Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa những vấn đề liên quan đến nghiên cứu 1. Quần thể và những đặc trưng của quần thể động vật hoang dã Quần thể là một nhóm cá thể của một loài (có thể trao đổi thông tin di truyền và sinh ra thế hệ hữu thụ) sống trong một khoảng không gian xác định; có những đặc điểm sinh thái đặc trưng của nhóm, chứ không phải của từng cá thể riêng biệt (Odum, 1971). Quần thể động vật là hình thức tồn tại của loài động vật trong những điều kiện môi trường cụ thể.
Mỗi quần thể động vật có một cấu trúc, cách thức tổ chức riêng; để đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển của chúng trong một điều kiện môi trường nào đó. Bởi vậy, mỗi quần thể động vật đều có những đặc điểm sinh thái học đặc trưng như: mật độ, kích thước, thành phần tuổi, thành phần giới tính, tỉ lệ sinh, tỉ lệ tử, kiểu phân bố trong không gian và kiểu tăng trưởng (Anderson, 1985). Ổ sinh thái không gian, sinh cảnh và tập tính lựa chọn sinh cảnh sống của động vật hoang dã Ổ sinh thái không gian (hay sinh cảnh lý tưởng) là không gian sinh thái mà ở đó tất cả các nhân tố sinh thái của môi trường nằm trong giới hạn sinh thái quy định sự tồn tại và phát triển lâu dài của một loài động vật hoang dã nào đó. Sinh cảnh hay nơi ở là không gian cư trú của động vật hoang dã, và có thể chứa nhiều ổ sinh thái khác nhau của các loài khác nhau (Odum, 1971; Anderson, 1985).
Tập tính lựa chọn sinh cảnh sống là chỉ sự lựa chọn hoặc sở thích của động vật với kiểu địa điểm/nơi sinh sống (Anderson, 1985). Hiển nhiên, mọi loài động vật đều chỉ có thể sinh sống ở trong phạm vi không gian nhất định của môi trường. Nhưng trạng thái phân bố hiện thực của mỗi loài động vật là 4 thông qua quá trình như thế nào mà hoàn thành, các nhà sinh thái học mới giải thích được cho rất ít loài; hiện tại mới dừng lại ở lý giải mối quan hệ giữa lựa chọn của một loài động vật nào đó đối với một số sinh cảnh chúng cư trú. Quản lý động vật hoang dã và quản lý để bảo tồn động vật hoang dã Quản lý động vật hoang dã là sự vận hành các quần thể động vật và môi trường sống của chúng, cùng với những tương tác giữa hai yếu tố này, để đạt được một mục tiêu đã xác định trước (Ma et al, 2014).
Một số mục tiêu thường được xác định trong công tác quản lý động vật hoang dã gồm: săn bắt thể thao, phục vụ loại hình du lịch xem ngắm động vật, bảo tồn động vật quý hiếm, phòng trừ động vật gây hại. Đối với các loài động vật hoang dã quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng thì mục tiêu trước mắt sẽ là bảo tồn; lúc này mọi hoạt động can thiệp của nhà quản lý đều hướng tới duy trì và phát triển số lượng của loài động vật. Nhiệm vụ này đòi hỏi sự hiểu biết cả mặt khoa học lẫn nghệ thuật; khi thực hiện quản lý không những quan tâm đến các quần thể động vật và sinh cảnh sống của chúng, còn phải quan tâm đến công tác tuyên truyền giáo dục để cộng đồng xã hội quan tâm ủng hộ sự nghiệp bảo tồn đối tượng loài động vật hoang dã (Ma et al, 2014). Tổng quan về thú ăn thịt nhỏ trên thế giới và ở Việt Nam Thú ăn thịt nhỏ (small Carnivore) trong nghiên cứu này chỉ các loài thú thuộc 3 họ (họ Chồn - Mustelidae, họ Cầy - Viverridae và họ Cầy lỏn - Herpestidae) của bộ thú Ăn thịt (Carnivora), có thể trọng dưới 15 kg (Schreiber et al.
Cầy mực không được tính vì có trọng lượng của cá thể trưởng thành trên 15 kg. Các loài thú trong các họ Thú ăn thịt khác tuy có kích thước nhỏ (thể trọng có thể nhỏ hơn 15 kg) cũng không được bàn đến trong nghiên cứu này. Trên toàn cầu 3 họ thú ăn thịt nhỏ rất đa dạng về thành phần loài. Họ Cầy (Viverridae) có tới 33 loài thuộc 23 giống, 4 phân họ đã được mô tả 5 (Schreiber et al.
