Tổng quan nghiên cứu

Bộ thú Ăn thịt (Carnivora) có thể trọng dưới 15 kg giữ vai trò mắt xích điều hòa quan trọng trong việc duy trì cấu trúc và chức năng của các hệ sinh thái rừng nhiệt đới. Tại Việt Nam, giới khoa học đã ghi nhận 24 loài thú ăn thịt nhỏ thuộc 3 họ chính, trong đó có 11 loài được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam và 9 loài thuộc Danh lục Đỏ của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN). Trước áp lực suy giảm nghiêm trọng của các loài thú ăn thịt lớn do nạn săn bắt và mất sinh cảnh, nhóm thú ăn thịt nhỏ trở thành sinh vật tiêu thụ bậc cao chi phối quần thể con mồi và hỗ trợ tái sinh thực vật rừng.

Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt tại tỉnh Nghệ An là vùng sinh thái trọng điểm thuộc dãy Trường Sơn Bắc, được UNESCO công nhận là vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An từ năm 2007. Mặc dù sở hữu diện tích rừng tự nhiên rộng lớn cùng đỉnh Pù Hoạt cao 2.452 m, các nghiên cứu trước đây tại khu bảo tồn hầu như chỉ dừng lại ở bước thống kê danh mục thành phần loài mà chưa có dữ liệu định lượng về sinh thái học quần thể.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống học thuật này. Mục tiêu nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá hiện trạng phân bố, xác định mật độ và kích thước quần thể, đồng thời phân tích cơ chế lựa chọn sinh cảnh sống của các loài thú ăn thịt nhỏ tại khu vực rừng xã Thông Thụ thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt trong mùa Hè - Thu năm 2020. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng cho diện tích hơn 10.000 ha rừng đặc dụng, làm căn cứ khoa học trực tiếp phục vụ công tác quy hoạch phân khu bảo tồn và quản lý bền vững tài nguyên sinh vật.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của ba nền tảng lý thuyết sinh thái học hiện đại:

  • Lý thuyết sinh thái học quần thể (Population Ecology Theory): Khung lý thuyết của Odum và Anderson về các đặc trưng định lượng của quần thể động vật hoang dã, bao gồm mật độ cá thể, kích thước quần thể, cấu trúc không gian và khả năng thích nghi với biến động môi trường.
  • Lý thuyết ổ sinh thái không gian và tập tính lựa chọn sinh cảnh (Spatial Niche and Habitat Selection Theory): Cung cấp khung phân tích về mối quan hệ giữa các nhân tố sinh thái với xu hướng ưa thích, ngẫu nhiên hoặc lẩn tránh sinh cảnh của động vật hoang dã.
  • Khung lý thuyết quản lý và bảo tồn động vật hoang dã (Wildlife Conservation Management Framework): Mô hình vận hành quần thể và môi trường sống của Ma và cộng sự, định hướng các can thiệp kỹ thuật lâm nghiệp nhằm duy trì quy mô loài quý hiếm.

Các khái niệm then chốt trong luận văn bao gồm: Quần thể động vật hoang dã, Ổ sinh thái không gian, Tập tính lựa chọn sinh cảnh và Mật độ tương đối.

Phương pháp nghiên cứu

  • Nguồn dữ liệu và quy mô khảo sát: Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua 17 tuyến điều tra thực địa với tổng chiều dài 49,75 km, tiêu tốn 75,56 giờ quan sát; kết hợp hệ thống 15 bẫy ảnh tự động Wildgame Model TR8ix (độ phân giải 8.0 megapixel) đặt tại khu vực khe Nậm Cân và 15 bẫy lồng thép (kích thước 40x40x60 cm) tại khe Huổi Tang và khe Nậm Binh. Ngoài ra, tác giả phỏng vấn sâu 34 người dân địa phương tại 7 bản làng ven rừng và thiết lập 85 ô mẫu tiêu chuẩn (kích thước 10x10 m), gồm 29 ô mẫu ghi nhận vết tích thú và 56 ô đối chứng ngẫu nhiên.
  • Phương pháp chọn mẫu: Tuyến điều tra được bố trí đại diện cắt ngang 4 kiểu thảm thực vật đặc trưng theo dải đai cao từ 263 m đến 1.087 m. Bẫy ảnh và bẫy lồng được đặt tại các điểm có nguồn thức ăn, mó nước uống hoặc đường mòn tự nhiên nhằm tối ưu hóa xác suất bắt gặp các loài thú hoạt động về đêm.
  • Phương pháp phân tích dữ liệu: Tác giả áp dụng công thức của Vanderloeg và Scavia để tính toán hệ số lựa chọn (Wij) và chỉ số lựa chọn (Eij) đối với 12 yếu tố hoàn cảnh. Phương pháp phân tích thành phần chính (PCA) trên phần mềm SPSS 18 được sử dụng cho 9 biến số định lượng nhằm xác định các nhân tố sinh thái chi phối mạnh nhất. Kích thước quần thể được ước tính dựa trên mật độ dải tuyến với chiều rộng quan sát 20 m (tương ứng diện tích vùng mẫu 99,5 ha, chiếm 0,961% diện tích rừng xã Thông Thụ). Timeline nghiên cứu thực địa hoàn thành trọn vẹn trong giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 9 năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã mang lại 4 nhóm kết quả định lượng nổi bật về hiện trạng khu hệ thú ăn thịt nhỏ tại khu vực khảo sát:

