Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới Con người nhận thức và lợi dụng nấm đã có lịch sử 6000 năm. Về phân loại nấm được hình thành khoảng gấn 300 năm. Năm 1729 Michell lần đầu tiên quan sát nấm bằng kính hiển vi, đưa ra khóa phân loại. Năm 1772 trong cuốn “ Hệ thống tự nhiên” Lineaus đưa ra 10 chi nấm.
Trong một thời kỳ dài người ta đưa thuyết 2 giới, nấm được xếp vào giới Thực vật. Các nhà nấm học hiện đại hướng theo quan điểm nấm là một giới riêng (Kingdom Fungi). Trong giới nấm chia thành 2 ngành, nấm nhầy và nấm thật. Về mặt lịch sử các nhà nấm học đã xây dựng rất nhiều hệ thống phân loại theo các quan điểm khác nhau.
Trong đó có mấy hệ thống phân loại có ảnh hưởng lớn là: Bergey (1950) phân nấm ra các lớp nấm Nhầy, nấm Túi, nấm Đảm và nấm Bất toàn. Whitake (1969) lại phân nấm ra làm 3 giới phụ: nấm Nhầy, nấm Hai lông roi và nấm Một lông roi, về sau mới chia ra ngành phụ nấm Lông roi, ngành phụ nấm Túi, ngành phụ nấm Đảm. Theo hệ thống phân loại của Magulis (1974) ngoài nấm Nhầy ra chúng bao gồm cả Địa y, chia nấm ra các ngành nấm Tiếp hợp, ngành nấm Túi, ngành nấm Đảm, ngành nấm Bất toàn và ngành nấm Địa y. Alexopoulos (1979) chia giới nấm ra ngành nấm Nhầy và ngành nấm Thật.
Ngành nấm Thật được chia ra ngành nấm Lông roi, ngành Không lông roi ( bao gồm ngành nấm Tiếp hợp, ngành phụ nấm Túi, ngành phụ nấm Đảm, ngành phụ nấm Bất toàn)…Nguyên nhân sự phân loại khác nhau là khi các tác giả nghiên cứu mối quan hệ thân thuộc, tiêu chuẩn đánh giá một số tác dụng không như nhau. Một hệ thống phân loại lý tưởng là nên theo xu thế quan hệ thân thuộc tự nhiên và tiến hóa. Trong thời gian dài cho đến năm 2000, phần lớn trong các hệ thống vẫn chưa có hệ thống phân loại hợp lý được nhiều người công nhận, nhưng phần lớn cho rằng 4 hai hệ thống của Ainsworth và Alexopoulos là khá toàn diện, phản ánh được nội dung tiến triển mới và được nhiều người tiếp thu. Ngành nấm Thật được chia ra 5 ngành phụ, 18 lớp, 68 bộ.(Zhao,1998) [ 29] Nghiên cứu hệ thống phân loại nấm Lớn cũng đã có khoảng 200 năm lịch sử, sớm nhất là nhà nấm học Nam Phi nổi tiếng Persoon ( học tập và công tác ở Đức và Pháp) có trước tác chủ yếu là : Synopsis Methodica Fungorum (1801 ) và nhà nấm học Thuỵ Điển Fries có tác phẩm nổi tiếng là Systema Mycologic(1821-1832), rất nhiều loài nấm được Persoon và Fries đặt tên.(Zhao,1998) [40] Thời kỳ đó việc phân loại đều dựa vào đặc trưng hình thái bên ngoài và không phải là phương pháp phân loại tự nhiên.
Người sử dụng kính hiển vi để phân loại sớm nhất là Patouillard với tác phẩm quan trọng là Essai taxonomique sur les families et les genres des Hyménomycétes,1900. Hệ thống phân loại hiện đại mới được hình thành khoảng 30-50 năm nay. Chủ yếu là dựa vào đặc điểm hiển vi. Gần 20 năm nay mới bắt đầu quan sát thông qua kính hiển vi điện tử (TEM) và có những cống hiến lớn cho hệ thống phân loại nấm lớn.