Họ Cầy lỏn (Herpestidae) có 37 loài trong 13 giống; trong khi đó họ Chồn (Mustelidae) có tới 65 loài thuộc 23 giống, 2 phân họ (Nowark, 2005). Đến nay, ở Việt Nam đã mô tả được 24 loài thú ăn thịt nhỏ; trong đó họ Cầy (Viverridae) có 4 phân họ với 9 giống, 11 loài; họ Chồn (Mustelidae) có 2 phân họ, 7 giống, 11 loài; họ Cầy lỏn (Herpestidae) chỉ có 01 giống, 2 loài (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009). Trong 24 loài thú ăn thịt nhỏ có phân bố tự nhiên ở Việt Nam; 9 loài có tên trong Sách đỏ IUCN, 11 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam, trong đó loài Cầy rái cá (Cynogale bennetti) đã bị tuyệt chủng (EX), 13 loài có tên trong phụ lục của NĐ 06/2019 và 4 loài có tên trong phụ lục của NĐ160/2013 (Bảng 1. Danh lục thú ăn thịt nhỏ ở Việt Nam Tên loài Tình trạng bảo tồn TT SĐT SĐV NĐ0 NĐ1 loài Tên phổ thông Tên khoa học G N 6 60 I.
Họ Cầy Viverridae I. Phân họ Paradoxurinae Arctogalidia trivirgata 1 Cầy tai trắng LR IIB (Gray, 1832) 2 Cầy vòi mốc Paguma larvata (Smith, 1827) IIB Paradoxurus hermaphroditus 3 Cầy vòi đốm IIB (Pallas, 1777) I. Phân họ Hemigalinae Chrotogale owstoni Thomas, 4 Cầy vằn bắc EN VU IIB 1912 6 Tên loài Tình trạng bảo tồn TT SĐT SĐV NĐ0 NĐ1 loài Tên phổ thông Tên khoa học G N 6 60 Hemigalus derbyanus 5 Cầy vằn nam NT DD (Gray, 1837) 6 Cầy rái cá Cynogale bennetti Gray, 1837 EN EX I. Phân họ Prionodontinae Prionodon pardicolor 7 Cầy gấm VU IB Hogdson, 1842 I.
Phân họ Viverrinae 8 Cầy giông sọc Viverra megaspila Blyth, 1862 EN VU IIB Cầy giông tây Viverra tainguensis Socolov, 9 VU nguyên Rozhenov, Pham T A, 1997 10 Cầy giông Viverra zibetha Linnaeus, 1758 IIB Viverricula indica 11 Cầy hương IIB (Geoffroy Saint- Hilaire, 1803) II. Họ Cầy lỏn Herpestidae Herpestes javanicus 12 Cầy lỏn tranh (Geoffroy Saint- Hilaire, 1818) Herpestes urva 13 Cầy móc cua (Hogdson, 1836) III. Họ Chồn Mustelidae III. Phân họ Lutrinae 7 Tên loài Tình trạng bảo tồn TT SĐT SĐV NĐ0 NĐ1 loài Tên phổ thông Tên khoa học G N 6 60 14 Rái cá vuốt bé Aonyx cinerea (Illiger, 1815) VU VU IB Có 15 Rái cá thường Lutra lutra (Linnaeus, 1758) NT VU IB Có Rái cá lông 16 Lutra sumatrana (Gray, 1865) EN EN IB Có mũi Rái cá lông Lutrogale perspicillata 17 VU EN IB Có mượt (Geoffroy Saint- Hilaire, 1826) III.
