 他 [tā] |
+ |
- |
- |
- |
- |
| 她 [tā] |
- |
+ |
- |
- |
- |
| 它 [tā] |
- |
- |
+ |
+ |
+ |
| 我们 [wǒmen] |
+ |
+ |
- |
- |
- |
| 你们 [nǐmen] |
+ |
+ |
- |
- |
- |
| 他们 [tāmen] |
+ |
- |
- |
- |
- |
| 她们 [tāmen] |
- |
+ |
- |
- |
- |
| 咱们 [zánmen] |
+ |
+ |
- |
- |
- |
Bảng khảo sát ý nghĩa phạm trù giống của từ xưng hô tiếng Việt:
| Đại từ |
Người giống đực |
Người giống cái |
Vật giống đực |
Vật giống cái |
Giống trung |
| Tôi, tao, tớ, chúng tôi, chúng tao, chúng tớ, chúng mình |
+ |
+ |
- |
- |
- |
| Mày, mi, chúng mày... |
+ |
+ |
- |
- |
- |
| Hắn, y |
+ |
- |
- |
- |
- |
| Nó |
+ |
+ |
+ |
+ |
+ |
| Thị |
- |
+ |
- |
- |
- |
Chương hai: “Ngữ nghĩa và ngữ pháp của ĐTNX tiếng Hán (so sánh với lớp từ tương đương trong tiếng Việt)” (56 trang)
Chương hai đi sâu phân tích hệ thống từ xưng hô (TXH) và đại từ nhân xưng trong tiếng Hán hiện đại trong sự đối chiếu với tiếng Việt.
Hệ thống từ xưng hô trong cả hai ngôn ngữ đều phân chia thành: xưng hô bằng ĐTNX chính danh, xưng hô bằng danh từ thân tộc (DTTT), xưng hô bằng họ tên, bằng chức vụ nghề nghiệp và bằng từ xưng hô cũ. Tuy nhiên, người Trung Quốc chủ yếu xưng hô bằng ĐTNX mang tính chất trung tính, trong khi người Việt Nam sử dụng phổ biến danh từ thân tộc do tính chất biểu cảm và thứ bậc tôn ti.
Theo tài liệu Hán ngữ hiện đại của Hoàng Bá Vinh và Liêu Tự Đông (2000), tiếng Hán hiện đại có 16 đại từ nhân xưng:
| Ngôi |
Số ít |
Số nhiều |
| Ngôi thứ nhất |
我 [wǒ] |
我们 [wǒmen], 咱们 [zánmen] |
| Ngôi thứ hai |
你 [nǐ], 您 [nín] |
你们 [nǐmen] |
| Ngôi thứ ba |
他 [tā], 她 [tā], 它 [tā] |
他们 [tāmen], 她们 [tāmen] |
| Trường hợp khác |
自己 [zìjǐ] - 自个 [zìger], 别人 [biérén], 人家 [rénjia], 大家 [dàjiā], 大伙 [dàhuǒ], 彼 [bǐ], 此 [cǐ] |
(tương đương) |
Hệ thống ĐTNX chính danh tiếng Việt tương ứng:
| Ngôi |
Số ít |
Số nhiều |
| Ngôi thứ nhất |
Tôi, tao, tớ |
Chúng tôi, chúng tao, chúng tớ |
| Ngôi thứ hai |
Mày, mi |
Chúng mày, chúng mi |
| Ngôi thứ ba |
Hắn, nó, y, thị |
Chúng nó |
Về mặt định lượng, khảo sát tần suất xuất hiện của ĐTNX trong tác phẩm Thuyết khách doanh môn của Vương Mông (Phụ lục 2) ghi nhận:
- 我 [wǒ]: 114 lần
- 你 [nǐ]: 22 lần
- 你们 [nǐmen]: 78 lần
- 我们 [wǒmen]: 6 lần
- 他们 / 她们 [tāmen]: 17 lần
- 您 [nín]: 3 lần
Về phương diện lịch đại, số liệu từ Bảo bối xưng hô dân gian cho thấy tiếng Hán cổ đại có khoảng 160 cách xưng hô ngôi thứ nhất (tương đương 我 hiện đại) và 293 cách xưng hô ngôi thứ hai (tương đương 你 hiện đại), sau đó đơn giản hóa dần trong tiếng Hán hiện đại.
Khảo sát ngữ nghĩa cụ thể của đại từ 我 [wǒ]:
- Biểu thị ý nghĩa tự xưng: Dùng trong mọi quan hệ giao tiếp xã hội, huyết thống vai trên/vai dưới, ngang hàng, cấp trên/cấp dưới, không phân biệt tuổi tác hay sắc thái tình cảm.