  • Thứ nhất, xác nhận chắc chắn sự hiện diện thực tế của 8 loài thú ăn thịt nhỏ tại xã Thông Thụ thông qua 29 lần ghi nhận trực tiếp và gián tiếp với tổng số 44 cá thể. Các loài bao gồm: Cầy vòi đốm, Cầy vòi mốc, Cầy giông, Cầy gấm, Cầy móc cua, Chồn bạc má bắc, Rái cá vuốt bé và Lửng lợn.
  • Thứ hai, xác định mật độ và quy mô quần thể cụ thể. Mật độ quần thể bình quân của nhóm thú ăn thịt nhỏ đạt khoảng 0,44 cá thể/ha, tương ứng tổng kích thước ước tính toàn xã Thông Thụ là 4.584 cá thể. Trong đó, Rái cá vuốt bé đạt mật độ cao nhất với 0,171 cá thể/ha (ước tính 1.769 cá thể, chiếm 38,59% tổng đàn), tiếp đến là Chồn bạc má bắc và Cầy vòi mốc đều đạt 0,060 cá thể/ha (mỗi loài ước tính 625 cá thể, chiếm 13,63%). Cầy gấm có mật độ thấp nhất với 0,010 cá thể/ha (ước tính 105 cá thể, chiếm 2,29%).
  • Thứ ba, ghi nhận sự khác biệt rõ nét về mật độ tương đối trên tuyến điều tra. Rái cá vuốt bé đạt tần suất bắt gặp 0,121 lần/km và hiệu suất tìm kiếm 0,079 lần/giờ; Chồn bạc má bắc đạt tần suất 0,101 lần/km và hiệu suất 0,066 lần/giờ; trong khi Cầy móc cua và Cầy vòi mốc có tần suất thấp nhất là 0,040 lần/km và hiệu suất 0,026 lần/giờ.
  • Thứ tư, làm rõ quy luật lựa chọn sinh cảnh sống. Thú ăn thịt nhỏ rất ưa thích đai cao dưới 400 m và trên 800 m, sườn dốc hướng Đông (Ei = 0,053) và hướng Nam (Ei = 0,141), vị trí chân núi (Ei = 0,218), cự ly gần nguồn nước dưới 200 m (Ei = 0,144) và độ tàn che tán rừng từ 40% đến trên 80%. Ngược lại, chúng thể hiện tập tính lẩn tránh rõ rệt đối với khu vực cách xa nguồn nước trên 400 m (Ei = -0,095) và vùng quá gần khu dân cư dưới 1.500 m.

Thảo luận kết quả

Mật độ vượt trội của Rái cá vuốt bé (chiếm gần 39% tổng số cá thể ghi nhận) xuất phát từ đặc tính sinh thái sống theo bầy đàn từ 2 đến 4 cá thể, gắn liền với mạng lưới sông suối dày đặc như lưu vực sông Chu, khe Nậm Cân và khe Nậm Binh. Ngược lại, các loài như Cầy gấm và Cầy móc cua có mật độ thấp do tập tính sống đơn độc, vùng hoạt động rộng và chịu sức ép cạnh tranh sinh cảnh.