Gần 10 năm lại đây phương pháp ứng dụng sinh học phân tử đã bắt đầu, nhất là mấy năm nay các nhà khoa học đã sử dụng phân tích thứ tự DNA,RNA và trở thành một lợi khí nghiên cứu mối quan hệ họ hàng các loài nấm. Ứng dụng phân tích sinh học phân tử so với sử dụng kính hiển vi là phương pháp chủ yếu nghiên cứu hệ thống phân loại nấm (Zhu, 2005) [46] Sinh học hiện đại đã dùng kỹ thuật cao, phân lập nuôi dưỡng đã tìm hiểu bản chất của sinh vật, như dùng kính hiển vi điện tử quan sát kết cấu siêu hiển vi, đã phát hiện được nhiều chi mới. Những năm gần đây nhiều nhà nấm học đều ủng hộ quan điểm phân loại của Hibbett và M. Aime (2006) trong cuốn "Kingdom Fungi" mà Paul M.
Stalpers biên soạn trong cuốn " Từ điển Nấm" 5 (Dictionary of the Fungi) xuất bản lần thứ 10 năm 2008. Chủ yếu là nâng ngành phụ nấm Đảm ( Basidiomycotina) thành ngành chính (Basidiomycota).[35] Về thành phần loài chủ yếu là nghiên cứu, phân loại theo hệ thống phân loại mới của NCBI năm 2012. Nhiều tài liệu đã đề cập khá tỷ mỷ về phương pháp thu thập ảnh mẫu. Nghiên cứu hệ thống phân loại nấm lớn cũng đã có khoảng 200 năm lịch sử, sớm nhất là nhà nấm học Nam Phi nổi tiếng Persoon, có trước tác là: Synopsis Methodica Fugorum (1801) và nhà nấm học Thuỵ Điển Fries có tác phẩm nổi tiếng là Systema Mycologicum (1821-1832); rất nhiều loài nấm được Persoon và Fries đặt tên.(Zhao,1998) [ 46] Ryvarden (1976-1987), Ryvarden & Johansen (1980) và Gilbertson & Ryvarden ( 1986-1987) đều thừa nhận nấm Linh Chi cũng như các sinh vật khác đã thể hiện tính đa dạng.
Phân loại là một thế giới khách quan, nhằm 2 mục đích: (1) phát hiện tài nguyên loài khác nhau một cách chính xác, để lợi dụng tài nguyên đó; (2) nghiên cứu hệ thống phân loại tự nhiên chứng minh mối quan hệ tiến hoá, giữa quần thể với quần thể, giữa loài với loài, đồng thời có thể bổ sung tài nguyên. Những năm gần đây nhiều nhà nấm học đều ủng hộ quan điểm phân loại của Hibbett và M. Aime (2006) trong cuốn "Kingdom Fungi" mà Paul M.Stalpers biên soạn trong cuốn "Từ điển nấm" (Dictionnary of the Fugi) xuất bẩn lần thứ 10 năm 2008. Chủ yếu là nâng ngành phụ nấm Đảm ( Basidiomycotina) thành ngành chính (Basidiomycota).
Từ năm 2004 đến năm 2007, khu rừng chủ yếu ở Quảng Tây điều tra sơ bộ giám định được 136 loài, trong đó có 84 loài nấm mới chiếm 61,8%, phân tích thành phần loài nấm lỗ có 15 họ, 50 chi, 136 loài. Loài ưu thế là Polyporaceac chiếm 45,6%, chi ưu thế là Polyporus 8%; thành phần địa lý các chi có Nhiệt đới, Á nhiệt đới 25,9%, trong đó thành phần địa lý loài Nhiệt đới 6 38,2%. Khi phân tích khu hệ, quan hệ đảo Hải Nam và Quảng Tây khá gần nhau, chứng tỏ chúng có mối quan hệ khá thân thuộc. Trong cuốn " Từ điển nấm học" xuất bản lần thứ 8, thừa nhận nấm Linh Chi phải được xếp thành bộ riêng ( Ganodermatales) và xếp thành 2 họ riêng : họ nấm Linh Chi (Ganodermataceae) và họ Linh Chi bào tử mào gà (Hadowiaceae) (Hawksworth et al.
Nhưng trong cuốn xuất bản lần thứ 9 và 10 vẫn thừa nhận nấm Linh Chi vẫn thuộc bộ nấm Lỗ ( Aphyllophorales) Hiện nay nhiều nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ và một số nước Đông Nam Á như Indonesia, Malaysia, Singapor đều chế biến Linh Chi thành thực phẩm và thuốc chữa bệnh. Về đặc điểm sinh thái học nấm Linh Chi không nhiều, căn cứ vào điều kiện nhiệt độ và lượng mưa, phân bố các loài nấm Linh Chi có thể chia ra 4 loại: (1) Loại nhiệt đới và Á nhiệt đới, những vùng này thích hợp với điều kiện nước ta nói chung và Ba Vì nói riêng. Đặc điểm của các vùng này là nhiệt độ cao, lượng mưa lớn, thời kỳ mưa kéo dài; đặc trưng của những loài này là nấm Linh Chi nhiệt đới ( Ganoderma tropicum) nấm Linh Chi ưa nóng (G. Những vùng ôn đới, nhiệt độ thấp hơn và lượng mưa ít hơn, hay ở những khu vực đỉnh cao của Ba Vì thường mọc các loài nấm Linh Chi ( G.