- Biểu thị ý nghĩa hư chỉ bản thân: Thể hiện khái niệm bản thân một cách trừu tượng (như 忘我 - quên mình, 我见 - ý kiến chủ quan).
- Biểu thị ý nghĩa phía tôi, phe ta: Dùng trong thế đối lập (như 形势有利于我 - tình thế có lợi cho ta; 敌, 我, 友 - địch, ta, bạn; 我军 - quân ta).
- Xưng hô phiếm chỉ, không cụ thể: Kết hợp với 你 hoặc 他 tạo thành quán ngữ miêu tả sự tương tác qua lại (như 你一言我一语, 你来我往, 你瞧瞧我我看看他).
Đối chiếu với tiếng Việt: Đại từ 我 tương ứng với các ĐTNX chính danh "tôi, tao, tớ" và toàn bộ hệ thống danh từ thân tộc tự xưng ("ông, bà, cha, mẹ, cô, dì, anh, chị, em, con, cháu..."). Đại từ "tôi" trong tiếng Việt mang sắc thái trung hòa, trang trọng (như phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Tôi nói đồng bào nghe rõ không?"), không bao quát toàn bộ các ngữ cảnh xưng hô thân mật hay thứ bậc gia đình như đại từ 我 trong tiếng Hán.
Chương ba: “Ngữ nghĩa và ngữ pháp của ĐTCT tiếng Hán (so sánh với lớp từ tương đương trong tiếng Việt)” (62 trang)
Chương ba khảo sát hệ thống đại từ chỉ thị tiếng Hán gồm: nhóm chỉ thị không gian/sự vật (这, 那), chỉ thị địa điểm (这里, 那里, 这儿, 那儿), chỉ thị thời gian (这时候, 那时候, 这会儿, 那会儿), chỉ thị số lượng/tổng thể (这些, 那些), và chỉ thị phương thức/tính chất/trạng thái (这么, 那么, 这样, 那样).
Về mặt ngữ nghĩa:
- ĐTCT tiếng Hán xác lập hai cực chỉ xuất không gian: cực gần (这 - gần người nói) và cực xa (那 - xa người nói). Khi kết hợp với danh từ chỉ thời gian, chúng tạo thành các tổ hợp chỉ xuất thời gian như 这天 (hôm nay/hôm rày), 那天 (hôm đó), 这个星期 (tuần này).
- Các đại từ 这么, 那么, 这样, 那样 biểu thị tính chất, trạng thái, cách thức thực hiện hành động, thay đổi ý nghĩa linh hoạt tùy theo ngữ cảnh và đối tượng quy chiếu.
Về mặt ngữ pháp:
- ĐTCT đảm nhiệm đầy đủ các chức vụ: chủ ngữ (这是我们的学校), tân ngữ (我昨天不是去那里), định ngữ (这项工作), trạng ngữ (他们这么热情地对待我), bổ ngữ kết hợp với 得 (七十多岁的他还这么硬朗), và trung tâm ngữ.
- ĐTCT giữ vai trò liên kết câu và liên kết đoạn trong văn bản (như cấu trúc liên kết: 要是没有恒心,那就什么事也别想干成).
- Đối chiếu với tiếng Việt: Lớp từ chỉ thị tiếng Việt gồm các từ xác chỉ nơi chốn (này, đây, đấy, đó, kia, nọ), xác chỉ thời gian (bây giờ, bấy giờ, nay, nãy, mai), chỉ cách thức/tính chất (thế, vậy). Tiếng Việt duy trì hệ thống định vị không gian 3 cấp độ (gần: đây; vừa: đấy, đó; xa: kia), khác với hệ thống 2 cực của tiếng Hán. Một số đại từ chỉ định không gian trong tiếng Việt còn có khả năng chuyển hóa làm đại từ nhân xưng trỏ người nói và người nghe (như "đây" - "đó" trong ca dao, truyện Kiều, Lục Vân Tiên).
Chương bốn: “Ngữ nghĩa và ngữ pháp của ĐTNV tiếng Hán (so sánh với lớp từ tương đương trong tiếng Việt)” (51 trang)
Chương bốn khảo cứu hệ thống đại từ nghi vấn tiếng Hán gồm: 谁 [shéi] (ai), 什么 [shénme] (cái gì), 哪 [nǎ] / 哪里 [nǎli] (nào, đâu), 几 [jǐ] / 多少 [duōshao] (mấy, bao nhiêu), 怎么 [zěnme] / 怎么样 [zěnmeyàng] (sao, thế nào), 多会儿 [duōhuìr] (bao giờ, bao lâu).