So sánh với các mốc khảo sát lịch sử (ghi nhận 7 loài năm 1997, 11 loài năm 2000 và 15 loài năm 2009), công trình này đã bổ sung minh chứng thực địa sống động rằng hệ sinh thái Pù Hoạt vẫn duy trì được quần thể thú ăn thịt nhỏ ổn định dù vùng đệm có 73 thôn bản với hơn 44.000 nhân khẩu. Phân tích PCA chỉ ra rằng cự ly đến nguồn nước, độ tàn che và khoảng cách đến khu dân cư là ba trục thành phần chính quyết định việc chiếm lĩnh ổ sinh thái.

Dữ liệu nghiên cứu này có thể được biểu diễn trực quan thông qua biểu đồ cột so sánh mật độ cá thể giữa các loài, kết hợp biểu đồ tròn thể hiện tỷ lệ cơ cấu quần thể và biểu đồ phân tán PCA Biplot hai chiều nhằm mô tả sự tương tác giữa 12 yếu tố hoàn cảnh và tập tính phân bố loài.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo tồn bền vững các quần thể thú ăn thịt nhỏ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và quản lý cụ thể:

  • Quy hoạch phân khu bảo tồn nghiêm ngặt: Thiết lập 2 khu vực ưu tiên bảo tồn trọng điểm tại lưu vực khe Nậm Cân (phía Bắc xã Thông Thụ) và hệ thống khe Huổi Tang - Nậm Binh (phía Nam xã Thông Thụ) với tổng quy mô giám sát trên 5.000 ha rừng nguyên sinh. Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt chủ trì thực hiện cắm mốc ranh giới sinh cảnh trong giai đoạn 2021 - 2023.
  • Nâng cao hiệu lực tuần tra và kiểm soát bẫy bắt: Tăng cường 100% tần suất tuần tra định kỳ hàng tháng dọc theo 17 tuyến đường mòn truyền thống; đặt mục tiêu tháo gỡ và triệt phá trên 80% số lượng bẫy dây, bẫy kẹp kim loại trong vòng 12 tháng. Hạt Kiểm lâm Pù Hoạt phối hợp cùng Công an xã và lực lượng dân quân tự vệ địa phương triển khai thực hiện thường xuyên.
  • Phát triển sinh kế gắn với giao khoán bảo vệ rừng: Mở rộng chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng cho hơn 9.600 hộ dân tại 9 xã vùng đệm, duy trì ổn định độ che phủ rừng trên 86% và bảo vệ dải đệm xanh cách khu dân cư tối thiểu 1.500 m. Ủy ban nhân dân huyện Quế Phong phối hợp Ban quản lý Khu bảo tồn triển khai đồng bộ từ năm 2022 đến 2025.
  • Thiết lập hệ thống quan trắc đa dạng sinh học tự động: Duy trì mạng lưới 30 trạm bẫy ảnh tự động cố định để giám sát liên tục diễn thế quần thể của các loài nguy cấp như Cầy gấm, Cầy vằn bắc và Rái cá vuốt bé theo chu kỳ 6 tháng một lần. Phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế thuộc Khu bảo tồn chịu trách nhiệm thực hiện liên tục trong 5 năm tiếp theo.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia: Cung cấp phương pháp luận và quy trình mẫu về việc ứng dụng bẫy ảnh, điều tra tuyến và phân tích ổ sinh thái để xây dựng phương án quản lý rừng đặc dụng bền vững trên quy mô từ 5.000 ha đến 10.000 ha.
  • Cán bộ nghiên cứu, giảng viên chuyên ngành Lâm nghiệp và Môi trường: Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng định lượng gồm 85 ô tiêu chuẩn sinh thái và phương pháp xử lý thống kê PCA trên phần mềm SPSS, phục vụ công tác giảng dạy chuyên sâu về sinh thái học động vật rừng.
  • Học viên cao học và sinh viên ngành Quản lý tài nguyên, Bảo tồn đa dạng sinh học: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về cấu trúc đề tài thạc sĩ, phương pháp lượng hóa 12 yếu tố hoàn cảnh và kỹ năng thực hiện điều tra thực địa trong điều kiện địa hình phức tạp.
  • Các tổ chức phi chính phủ và quỹ bảo tồn quốc tế (IUCN, CI, WWF): Sử dụng nguồn dữ liệu cập nhật về 8 loài thú quý hiếm làm căn cứ thẩm định hồ sơ tài trợ, xây dựng dự án bảo tồn loài nguy cấp tại khu vực hành lang đa dạng sinh học Bắc Trường Sơn.