Phân họ Mustelinae Arctonyx collaris F. Cuvier, 18 Lửng lợn VU 1825 19 Chồn vàng Martes flavigula (Boddaert, 1785) Chồn bạc Melogale moschata 20 má bắc (Gray, 1831) Chồn bạc Melogale personata Geoffroy 21 má nam Saint - Hilaire, 1831 Triết bụng Mustela kathiah Hogdson, 22 vàng 1835 Triết bụng 23 Mustela nivalis Linnaeus, 1766 trắng 24 Triết chỉ lưng Mustela strigidorsa Gray, 1853 IIB Tổng 9 11 13 4 8 Chú giải: SĐTG - Sách Đỏ thế giới của IUCN, 2020; SĐVN - Sách Đỏ Việt Nam, 2007 (EX - Tuyệt chủng; EN - Nguy cấp; VU - Sẽ nguy cấp, NT - Gần bị đe dọa; LR - Đe dọa thấp; DD - Thiếu dẫn liệu); NĐ06 - Nghị định 06/2019/NĐ-CP về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (IB - Động vật rừng nghiêm cấm khai thác sử dụng và thuộc PL1 của CITES, IIB - Động vật rừng hạn chế khai thác sử dụng và thuộc PL2 của CITES); NĐ160 - Nghị định 160/2013/NĐ-CP về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (Có - Có tên trong phụ lục của Nghị định). Lược sử nghiên cứu thú ăn thịt nhỏ tại KBTTN Pù Hoạt Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt được thành lập nhằm bảo tồn các hệ sinh thái và các loài động thực vật đặc trưng cho vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam. Không chỉ có giá trị đa dạng sinh học; Pù Hoạt còn có vai trò quan trọng trong phòng hộ đầu nguồn sông Hiếu (Nghệ An), sông Chu (Thanh Hóa), cũng như là nguồn sinh thủy của các thủy điện: Hủa Na, Sao Va, Bản Mòng, Cửa Đạt.
KBTTN Pù Hoạt cũng là một trong ba khu rừng đặc dụng nằm trong khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An, được Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) công nhận ngày 20/09/2007. Năm 1997, trong báo cáo khảo sát xây dựng dự án đầu tư thành lập KBTTN Pù Hoạt đã ghi nhận có 45 loài thú thuộc 16 họ và 6 bộ; trong đó có 7 loài thú ăn thịt nhỏ, gồm: Chồn bạc má bắc - Melogale moschata, Lửng lợn - Arctonyx collaris, Cầy giông - Viverra zibetha, Cầy hương - Viverricula indica, Cầy vòi đốm - Paradoxorus hermaphroditus, Cầy vòi mốc - Paguma larvata và Cầy móc cua - Herpestes urva (Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, 1997). Năm 2000, Chương trình nghiên cứu rừng của Frontier Việt Nam đã điều tra tại vùng rừng Pù Hoạt và ghi nhận được 61 loài thú; trong đó bổ sung thêm 4 loài thú ăn thịt nhỏ (Chồn vàng, Rái cá thường, Cầy vằn bắc và Cầy 9 lỏn), nâng số loài thú ăn thịt nhỏ trong KBTTN Pù Hoạt lên 11 loài (Osborn et al, 2000). Năm 2009 - 2010, với sự hỗ trợ kinh phí của tổ chức bảo tồn quốc tế (CI), Nguyễn Đức Lành đã lựa chọn điều tra khu hệ thú KBTTN Pù Hoạt cho đề tài luận văn thạc sĩ của mình; kết quả đã thống kê và ghi nhận được 96 loài thú; trong đó bổ sung thêm 4 loài thú ăn thịt nhỏ (gồm: Triết chỉ lưng, Triết bụng vàng, Cầy giông sọc và Cầy gấm), nâng tổng số loài thú ăn thịt nhỏ ở KBTTN Pù Hoạt lên 15 loài (Lê Vũ Khôi và cộng sự, 2009).
Từ năm 2010 đến nay, chưa có báo cáo mang tính chất nghiên cứu nào về khu hệ thú ở KBTTN Pù Hoạt. Như vậy, các đợt điều tra nghiên cứu về thú ăn thịt nhỏ tại KBTTN Pù Hoạt mới dừng lại ở việc thống kê thành phần loài. Chưa có báo cáo nghiên cứu nào tiếp cận nghiên cứu sinh thái học quần thể các loài thú ăn thịt nhỏ. Đặc điểm cơ bản của khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt nằm ở chóp Tây Bắc của tỉnh Nghệ An; cách thành phố Vinh khoảng 150 km về phía Tây Bắc, cách quốc lộ 1B (đường Hồ Chí Minh) theo đường 48 đi vào từ thị xã Thái Hòa khoảng 75 km.
Khu bảo tồn trải dài từ 19027'46” đến 19059’55” vĩ độ Bắc và từ 104037’46’’ đến 105011’11” kinh độ Đông.