Về mặt ngữ nghĩa:
- Biểu thị ý nghĩa nghi vấn chuyên biệt: hỏi về người (谁), sự vật/hành động (什么), thời gian (多会儿), địa điểm (哪, 哪里), số lượng (几, 多少), tính chất/cách thức (怎么, 怎么样).
- Biểu thị ý nghĩa phiếm chỉ (hư chỉ / nhậm chỉ): Khi dùng trong câu trần thuật hoặc câu điều kiện, ĐTNV mất đi nghĩa nghi vấn để biểu đạt đối tượng bất kỳ hoặc phiếm chỉ (ví dụ: 谁喜欢谁去 - ai thích người ấy đi; 哪儿需要就到哪儿 - chỗ nào cần thì đến chỗ đó).
Về mặt ngữ pháp:
- ĐTNV tiếng Hán có khả năng đảm nhận tất cả các vị trí cú pháp trong câu: chủ ngữ (谁是你的老师?), tân ngữ (你跟他说什么?), định ngữ (什么事), trạng ngữ (怎么做), bổ ngữ, và đặc biệt là chức vụ vị ngữ (他怎么样?; 那位老人怎么了?).
- Đối chiếu với tiếng Việt: Các từ nghi vấn tương đương trong tiếng Việt (ai, gì, đâu, nào, mấy, bao nhiêu, sao, thế nào) cũng có cách dùng phiếm chỉ. Tuy nhiên, đại từ nghi vấn tiếng Việt không đảm nhận chức vụ vị ngữ độc lập trong câu trần thuật như tiếng Hán. Trong dịch thuật đối chiếu, ĐTNV mang nghĩa phiếm chỉ lặp lại trong tiếng Hán (như 谁...谁..., 哪儿...哪儿...) khi chuyển dịch sang tiếng Việt thường phải thay thế bằng danh từ ("người ấy") hoặc đại từ chỉ thị ("đó", "đấy").
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Luận án là công trình đầu tiên tại Việt Nam tiến hành khảo cứu một cách toàn diện, có hệ thống toàn bộ hệ thống đại từ tiếng Hán trên cả hai bình diện ngữ nghĩa và hoạt động ngữ pháp.
- Đặt đại từ tiếng Hán trong sự so sánh đối chiếu có hệ thống với lớp từ tương đương trong tiếng Việt – hai ngôn ngữ tiêu biểu cùng thuộc loại hình đơn lập. Kết quả nghiên cứu cung cấp tư liệu góp phần khẳng định và hoàn thiện lý thuyết loại hình học về từ loại đại từ, làm rõ vị trí trung gian đặc biệt của đại từ trong hệ thống từ loại ngôn ngữ đơn lập.
Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp cơ sở ngôn ngữ học để nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Hán cho người Việt Nam, giúp người học nhận diện chính xác các điểm tương đồng và dị biệt về ngữ nghĩa, ngữ pháp của đại từ.
- Đóng vai trò là tài liệu tham khảo cho công tác biên soạn giáo trình, sách giáo khoa dạy tiếng Hán và hỗ trợ giải quyết các khó khăn trong hoạt động biên phiên dịch Hán - Việt.
Các giải pháp và kiến nghị đề xuất:
- Cần đưa các đặc trưng ngữ pháp đặc thù của đại từ tiếng Hán (như hiện tượng ĐTNX làm trung tâm ngữ nhận định ngữ phía trước đi kèm trợ từ 的, hiện tượng ĐTNV làm vị ngữ, cấu trúc chỉ xuất không gian 2 cấp độ) vào nội dung giảng dạy ngữ pháp chuyên sâu cho học viên Việt Nam.
