phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có ba chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận Chƣơng 2: Hoạt động của đại từ nhân xưng trong tiếng Anh, tiếng Đức và từ xưng hô trong tiếng Việt Chƣơng 3: Một số vấn đề chuyển dịch đại từ nhân xưng tiếng Anh, tiếng Đức sang tiếng Việt qua một số bản dịch tiêu biểu 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Các khái niệm cơ bản 1. Đại từ và đại từ nhân xưng 1. Đại từ Đại từ là một từ loại được nhiều nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm và đã được nhiều sách ngữ pháp tiếng Việt thống nhất đặt tên.
Trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” (2001: 148), Nguyễn Hữu Quỳnh quan niệm: “Đại từ là những từ dùng để chỉ sự vật, để xưng hô, để thay thế cho danh từ, động từ, tính từ và cụm từ trong câu.” Tác giả Nguyễn Văn Thành trong cuốn “Tiếng Việt hiện đại” (2003: 115) định nghĩa: “Đại từ là những từ dùng để chỉ người, chỉ vật, chỉ ngôi thứ thay cho các danh từ cụ thể và để chỉ định xác định các danh từ, các đại từ nhân xưng làm cho chúng có tính xác định rõ ràng.” “Đại từ là từ loại không gọi tên sự vật, hiện tượng… mà thay thế cho chúng, chức năng của đại từ giống như chức năng của danh ngữ. Đối với tiếng Việt, một số nhà ngôn ngữ học cho rằng đại từ là loại thực từ có thể tự mình làm thành một danh ngữ, trong một số trường hợp có thể làm trung tâm của một danh ngữ. Người ta có thể chia đại từ thành đại từ xác định và đại từ bất định, đại từ nhân xưng, đại từ chỉ định, đại từ nghi vấn, đại từ phản chỉ, đại từ quan hệ, đại từ tương hỗ.” (Dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp, 2010: 175) “Đại từ là từ loại không định danh sự vật đối tượng mà chỉ định chúng trong một ngữ cảnh nhất định (như nó, tôi, này, ấy, nào…)” (Nguyễn Như Ý, 1998: 580) “Đại từ là những từ dùng để thay thế cho danh từ / danh ngữ; tức là đại từ không gọi tên các sự vật, hành động, mà “chỉ ra” chúng.” (Vũ Đức Nghiệu, 2009: 301) 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Có thể thấy rằng, các quan niệm trên đều thống nhất ở chỗ coi đại từ là những từ dùng để chỉ người, chỉ vật , chỉ sự vật. Đại từ có thể thay thế cho các từ loại trong câu như danh từ, động từ, tính từ….
Trong các ngôn ngữ, số lượng đại từ không nhiều như danh từ, vị từ; mà ngược lại, có thể nói là rất ít, không đáng kể nếu so sánh với danh từ, vị từ. Tuy nhiên, các đại từ có những vai trò, ý nghĩa và chức năng rất đa dạng. Căn cứ vào những tiêu chí về ý nghĩa, chức năng… đó, các tiểu loại của đại từ đã được phân định như: đại từ nhân xưng, đại từ chỉ định. Đại từ nhân xưng Đại từ nhân xưng là đối tượng nghiên cứu của đề tài nên chúng tôi tách phần này ra làm một mục riêng và chỉ tập trung nghiên cứu vào kiểu loại đại từ này.
Các nhà Việt ngữ như: Nguyễn Kim Thản, Diệp Quang Ban, Bùi Minh Toán đều phân biệt đại từ nhân xưng đích thực và các danh từ, danh ngữ dùng trong xưng hô. Từ điển Bách Khoa Việt Nam (1995: 352) ghi rõ: “Đại từ nhân xưng (còn gọi là đại từ xưng hô) là đại từ dùng để tự xưng (ngôi thứ nhất), để gọi người đối thoại (ngôi thứ hai), để gọi người hay sự vật thứ ba (ngôi thứ ba). Đại từ nhân xưng gồm số ít và số nhiều”. Nguyễn Kim Thản (1997: 276) cho rằng: “Đại từ nhân xưng gồm có: tao, ta, mày, mi, nó, hắn, y, chúng và những đại từ gốc là danh từ: tôi, tớ, họ…” Nguyễn Hữu Quỳnh (1994: 163) quan niệm: Đại từ xưng hô là đại từ được dùng để xưng hô hoặc thay thế và trỏ người.