Câu hỏi thường gặp

  • Câu hỏi 1: Luận văn đã xác nhận chính xác bao nhiêu loài thú ăn thịt nhỏ hiện diện tại khu vực nghiên cứu? Trả lời: Qua 17 tuyến điều tra thực địa kết hợp bẫy ảnh và bẫy lồng, nghiên cứu đã xác thực sự có mặt chắc chắn của 8 loài thú ăn thịt nhỏ tại xã Thông Thụ, bao gồm Cầy vòi đốm, Cầy vòi mốc, Cầy giông, Cầy gấm, Cầy móc cua, Chồn bạc má bắc, Rái cá vuốt bé và Lửng lợn trong tổng số 24 loài của cả nước.
  • Câu hỏi 2: Loài thú ăn thịt nhỏ nào chiếm số lượng cá thể lớn nhất tại xã Thông Thụ? Trả lời: Rái cá vuốt bé chiếm số lượng lớn nhất với mật độ đạt 0,171 cá thể/ha và quy mô quần thể ước tính khoảng 1.769 cá thể. Điều này xuất phát từ tập tính sinh hoạt theo bầy đàn gia đình từ 2 đến 4 con dọc theo hệ thống sông Chu và các nhánh khe suối tự nhiên.
  • Câu hỏi 3: Những yếu tố sinh thái nào chi phối mạnh nhất đến việc lựa chọn nơi ở của thú ăn thịt nhỏ? Trả lời: Phân tích thành phần chính PCA chỉ ra rằng khoảng cách đến nguồn nước dưới 200 m, độ tàn che tán rừng trên 40% và khoảng cách an toàn cách xa khu dân cư trên 1.500 m là 3 yếu tố mang tính quyết định, giúp thú đảm bảo thức ăn và giảm thiểu nguy cơ bị con người tác động.
  • Câu hỏi 4: Quy mô sử dụng bẫy ảnh và bẫy lồng trong luận văn được tiến hành như thế nào? Trả lời: Tác giả đã lắp đặt 15 bẫy ảnh cảm biến hồng ngoại Wildgame TR8ix tại khe Nậm Cân và 15 bẫy lồng thép kích thước 40x40x60 cm tại khe Huổi Tang và khe Nậm Binh, ghi nhận thành công 1 cá thể Chồn bạc má bắc cùng hàng chục bức ảnh giá trị về các loài Cầy quý hiếm.
  • Câu hỏi 5: Giá trị thực tiễn lớn nhất mà luận văn đóng góp cho công tác bảo tồn là gì? Trả lời: Công trình đã định lượng hóa thành công mật độ và kích thước quần thể cho từng loài trên diện tích 99,5 ha mẫu, tạo tiền đề khoa học vững chắc để Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt thiết lập 2 phân khu bảo tồn nghiêm ngặt với diện tích trên 5.000 ha.

Kết luận

  • Xác thực sự hiện diện của 8 loài thú ăn thịt nhỏ quý hiếm tại xã Thông Thụ thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt.
  • Ước tính tổng kích thước quần thể đạt 4.584 cá thể, trong đó Rái cá vuốt bé chiếm tỷ trọng cao nhất với 1.769 cá thể (khoảng 38,6%).
  • Xác định mô hình sinh cảnh ưa thích điển hình: Đai cao dưới 400 m và trên 800 m, cự ly nguồn nước dưới 200 m và độ tàn che tán rừng từ 40% trở lên.
  • Xây dựng thành công cơ sở dữ liệu định lượng từ 17 tuyến điều tra dài 49,75 km, 85 ô tiêu chuẩn và hệ thống bẫy ảnh hồng ngoại.
  • Đề xuất hệ thống 4 giải pháp quản lý đồng bộ, trọng tâm là khoanh vùng bảo tồn nghiêm ngặt và kiểm soát bẫy bắt trái phép.

Luận văn đã đóng góp nguồn dữ liệu sinh thái học quần thể định lượng đầu tiên cho nhóm thú ăn thịt nhỏ tại khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An. Kế hoạch tiếp theo trong giai đoạn 2021 - 2025 cần tiếp tục mở rộng phạm vi điều tra sang 8 xã còn lại của khu bảo tồn và duy trì trạm bẫy ảnh quan trắc định kỳ. Các nhà quản lý lâm nghiệp và nhà khoa học bảo tồn hãy cùng khai thác kết quả nghiên cứu này để xây dựng những chính sách bảo vệ động vật hoang dã kịp thời và hiệu quả.