lucidum) và nấm Linh Chi tím ( G.Loài nấm lưỡi cây ( G. applanatum) phân bố rất rộng ở tất cả các độ cao phân bố vùng nhiệt đới và ôn đới. Về nghiên cứu thành phần hóa học và công dụng, tổng hợp nghiên cứu trên thế giới cho thấy: Polysaccharide có nguồn gốc từ Linh chi dùng điều trị ung thư đã được công nhận sáng chế (patent) ở Nhật. Năm 1976, công ty Kureha Chemical Industry sản xuất chế phẩm trích từ Linh chi có tác dụng kháng carcinogen.
Năm 1982, công ty Teikoko Chemical Industry sản xuất sản phẩm từ Linh chi có gốc glucoprotein làm chất ức chế neoplasm. Bằng 7 sáng chế Mỹ 4051314, do Ohtsuka & al. (1977), sản xuất từ Linh chi chất mucopolysaccharid dùng chống ung thư. Triterpenoid đặc biệt là acid ganoderic có tác dụng chống dị ứng, ức chế sự giải phóng histamin, tăng cường sử dụng oxy và cải thiện chức năng gan.
Hiện nay, đã tìm thấy trên 80 dẫn xuất từ acid ganoderic. Trong đó ganodosteron được xem là chất kích thích hoạt động của gan và bảo vệ gan. Ngoài ra nó còn có tác dụng điều hòa huyết áp, ức chế vón cục tiểu cầu, ức chế sinh tổng hợp cholesterol trong máu. Choi (1994), thì dịch chiết nước và methanol của quả thể Linh chi ức chế sự nhân lên của virus.
Hiệu quả còn nhận thấy trên tế bào lympho T của người nhiễm HIV-1. Phân đoạn hỗn hợp methanol (A) kháng virus rất mạnh. Các phân đoạn khác, như hexan (B), etyl acetat (C), trung tính (E), kiềm (G). đều có tác dụng kháng virus tốt.
[31] Phân tích thành phần nguyên tố của nấm Linh chi, còn phát hiện thấy có rất nhiều nguyên tố (khoảng 40), trong đó phải kể đến germanium. Germanium có liên quan chặt chẽ với hiệu quả lưu thông khí huyết, tăng cường chuyển vận oxy vào mô, đặc biệt là giảm bớt đau đớn cho người bệnh bị ung thư ở giai đoạn cuối. [31] Các thầy thuốc đã dùng Linh chi trong các chứng mệt mỏi, suy nhược, tiểu đường, các chứng bệnh về gan, và nhiều chứng thuộc hệ thống đề kháng của cơ thể. Theo Lý Thời Trân trong Bản Thảo Cương Mục thì Linh chi có tác dụng bổ tâm khí, chữa các chứng nhói ngực.
Hiện nay, Linh chi được để giảm áp huyết, kích thích sự làm việc của gan, tẩy máu, và giúp cơ thể chống lại các chứng lao lực quá độ. Trong một mức độ nào đó, Linh chi có tác dụng giải độc trong cơ thể. [6] - Công dụng của nấm Linh Chi 8 Theo các tài liệu cổ và những nghiên cứu khoa học gần đây, có thể tóm tắt tác dụng chủ yếu của Linh chi như sau: + Đối với hệ tim mạch: Nấm Linh chi có tác dụng điều hòa, ổn định huyết áp. Khi dùng cho người huyết áp cao, nấm Linh chi làm hạ huyết áp, dùng lâu thì huyết áp ổn định.
Với người suy nhược, huyết áp thấp, nấm Linh chi có tác dụng nâng huyết áp nhờ vào khả năng cải thiện, chuyển hóa dinh dưỡng. Nấm Linh chi làm giảm cholesterol toàn phần, làm tăng nhóm lipoprotein tỷ trọng cao trong máu, dùng tốt với những người bị xơ mỡ động mạch. Nấm Linh chi làm giảm khả năng kết tập tiểu cầu nên dùng được với những trường hợp co thắt mạch vành, nhờ vậy mà giảm được cơn đau thắt tim.