Đại từ xưng hô trong tiếng Việt gồm các đại từ chuyên dùng để xưng hô và các đại từ xưng hô lâm thời, mượn các danh từ biểu thị quan hệ thân thuộc hay quan hệ xã hội”. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Để thống nhất trong việc khảo sát và nghiên cứu, chúng tôi xin đồng ý với quan điểm của Diệp Quang Ban (2010: 127) về đại từ nhân xưng: đại từ xưng hô dùng thay thế và biểu thị các đối tượng tham gia quá trình giao tiếp (được phản ánh trong nội dung ý nghĩa của thực từ hay tổ hợp thực từ tương ứng). Đối tượng tham gia quá trình giao tiếp (người, vật) được chỉ ra một cách chung nhất ở cương vị ngôi trong ý nghĩa của đại từ. Vì vậy, có thể phân biệt đại từ dùng ở một ngôi xác định và đại từ có thể dùng được ở nhiều ngôi khác nhau.
Như vậy, đại từ nhân xưng đích thực được chia thành ba ngôi: Ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai, ngôi thứ ba và phân chia theo số ít và số nhiều. Việc xưng hô theo ngôi trong tiếng Việt có đặc điểm riêng là không chỉ dùng nhân xưng từ, mà còn dùng các lớp từ khác làm từ chỉ ngôi (Diệp Quang Ban, 2005: 519). Các đại từ nhân xưng của tiếng Việt ít có sắc thái trung tính. Bên cạnh các đại từ nhân xưng chuyên dùng tiếng Việt còn sử dụng một số lượng lớn các từ và ngữ khác để xưng hô.
Quan niệm Xưng hô là một hành động ngôn ngữ, được thực hiện trong giao tiếp ở tất cả các cộng đồng người, các dân tộc trên thế giới. Mỗi một ngôn ngữ đều có hệ thống từ xưng hô của riêng ngôn ngữ đó. Hệ thống từ xưng hô này không chỉ thực hiện chức năng xưng, gọi mà còn thể hiện đặc điểm ngôn ngữ, đặc trưng tâm lý, đặc trưng văn hóa của dân tộc mình. Có rất nhiều cách hiểu về xưng hô.
Trong những năm đầu thế kỷ XX, khái niệm xưng hô được hiểu là “tiếng kêu gọi” hoặc hành động “kêu gọi lẫn nhau”, “gọi nhau” (Bùi Thị Minh Yến, 1994: 31). 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sau này, trong một số từ điển tiếng Việt, xưng hô được định nghĩa là hành động “tự xưng mình và gọi người khác là gì đó để biểu thị tính chất của mối quan hệ với nhau” (Hoàng Phê, 1994: 1200), hoặc là hành động “tự xưng mình và gọi người khác trong giao tiếp…” (Nguyễn Như Ý, 1998: 1152), là “việc gọi nhau trong lúc giao thiệp” (Nguyễn Lân, 2000: 1215). Như vậy, có thể thấy rằng, khái niệm xưng hô trong phần lớn các từ điển là hành động nói năng, có chức năng biểu thị thứ bậc hay vai vế của những người tham gia giao tiếp. Trong các công trình nghiên cứu về Việt ngữ của các nhà ngôn ngữ học, khái niệm xưng hô được trình bày một cách đầy đủ và khoa học hơn.