- Trong công tác biên dịch Hán - Việt, người dịch cần chú ý sự chuyển dịch chức năng từ loại, đặc biệt khi xử lý các đại từ nhân xưng mang tính trung tính của tiếng Hán sang hệ thống từ xưng hô thân tộc đa tầng ngữ nghĩa trong tiếng Việt.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt phạm vi, luận án tập trung khảo sát ba tiểu loại đại từ nòng cốt (ĐTNX, ĐTCT, ĐTNV) trong tiếng Hán hiện đại và so sánh với tiếng Việt hiện đại. Do giới hạn về mặt ngữ liệu và mục tiêu nghiên cứu, luận án chưa khảo cứu sâu toàn bộ các biến thể ngữ âm - lịch sử của đại từ qua các thời kỳ cổ trung đại mà chỉ điểm qua một số số liệu lịch đại mang tính đối chiếu.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát các cấu trúc đại từ phản thân, đại từ hỗ tương chuyên sâu, cũng như phân tích hoạt động ngữ dụng của đại từ trong các thể loại văn bản hành chính, văn bản khoa học và giao tiếp liên văn hóa đa phương tiện.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đối tượng:
- Giảng viên, giáo viên tiếng Hán: Tham khảo khung miêu tả ngữ nghĩa - ngữ pháp của đại từ để thiết kế bài giảng, giải thích lỗi sai thường gặp của người học Việt Nam khi tiếp cận đại từ tiếng Hán.
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ Trung Quốc: Nguồn ngữ liệu và khung phân tích đối chiếu loại hình học giữa tiếng Hán và tiếng Việt.
- Người làm công tác biên phiên dịch và biên soạn tài liệu giảng dạy: Tham khảo bảng đối chiếu chức năng cú pháp và các mô hình chuyển dịch tương đương giữa đại từ tiếng Hán và tiếng Việt để nâng cao độ chuẩn xác trong dịch thuật.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng những tiêu chí nào để phân định từ loại tiếng Hán?
Luận án áp dụng hai tiêu chí chính do Vương Lực đề xuất: (1) Tiêu chí ngữ nghĩa (ý nghĩa khái quát mang tính phạm trù của từ); (2) Tiêu chí ngữ pháp (bao gồm khả năng kết hợp của từ trong ngữ đoạn và chức năng cú pháp của từ khi tham gia cấu tạo câu).
2. Điểm khác biệt nổi bật về chức năng cú pháp giữa đại từ tiếng Hán và đại từ tiếng Việt là gì?
Trong tiếng Hán, đại từ nghi vấn (ĐTNV) có thể trực tiếp đảm nhiệm chức vụ vị ngữ trong câu (ví dụ: 他怎么样?). Ngược lại, trong tiếng Việt, cả ba tiểu loại đại từ (ĐTNX, ĐTCT, ĐTNV) đều không có chức năng làm vị ngữ độc lập.
3. Khả năng kết hợp đặc thù của đại từ nhân xưng tiếng Hán mà tiếng Việt không có là gì?
ĐTNX tiếng Hán ở cả ba ngôi số ít và số nhiều có thể làm trung tâm ngữ của một danh ngữ nhận định ngữ là ngữ động từ, ngữ tính từ hoặc ngữ danh từ đứng trước liên kết bằng trợ từ 的 (ví dụ: 离开家乡十多年的我... - Tôi, một người xa quê hương đã hơn mười năm...). Cấu trúc này không có dạng thức tương đương trực tiếp trong tiếng Việt.
4. Sự khác biệt về cấp độ chỉ xuất không gian giữa đại từ chỉ thị tiếng Hán và tiếng Việt là gì?
Tiếng Hán phân chia chỉ xuất không gian thành 2 cấp độ: gần người nói (这) và xa người nói (那). Tiếng Việt phân chia thành 3 cấp độ: cự ly gần (đây, này), cự ly vừa (đấy, đó) và cự ly xa (kia).
5. Tần suất xuất hiện của các đại từ nhân xưng trong tác phẩm "Thuyết khách doanh môn" của Vương Mông được thống kê như thế nào?
Trong tác phẩm này, đại từ 我 xuất hiện 114 lần, 你 xuất hiện 22 lần, 你们 xuất hiện 78 lần, 他们 / 她们 xuất hiện 17 lần, 我们 xuất hiện 6 lần và 您 xuất hiện 3 lần.
Kết luận
Luận án đã tập hợp và miêu tả toàn diện hệ thống đại từ tiếng Hán gồm ba tiểu loại đại từ nhân xưng, đại từ chỉ thị và đại từ nghi vấn trên cả hai bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa. Thông qua việc so sánh đối chiếu có hệ thống với lớp từ tương đương trong tiếng Việt, công trình đã xác lập các điểm tương đồng và dị biệt mang tính loại hình học giữa hai ngôn ngữ đơn lập. Các kết quả nghiên cứu không chỉ bổ sung cơ sở lý luận cho việc phân định từ loại mà còn cung cấp tài liệu phục vụ trực tiếp cho công tác giảng dạy, biên soạn giáo trình và dịch thuật Hán - Việt.