Theo quan điểm này, xưng hô đã được coi là một hành động, một hành vi ngôn ngữ có chức năng đưa người nói và người nghe vào trong giao tiếp. Các quan niệm nêu trên đều thống nhất ở chỗ coi xưng hô là hành động tự xưng mình và gọi người khác khi nói với nhau để biểu thị tính chất của mối quan hệ. Xưng hô bao gồm hai yếu tố Xưng và Hô. Xưng ứng với ngôi nhân xưng thứ nhất, hô ứng với ngôi nhân xưng thứ hai.
Các phương tiện nhân xưng ngôi thứ nhất là sự tự quy chiếu của người nói. Các phương tiện nhân xưng ngôi thứ hai là sự quy chiếu đến người nghe. Chức năng của xưng hô là chỉ thị người nói, người nghe trong một cuộc hội thoại. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Các phương tiện xưng hô Phương tiện xưng hô là những đơn vị từ, ngữ dùng để xưng hô nhằm chỉ vai người nói người nghe trong hoạt động giao tiếp. Phương tiện xưng hô bao gồm đại từ nhân xưng và các phương tiện xưng hô khác. Về đại từ nhân xưng chúng tôi đã trình bày trong phần 1.2, dưới đây chúng tôi chỉ trình bày về các phương tiện xưng hô khác. “Từ xưng hô là toàn bộ những đơn vị từ vựng để người nói tự xưng, để gọi người giao tiếp với mình và để chỉ người thứ ba vắng mặt trong cuộc giao tiếp.
Còn đại từ xưng hô là một từ loại, hay chính xác hơn là một bộ phận của từ loại đại từ được dùng để xưng hô” (Nguyễn Thị Trung Thành, 2007: 2) Theo quan điểm của các nhà Việt ngữ trước đây như Cao Xuân Hạo (2001), Nguyễn Đức Thắng (2002) đều cho rằng: “Bên cạnh nhóm đại từ nhân xưng đích thực dùng trong xưng hô, người Việt còn dùng các “đại từ nhân xưng lâm thời” gồm các danh từ thân tộc, danh từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp để xưng hô”. Diệp Quang Ban (2005: 288) nhấn mạnh: “Trong xưng hô, chính lớp từ thứ hai tức danh từ chỉ quan hệ thân tộc cho thấy rõ nhất nghĩa liên nhân của nhân xưng từ trong tiếng Việt. Như vậy, trong giao tiếp, người Việt thường mượn các từ chỉ quan hệ gia đình, nghề nghiệp, chức vụ, học hàm, học vị… để xưng gọi, đặc biệt là các từ chỉ quan hệ gia đình chiếm số lượng lớn và xuất hiện trong nhiều môi trường hoạt động của con người. Bởi vì, trong giao tiếp, người nói thường hướng tới người đối thoại với hai thái độ: lịch sự hoặc không lịch sự gắn với bốn kiểu sắc thái biểu cảm: trang trọng, trung hoà, thân mật, suồng sã và thô tục, khinh thường.
Mặt khác, trong giao tiếp, xưng hô thường thể hiện ở hai phạm vi: Xưng hô trong gia tộc và xưng hô ngoài xã hội. Điểm đặc biệt trong giao tiếp của người Việt là quan hệ giữa người và người trong gia tộc chuyển thành quan hệ giữa người và người trong xưng hô ngoài xã hội. Trong giao 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiếp, những người tham gia giao tiếp cần phải thực hiện đúng vai giao tiếp của mình. Ngoài ra, mỗi cá nhân đều phải tuân thủ những quy tắc giao tiếp đã được xã hội chấp nhận như những chế định.
Một trong những quy tắc và chiến lược quan trọng luôn được chú ý trong giao tiếp là nhân tố lịch sự. Các nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra cả một lý thuyết liên quan tới vấn đề này gọi là lý thuyết lịch sự. Một số vấn đề về lý thuyết lịch sự và vai giao tiếp trong ngôn ngữ 1. Lý thuyết lịch sự trong ngôn ngữ học Lịch sự là một phạm trù gắn liền với lịch sử phát triển của các nền văn hoá, trong đó phản ánh các nền nếp văn hoá của dân tộc.